Trang Chính

Trang Các Bản Dịch Mới

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT tập 04

 

ĐẠI PHẨM tập I

ẤN BẢN 2013

Người Dịch: Tỳ khưu Indacanda

(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TỤNG PHẨM THỨ NĂM

 

1. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu không có thầy tế độ, trong khi không được giáo huấn và không được chỉ dạy nên mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực. Trong khi dân chúng đang ăn, các vị đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn loại cứng, các vị đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức uống, các vị c̣n tự ḿnh yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn.

 

2. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực? Trong khi dân chúng đang ăn các vị lại đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị lại đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn loại cứng, các vị lại đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị lại đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức uống, các vị c̣n tự ḿnh yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn giống như các Bà-la-môn trong bữa ăn của các Bà-la-môn vậy?”

 

3. Các tỳ khưu đă nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các vị tỳ khưu lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực? Trong khi dân chúng đang ăn, các vị lại đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị lại đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn loại cứng, các vị lại đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị lại đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức uống, các vị c̣n tự ḿnh yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn vậy?” Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

 

4. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lư do ấy nhân sự kiện ấy đă triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và hỏi các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, nghe nói các tỳ khưu mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực? Trong khi dân chúng đang ăn, các vị đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn loại cứng, các vị đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức uống, các vị c̣n tự ḿnh yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn, có đúng không vậy?”

 

5. - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho những kẻ rồ dại ấy, thật không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này các tỳ khưu, v́ sao những kẻ rồ dại ấy lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực? Trong khi dân chúng đang ăn, các vị lại đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị lại đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn loại cứng, các vị lại đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn có hương vị, các vị lại đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức uống, các vị c̣n tự ḿnh yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đă có đức tin. Này các tỳ khưu, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đă có đức tin.”

 

6. Sau đó, khi đă khiển trách các vị tỳ khưu ấy bằng nhiều phương thức, đức Thế Tôn đă chê trách về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, sự khó khăn trong việc ăn uống, sự tầm cầu quá nhiều, sự không biết đủ, sự kết phe nhóm, sự biếng nhác; và bằng nhiều phương thức ngài đă ngợi khen về sự dễ dàng trong việc cấp dưỡng, sự dễ dàng trong việc ăn uống, sự ít tầm cầu, sự biết đủ, sự từ khước, sự tiết chế, sự hài ḥa, sự đoạn giảm, sự ra sức tinh tấn. Ngài đă nói Pháp thoại thích đáng và phù hợp cho các tỳ khưu rồi bảo các tỳ khưu rằng:

 

- “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị thầy tế độ. Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ sẽ gợi lên ở người đệ tử [1] tâm của người con và người đệ tử sẽ gợi lên ở vị thầy tế độ tâm của người cha. Như thế, trong khi sống cùng nhau có sự tôn kính, có sự phục tùng, có sự cư xử hài ḥa với nhau, họ sẽ đạt đến sự lớn mạnh, sự tăng trưởng, sự phát triển trong Pháp và Luật này.

 

Và này các tỳ khưu, vị thầy tế độ nên được xác định như vầy: (Người đệ tử) nên đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: “Bạch ngài, xin ngài hăy là thầy tế độ của con. Bạch ngài, xin ngài hăy là thầy tế độ của con. Bạch ngài, xin ngài hăy là thầy tế độ của con.” (Vị thầy tế độ nên nói rằng): “Tốt rồi!” hay là “Được nhẹ nhàng rồi!” hay là “Đúng rồi!” hay là “Được phù hợp rồi!” hay là “Hăy được thành tựu sự hoan hỷ!” (Nếu) vị (thầy tế độ) bày tỏ bằng thân, bày tỏ bằng lời nói, bày tỏ bằng thân và lời nói, th́ vị thầy tế độ đă được xác định. (Nếu) vị ấy không bày tỏ bằng thân, không bày tỏ bằng lời nói, không bày tỏ bằng thân và lời nói, vị thầy tế độ đă không được xác định.

 

9. Này các tỳ khưu, người đệ tử nên thực hành phận sự đúng đắn đối với vị thầy tế độ. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này: Nên thức dậy vào lúc sáng sớm, cởi dép ra, đắp thượng y một bên vai, rồi nên dâng gỗ chà răng, nên dâng nước súc miệng, và nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa sạch tô rồi đem cháo lại. Khi thầy đă uống cháo xong, nên dâng nước, nên nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất.

 

10. Khi thầy tế độ đă đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác th́ nên quét khu vực ấy. Nếu thầy tế độ có ư định đi vào làng, nên trao y lót trong, và nhận lại y lót trong (đă thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi dâng lên. Nên trao b́nh bát c̣n đẫm nước sau khi đă rửa sạch. Nếu thầy tế độ muốn có thị giả đi theo, (người đệ tử) nên mặc y nội tṛn đều với sự che phủ ba ṿng tṛn, buộc dây thắt lưng, gấp y hai lớp thành nếp rồi đắp lên, thắt lại dây buộc, rửa và ôm lấy b́nh bát, rồi nên đi theo làm thị giả cho thầy tế độ. Không nên đi quá xa, không nên đi quá gần. Nên nhận lấy b́nh bát được (vị thầy) hoán đổi.

 

11. Khi thầy tế độ đang nói, không nên cắt ngang lời nói nửa chừng. Khi thầy tế độ có khả năng phạm tội lúc đang nói th́ nên ngăn lại. Khi quay trở về, nên đi về trước tiên và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên đi ra rước y và b́nh bát. Nên trao y lót trong (trước đây) và nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên phơi y ở chỗ nắng quá lâu. Nên gấp y lại. Khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): “Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.”[2] Nên đặt dây thắt lưng ở bên trong phần gấp lại.

 

12. Nếu có đồ ăn khất thực và thầy tế độ có ư muốn thọ dụng th́ nên dâng nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ư thầy tế độ về nước uống. Khi thầy ăn xong nên dâng nước (rửa), nên nhận lại b́nh bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên phơi b́nh bát ở chỗ nắng quá lâu. Nên đem cất y và b́nh bát. Trong khi đặt b́nh bát xuống, nên dùng một tay ôm b́nh bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt b́nh bát xuống. Và không nên đặt b́nh bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, c̣n chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.

 

13. Khi thầy tế độ đă đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác th́ nên quét khu vực ấy. Nếu thầy tế độ có ư muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.

 

14. Nếu thầy tế độ có ư muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi rồi đi đến từ phía sau lưng và trao ghế ngồi của nhà tắm hơi cho thầy tế độ, nên nhận lấy y và để ở một bên, nên trao bột tắm, nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên đắp lên cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lăo rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho thầy tế độ. Khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi.

 

15. Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho thầy tế độ. Khi tắm xong nên đi ra trước, lau khô nước ở thân thể của ḿnh, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của thầy tế độ. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ư thầy tế độ về nước uống. Nếu có ư muốn thỉnh (thầy) đọc tụng, nên thỉnh (thầy) đọc tụng. Nếu có ư muốn vấn đạo, nên thỉnh (thầy) vấn đạo.

 

16. Ở trú xá nào thầy tế độ cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác rến, nếu có nỗ lực th́ nên làm sạch sẽ. Khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc.

 

17. Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc. Nếu có mạng nhện ở trú xá, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu phần nền không được thực hiện, nên rải nước rồi quét (nghĩ rằng): “Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.”

 

18. Sau khi gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc. Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa, và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa, và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.

 

19. Nên đem cất y và b́nh bát. Trong khi đặt b́nh bát xuống, nên dùng một tay ôm b́nh bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt b́nh bát xuống. Không nên đặt b́nh bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, c̣n chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.

 

20. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.

 

21. Nếu pḥng có rác rến, nên quét pḥng. Nếu cổng có rác rến, nên quét cổng. Nếu pḥng hội họp có rác rến, nên quét pḥng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác rến, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác rến, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.

 

22. Nếu sự bực bội sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu nỗi ân hận sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu tà kiến sanh khởi ở thầy tế độ, người đệ tử nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy.

 

23. Nếu thầy tế độ bị phạm tội nặng xứng đáng hành phạt parivāsa, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt parivāsa cho thầy tế độ?”

 

24. Nếu thầy tế độ xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể cho thầy tế độ (thực hành) trở lại từ đầu?”

 

25. Nếu thầy tế độ xứng đáng hành phạt mānatta, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt mānatta cho thầy tế độ?”

 

26. Nếu thầy tế độ xứng đáng sự giải tội, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho thầy tế độ?”

 

27. Nếu hội chúng có ư định tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc ḥa giải, hoặc án treo đối với thầy tế độ, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi tiến hành hành sự đối với thầy tế độ, hoặc đổi thành nhẹ hơn?” Khi hội chúng đă tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc ḥa giải, hoặc án treo đối với thầy tế độ, người đệ tử nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thầy tế độ có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?”

 

28. Nếu y của thầy tế độ cần phải giặt, người đệ tử nên giặt hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy tế độ được giặt?” Nếu y của thầy tế độ cần phải may, người đệ tử nên may hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy tế độ được may?” Nếu thuốc nhuộm của thầy tế độ cần phải nấu, người đệ tử nên nấu hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thuốc nhuộm của thầy tế độ được nấu?” Nếu y của thầy tế độ cần phải nhuộm, người đệ tử nên nhuộm hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy tế độ được nhuộm?” Trong khi nhuộm y, nên nhuộm bằng cách đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng.

 

29. Không có phép của thầy tế độ, không nên cho b́nh bát đến người khác, không nên thọ lănh b́nh bát của người khác, không nên cho y đến người khác, không nên thọ lănh y của người khác, không nên cho vật dụng đến người khác, không nên thọ lănh vật dụng của người khác, không nên cạo tóc cho người khác, không nên bảo người khác cạo tóc, không nên kỳ cọ người khác, không nên bảo người khác kỳ cọ, không nên hầu hạ người khác, không nên bảo người khác hầu hạ, không nên làm thị giả người khác, không nên nhận người khác làm thị giả, không nên mang đồ ăn khất thực lại dùm người khác, không nên nhờ người khác mang dùm đồ ăn khất thực lại.

 

30. Chưa xin phép thầy tế độ không nên đi vào làng, không nên đi đến mộ địa, không nên bỏ đi hướng khác. Nếu thầy tế độ bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. Nên đợi cho đến khi vị thầy khỏe lại.

 

Dứt phận sự đối với thầy tế độ.

 

--ooOoo--

 

 

1. Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ nên thực hành phận sự đúng đắn đối với người đệ tử. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này: Này các tỳ khưu, thầy tế độ nên quan tâm đến người đệ tử, nên giúp đỡ bằng sự đọc tụng, bằng sự vấn hỏi, bằng sự giáo huấn, bằng sự chỉ dạy.

 

2. Nếu thầy tế độ có b́nh bát và người đệ tử không có b́nh bát, thầy tế độ nên cho b́nh bát đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để b́nh bát có thể phát sanh đến đệ tử?”

 

3. Nếu thầy tế độ có y và người đệ tử không có y, thầy tế độ nên cho y đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y có thể phát sanh đến đệ tử?”

 

4. Nếu thầy tế độ có vật dụng và người đệ tử không có vật dụng, thầy tế độ nên cho vật dụng đến người đệ tử, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để vật dụng có thể phát sanh đến đệ tử?”

 

5. Nếu người đệ tử bị bệnh, (vị thầy tế độ) nên thức dậy vào lúc sáng sớm. Nên trao gỗ chà răng. Nên trao nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa sạch tô rồi đem cháo lại. Khi người đệ tử đă uống cháo xong, nên trao nước (rửa), nên nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất. Khi người đệ tử đă đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác rến th́ nên quét khu vực ấy.

 

6. Nếu người đệ tử có ư định đi vào làng, nên trao y lót trong, và nhận lại y lót trong (đă thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trao cho. Nên trao b́nh bát c̣n đẫm nước sau khi đă rửa sạch. (Nghĩ rằng): “Đến lúc vị ấy sắp trở về,” nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên đi ra rước y và b́nh bát. Nên trao y lót trong (trước đây) và nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên phơi y ở chỗ nắng quá lâu. Nên gấp y lại. Khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): “Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.” Nên đặt dây thắt lưng ở bên trong phần gấp lại.

 

7. Nếu có đồ ăn khất thực và người đệ tử có ư muốn thọ dụng th́ nên trao nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ư người đệ tử về nước uống. Khi người đệ tử ăn xong nên trao nước (rửa). Nên nhận lại b́nh bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên phơi b́nh bát ở chỗ nắng quá lâu.

 

8. Nên đem cất y và b́nh bát. Trong khi đặt b́nh bát xuống, nên dùng một tay ôm b́nh bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt b́nh bát xuống. Và không nên đặt b́nh bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, c̣n chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống

 

9. Khi người đệ tử đă đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác rến th́ nên quét khu vực ấy. Nếu người đệ tử có ư muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.

 

10. Nếu người đệ tử có ư muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi đến, trao ghế ngồi của nhà tắm hơi, nhận lấy y, rồi nên đem để ở một bên. Nên trao bột tắm. Nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên đắp lên cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lăo rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho người đệ tử. Khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi.

 

11. Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho người đệ tử. Khi tắm xong nên đi ra trước, lau khô nước ở thân thể của ḿnh, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của người đệ tử. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ư người đệ tử về nước uống. Ở trú xá nào người đệ tử cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác rến, nếu có nỗ lực th́ nên làm sạch sẽ.

 

12. Khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc.

 

13. Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc. Nếu có mạng nhện ở trú xá, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được thực hiện, nên rải nước rồi quét (nghĩ rằng): “Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.”

 

14. Sau khi gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc. Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.

 

15. Nên đem cất y và b́nh bát. Trong khi đặt b́nh bát xuống, nên dùng một tay ôm b́nh bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt b́nh bát xuống. Không nên đặt b́nh bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, c̣n chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.

 

16. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.

 

17. Nếu pḥng có rác rến, nên quét pḥng. Nếu cổng có rác rến, nên quét cổng. Nếu pḥng hội họp có rác rến, nên quét pḥng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác rến, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác rến, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.

 

18. Nếu sự bực bội sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu nỗi ân hận sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu tà kiến sanh khởi ở người đệ tử, vị thầy tế độ nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.

 

19. Nếu người đệ tử bị phạm tội nặng xứng đáng hành phạt parivāsa, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt parivāsa cho đệ tử?”

 

20. Nếu người đệ tử xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể cho đệ tử (thực hành) trở lại từ đầu?”

 

21. Nếu người đệ tử xứng đáng hành phạt mānatta, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt mānatta cho đệ tử?”

 

22. Nếu người đệ tử xứng đáng sự giải tội, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho đệ tử?”

 

24. Nếu hội chúng có ư định tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc ḥa giải, hoặc án treo đối với người đệ tử, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi tiến hành hành sự đối với đệ tử, hoặc đổi thành nhẹ hơn?” Khi hội chúng đă tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc ḥa giải, hoặc án treo đối với người đệ tử, vị thầy tế độ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để đệ tử có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?”

 

25. Nếu y của người đệ tử cần phải giặt, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: “Ngươi nên giặt như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của đệ tử được giặt?” Nếu y của người đệ tử cần phải may, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: “Ngươi nên may như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của đệ tử được may?” Nếu thuốc nhuộm của người đệ tử cần phải nấu, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: “Ngươi nên nấu như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thuốc nhuộm của đệ tử được nấu?” Nếu y của người đệ tử cần phải nhuộm, vị thầy tế độ nên chỉ dẫn: “Ngươi nên nhuộm như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của đệ tử được nhuộm?” Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng. Nếu người đệ tử bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. Nên đợi cho đến khi người đệ tử khỏe lại.

 

Dứt phận sự đối với đệ tử.

 

--ooOoo--

 

 

1. Vào lúc bấy giờ, các người đệ tử không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các người đệ tử lại không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ?”

 

2. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, nghe nói các người đệ tử không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, người đệ tử không nên không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy tế độ; vị nào không thực hành đúng đắn th́ phạm tội dukkaṭa.”

 

(Các người đệ tử) vẫn không thực hành phận sự đúng đắn. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, ta cho phép đuổi đi người (đệ tử) không thực hành phận sự đúng đắn. Và này các tỳ khưu, nên đuổi đi như vầy: “Ta đuổi ngươi đi,” hay là “Đừng có quay trở lại đây,” hay là “Hăy đem đi y bát của ngươi,” hay là “Ta không giúp đỡ ngươi nữa.” (Nếu) vị (thầy tế độ) bày tỏ bằng thân, bày tỏ bằng lời nói, bày tỏ bằng thân và lời nói, th́ người đệ tử đă bị đuổi đi. (Nếu) vị ấy không bày tỏ bằng thân, không bày tỏ bằng lời nói, không bày tỏ bằng thân và lời nói, th́ người đệ tử không bị đuổi đi.

 

3. Vào lúc bấy giờ, những người đệ tử bị đuổi đi đă không xin lỗi. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, ta cho phép xin lỗi.” Các người (đệ tử) vẫn không xin lỗi. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, người (đệ tử) bị đuổi đi không nên không xin lỗi; vị nào không xin lỗi th́ phạm tội dukkaṭa.”

 

4. Vào lúc bấy giờ, khi được xin lỗi các vị thầy tế độ không tha thứ. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, ta cho phép tha thứ.” Các vị (thầy tế độ) vẫn không tha thứ. Những người đệ tử rời đi, (hoặc) hoàn tục, (hoặc) theo ngoại đạo. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, khi được xin lỗi không nên không tha thứ; vị nào không tha thứ th́ phạm tội dukkaṭa.”

 

5. Vào lúc bấy giờ, các vị thầy tế độ đuổi đi những người (đệ tử) thực hành phận sự đúng đắn, không đuổi đi những người (đệ tử) không thực hành phận sự đúng đắn. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi người (đệ tử) thực hành phận sự đúng đắn; vị nào đuổi đi th́ phạm tội dukkaṭa. Và này các tỳ khưu, không nên không đuổi đi người (đệ tử) không thực hành phận sự đúng đắn; vị nào không đuổi đi th́ phạm tội dukkaṭa.”

 

6. Này các tỳ khưu, nên đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy tế độ không có nhiều ḷng yêu mến, không có nhiều niềm tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, (và) không có nhiều sự rèn luyện.[3] Này các tỳ khưu, nên đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố này.

 

7. Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy tế độ có nhiều ḷng yêu mến, có nhiều niềm tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, (và) có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố này.

 

8. Này các tỳ khưu, người đệ tử là đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy tế độ không có nhiều ḷng yêu mến, không có nhiều niềm tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, (và) không có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, người đệ tử là đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố này.

 

9. Này các tỳ khưu, người đệ tử là không đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy tế độ có nhiều ḷng yêu mến, có nhiều niềm tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, (và) có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, người đệ tử là không đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố này.

 

10. Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi không đuổi đi, không vượt qua quy định khi đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy tế độ không có nhiều ḷng yêu mến, không có nhiều niềm tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, (và) không có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi không đuổi đi, không vượt qua quy định khi đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố này.

 

11. Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi đuổi đi, không vượt qua quy định khi không đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy tế độ có nhiều ḷng yêu mến, có nhiều niềm tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, (và) có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, vị thầy tế độ là vượt qua quy định khi đuổi đi, không vượt qua quy định khi không đuổi đi người đệ tử hội đủ năm yếu tố này.”

 

12. Vào lúc bấy giờ, có người Bà-la-môn nọ (tên Rādha) đă đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đă không ưng thuận cho người ấy xuất gia. Người ấy trong khi không đạt được sự xuất gia ở nơi các tỳ khưu đă trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân h́nh nổi đầy gân.

 

13. Đức Thế Tôn đă nh́n thấy người Bà-la-môn ấy ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân h́nh nổi đầy gân, sau khi nh́n thấy đă bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, việc ǵ khiến người Bà-la-môn ấy ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân h́nh nổi đầy gân vậy?” - “Bạch ngài, người Bà-la-môn ấy đă đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đă không ưng thuận cho người ấy xuất gia. Người ấy trong khi không đạt được sự xuất gia ở nơi các tỳ khưu đă trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân h́nh nổi đầy gân.”

 

14. Khi ấy, đức Thế Tôn đă bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, có vị nào nhớ được điều tốt đẹp của người Bà-la-môn ấy?” Khi được nói như vậy, đại đức Sāriputta đă nói với đức Thế Tôn điều này: - “Bạch ngài, con nhớ được điều tốt đẹp của người Bà-la-môn ấy.” - “Này Sāriputta, ngươi nhớ được điều tốt đẹp ǵ của người Bà-la-môn ấy?” - “Bạch ngài, trường hợp này là khi con đang đi khất thực ở trong thành Rājagaha, người Bà-la-môn ấy đă sai người cho một muỗng vật thực. Bạch ngài, đó là điều tốt đẹp của người Bà-la-môn ấy mà con nhớ được.” - “Này Sāriputta, tốt lắm, tốt lắm! Này Sāriputta, bởi v́ những người tốt là những người biết ơn và nhớ ơn đă thọ. Này Sāriputta, chính v́ điều ấy ngươi hăy cho người Bà-la-môn ấy xuất gia và tu lên bậc trên.” - “Bạch ngài, con cho người Bà-la-môn ấy xuất gia và tu lên bậc trên như thế nào?”

 

15. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lư do ấy nhân sự kiện ấy đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, việc tu lên bậc trên bằng ba sự đi đến nương nhờ (Tam Quy) đă được ta cho phép, kể từ nay ta hủy bỏ việc ấy. Này các tỳ khưu, ta cho phép tu lên bậc trên bằng hành sự với lời thông báo đến lần thứ tư. Và này các tỳ khưu, nên cho tu lên bậc trên như vầy. Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

 

16. “Bạch các ngài, xin hội chúng hăy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ư muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.

 

17. Bạch các ngài, xin hội chúng hăy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ư muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Hội chúng cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ư sự tu lên bậc trên của vị tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ư có thể nói lên.

 

18. Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nh́. Bạch các ngài, xin hội chúng hăy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ư muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Hội chúng cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ư sự tu lên bậc trên của vị tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ư có thể nói lên.

 

19. Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. Bạch các ngài, xin hội chúng hăy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ư muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Hội chúng cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ư sự tu lên bậc trên của vị tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ư có thể nói lên.

 

20. Vị tên (như vầy) đă được hội chúng cho tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ư nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

 

21. Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ thực hiện hành động sai trái liền ngay sau khi được tu lên bậc trên. Các vị tỳ khưu đă nói như vầy: - “Này đại đức, chớ có hành động như thế, điều ấy không được phép.” Vị ấy đă nói như vầy: - “Tôi đâu có cầu xin các đại đức rằng: ‘Các đại đức hăy cho tôi tu lên bậc trên.’ Tại sao các ngài khi chưa được tôi cầu xin mà đă cho tu lên bậc trên?” Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, không nên cho tu lên bậc trên người không cầu xin; vị nào ban phép tu lên bậc trên th́ phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép ban phép tu lên bậc trên đối với người đă cầu xin. Và này các tỳ khưu, nên được cầu xin như vầy: Vị có ư muốn tu lên bậc trên ấy nên đi đến hội chúng tỳ khưu, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các vị tỳ khưu, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói với hội chúng như vầy: - ‘Bạch các ngài, tôi cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên. Bạch các ngài, v́ ḷng thương xót xin hội chúng hăy tế độ tôi.’ Nên được cầu xin đến lần thứ nh́. ―(như trên)― Nên được cầu xin đến lần thứ ba. ―(như trên)― Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

 

“Bạch các ngài, xin hội chúng hăy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ư muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Vị tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.

 

Bạch các ngài, xin hội chúng hăy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) có ư muốn tu lên bậc trên với đại đức tên (như vầy). Vị tên (như vầy) cầu xin hội chúng sự tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Hội chúng cho vị tên (như vầy) tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Đại đức nào đồng ư sự tu lên bậc trên của vị tên (như vầy) với thầy tế độ tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ư có thể nói lên.

 

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nh́. ―(như trên)―

 

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba. ―(như trên)―

 

Vị tên (như vầy) đă được hội chúng cho tu lên bậc trên với thầy tế độ tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ư nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

 

22. Vào lúc bấy giờ, ở trong thành Rājagaha sự tuần tự của các bữa trai phạn gồm các thức ăn hảo hạng được tiến hành đều đặn. Khi ấy, có người Bà-la-môn nọ đă khởi ư điều này: “Những Sa-môn Thích tử này có giới luật thoải mái, có sở hành thoải mái, sau khi thọ thực thức ăn ngon rồi nằm ngủ ở những cái giường kín gió, hay là ta nên xuất gia nơi các Sa-môn Thích tử này?”

 

23. Sau đó, người Bà-la-môn ấy đă đi đến gặp các tỳ khưu cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đă cho người ấy xuất gia, đă cho tu lên bậc trên. Khi người ấy đă được xuất gia, sự tuần tự của các bữa ăn đă hết. Các vị tỳ khưu đă nói như vầy: - “Này đại đức, hăy đến. Hôm nay chúng ta sẽ đi khất thực.” Vị ấy đă nói như vầy: - “Này các đại đức, tôi đă không xuất gia v́ nguyên nhân này: ‘Ta sẽ đi khất thực.’ Nếu các vị cho tôi th́ tôi sẽ ăn, nếu các vị không cho tôi th́ tôi sẽ hoàn tục.” - “Này đại đức, có phải ngài đă xuất gia v́ nguyên nhân của bao tử?” - “Này các đại đức, đúng vậy.”

 

24. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao vị tỳ khưu lại xuất gia trong Pháp và Luật khéo được thuyết giảng như vầy v́ nguyên nhân của bao tử?” Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

 

25. - “Này tỳ khưu, nghe nói ngươi đă xuất gia v́ nguyên nhân của bao tử, có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này kẻ rồ dại, v́ sao ngươi lại xuất gia trong Pháp và Luật khéo được thuyết giảng như vầy v́ nguyên nhân của bao tử? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đă có đức tin. ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

 

26. - “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị đang ban phép tu lên bậc trên chỉ dẫn về bốn vật nương nhờ: Việc xuất gia nương vào thức ăn do khất thực, trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời. Vật thọ lănh ngoại lệ là: bữa ăn dâng hội chúng, bữa ăn được chỉ định, sự mời thỉnh, bữa ăn theo thẻ, vào mỗi nửa tháng, vào ngày Uposatha, vào ngày đầu của mỗi nửa tháng.

 

Việc xuất gia nương vào y làm bằng vải dơ bị quăng bỏ, trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời. Vật thọ lănh ngoại lệ là: (y làm bằng) sợi lanh, bông vải, tơ lụa, sợi len, gai thô, chỉ bố.

 

Việc xuất gia nương vào chỗ trú ngụ là gốc cây, trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời. Vật thọ lănh ngoại lệ là: trú xá, nhà một mái, ṭa nhà dài, khu nhà lớn, hang động.

 

Việc xuất gia nương vào dược phẩm là nước tiểu gia súc, trong trường hợp ấy ngươi nên thể hiện sự nỗ lực cho đến hết đời. Vật thọ lănh ngoại lệ là: bơ lỏng, bơ đặc, dầu ăn, mật ong, đường mía.”

 

Dứt tụng phẩm về phận sự đối với thầy tế độ là thứ năm.

 

--ooOoo--

 

TỤNG PHẨM THỨ SÁU

 

1. Vào lúc bấy giờ, có chàng thanh niên nọ đă đi đến gặp các tỳ khưu và cầu xin sự xuất gia. Các tỳ khưu đă chỉ dẫn cho chàng trai về các vật nương nhờ trước. Chàng trai đă nói như vầy: - “Thưa các ngài, nếu khi tôi đă được xuất gia các ngài mới chỉ dẫn về các vật nương nhờ th́ tôi c̣n có thể thích thú. Thưa các ngài, giờ đây tôi sẽ không xuất gia, đối với tôi các vật nương nhờ là ghê tởm đáng ghét.”

 

2. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, không nên chỉ dẫn về các vật nương nhờ trước; vị nào chỉ dẫn th́ phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép chỉ dẫn về các vật nương nhờ liền ngay sau khi đă được tu lên bậc trên.”

 

3. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu đă ban phép tu lên bậc trên với tập thể là nhóm hai vị, nhóm ba vị. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, không nên ban phép tu lên bậc trên với tập thể là nhóm ít hơn mười vị; vị nào ban phép tu lên bậc trên th́ phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép ban phép tu lên bậc trên với tập thể là nhóm mười vị hoặc nhóm trên mười vị.”

 

4. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu chỉ được một năm, hai năm đă cho đệ tử tu lên bậc trên. Ngay cả đại đức Upasena con trai của Vaṅganta được một năm đă cho người đệ tử tu lên bậc trên. Khi đă sống qua mùa (an cư) mưa là được hai năm, vị ấy đă đưa người đệ tử được một năm đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đă đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Điều này đă trở thành thông lệ của chư Phật Thế Tôn là niềm nở với các tỳ khưu đi đến.

 

5. Khi ấy, đức Thế Tôn đă nói với đại đức Upasena con trai của Vaṅganta điều này: - “Này các tỳ khưu, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Các ngươi đi đến đường xa có được ít mệt nhọc không?” - “Bạch Thế Tôn, sức khoẻ có khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc được tốt đẹp. Và bạch ngài, chúng con đi đường xa ít có mệt nhọc.”

 

6. Các đấng Như Lai dầu biết vẫn hỏi, dầu biết các vị vẫn không hỏi, biết đúng thời các vị mới hỏi, biết đúng thời các vị vẫn không hỏi, có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai mới hỏi và không (hỏi việc) không có liên quan đến lợi ích, khi không có liên quan đến lợi ích các đấng Như Lai có cách để cắt đứt vấn đề. Chư Phật Thế Tôn hỏi các tỳ khưu với hai lư do: “Chúng ta sẽ thuyết giảng Giáo Pháp hoặc là chúng ta sẽ quy định điều học cho các đệ tử.”

 

7. Khi ấy, đức Thế Tôn đă nói với đại đức Upasena con trai của Vaṅganta điều này: - “Này tỳ khưu, ngươi được bao nhiêu năm?” - “Bạch Thế Tôn, con được hai năm.” - “C̣n vị tỳ khưu này được bao nhiêu năm?” - “Bạch Thế Tôn, được một năm.” - “Vị tỳ khưu này là ǵ của ngươi?” - “Bạch Thế Tôn, là đệ tử của con.”

 

8. Đức Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp Sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, v́ sao (trong khi) ngươi c̣n cần được những người khác giáo huấn chỉ dạy lại nghĩ đến giáo huấn chỉ dạy người khác? Này kẻ rồ dại, ngươi trở thành đa đoan quá nhanh chóng tức là việc kết nạp đồ chúng. Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, vị dưới mười năm không nên ban phép tu lên bậc trên; vị nào ban phép tu lên bậc trên th́ phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị mười năm hoặc trên mười năm được ban phép tu lên bậc trên.”

 

9. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm (nghĩ rằng): “Ta được mười năm! Ta được mười năm!” rồi ban phép tu lên bậc trên. (Các trường hợp) những thầy tế độ ngu dốt và các đệ tử sáng trí được phát hiện, những thầy tế độ thiếu kinh nghiệm và các đệ tử có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy tế độ nghe ít và các đệ tử nghe nhiều được phát hiện, những thầy tế độ trí kém và các đệ tử trí tuệ được phát hiện.

 

10. Có vị nọ trước đây theo ngoại đạo trong khi được thầy tế độ nói về vấn đề thuộc Giáo Pháp đă bắt bẻ lời dạy của thầy tế độ rồi chuyển qua địa phận của chính ngoại đạo ấy.

 

11. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm (nghĩ rằng): ‘Ta được mười năm! Ta được mười năm!’ rồi ban phép tu lên bậc trên khiến (các trường hợp) những thầy tế độ ngu dốt và các đệ tử sáng trí được phát hiện, những thầy tế độ thiếu kinh nghiệm và các đệ tử có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy tế độ nghe ít và các đệ tử nghe nhiều được phát hiện, những thầy tế độ trí kém và các đệ tử trí tuệ được phát hiện?”

 

12. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, nghe nói các vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm (nghĩ rằng): ‘Ta được mười năm! Ta được mười năm!’ rồi ban phép tu lên bậc trên khiến (các trường hợp) những thầy tế độ ngu dốt và các đệ tử sáng trí được phát hiện, những thầy tế độ thiếu kinh nghiệm và các đệ tử có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy tế độ nghe ít và các đệ tử nghe nhiều được phát hiện, những thầy tế độ trí kém và các đệ tử trí tuệ được phát hiện, có đúng không vậy?”

 

13. - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Đức Phật Thế Tôn đă khiển trách rằng: - “Này các tỳ khưu, v́ sao những kẻ rồ dại ấy là ngu dốt thiếu kinh nghiệm lại (nghĩ rằng): ‘Ta được mười năm! Ta được mười năm!’ rồi ban phép tu lên bậc trên khiến (các trường hợp) những thầy tế độ ngu dốt ―(như trên)― và các đệ tử trí tuệ được phát hiện? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, vị ngu dốt thiếu kinh nghiệm không nên ban phép tu lên bậc trên; vị nào ban phép tu lên bậc trên th́ phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu có kinh nghiệm đủ năng lực với mười năm hoặc trên mười năm được ban phép tu lên bậc trên.”

 

14. Vào lúc bấy giờ, trong khi các vị thầy tế độ rời đi, hoàn tục, từ trần, qua bên nhóm khác, các tỳ khưu trở thành không có thầy dạy học, và trong khi không được giáo huấn, không được chỉ dạy (nên đă) mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực.

 

15. Trong khi dân chúng đang ăn, các vị đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn loại cứng, ở phía trên thức ăn có hương vị, ở phía trên thức uống, các vị c̣n tự ḿnh yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn.

 

16. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “Tại sao các Sa-môn Thích tử lại mặc y luộm thuộm, trùm y luộm thuộm, hoàn toàn không đúng quy cách rồi đi khất thực, và Trong khi dân chúng đang ăn, các vị lại đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn loại mềm, các vị lại đưa ra b́nh bát đă mở ở phía trên thức ăn loại cứng, ở phía trên thức ăn có hương vị, ở phía trên thức uống, các vị c̣n tự ḿnh yêu cầu xúp và cơm rồi thọ thực, các vị sống gây nên sự náo nhiệt, sự ồn ào ở trong nhà ăn giống như các Bà-la-môn trong bữa ăn của các Bà-la-môn vậy?”

 

17. Các tỳ khưu đă nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. ―(như trên)―

 

18. - “Này các tỳ khưu, nghe nói ―(như trên)― có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, ta cho phép vị thầy dạy học. Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học sẽ gợi lên ở người học tṛ tâm của người con và người học tṛ sẽ gợi lên ở vị thầy dạy học tâm của người cha. Như thế, trong khi sống cùng nhau có sự tôn kính, có sự phục tùng, có sự cư xử hài ḥa với nhau, họ sẽ đạt đến sự lớn mạnh, sự tăng trưởng, sự phát triển trong Pháp và Luật này.

 

19. Này các tỳ khưu, ta cho phép sống nương nhờ mười năm và vị mười năm được ban cho sự nương nhờ. Và này các tỳ khưu, vị thầy dạy học nên được xác định như vầy: (Người học tṛ) nên đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: “Bạch ngài, xin ngài hăy là thầy dạy học của con. Con sẽ sống nương nhờ vào đại đức. Bạch ngài, xin ngài hăy là thầy dạy học của con. Con sẽ sống nương nhờ vào đại đức. Bạch ngài, xin ngài hăy là thầy dạy học của con. Con sẽ sống nương nhờ vào đại đức.” (Vị thầy dạy học nên nói rằng): “Tốt rồi!” hay là “Được nhẹ nhàng rồi!” hay là “Đúng rồi!” hay là “Được phù hợp rồi!” hay là “Hăy được thành tựu sự hoan hỷ!” (Nếu) vị (thầy dạy học) bày tỏ bằng thân, bày tỏ bằng lời nói, bày tỏ bằng thân và lời nói, th́ vị thầy dạy học đă được xác định. (Nếu) vị ấy không bày tỏ bằng thân, không bày tỏ bằng lời nói, không bày tỏ bằng thân và lời nói, vị thầy dạy học đă không được xác định.

 

20. Này các tỳ khưu, người học tṛ nên thực hành phận sự đúng đắn đối với vị thầy dạy học. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này: Nên thức dậy vào lúc sáng sớm, cởi dép ra, đắp thượng y một bên vai, rồi nên dâng gỗ chà răng, nên dâng nước súc miệng, nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa sạch tô rồi đem cháo lại. Khi thầy đă uống cháo xong, nên dâng nước, nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất.

 

21. Khi thầy dạy học đă đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác rến th́ nên quét khu vực ấy. Nếu thầy dạy học có ư định đi vào làng, nên trao y lót trong, và nhận lại y lót trong (đă thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi dâng lên. Nên trao b́nh bát c̣n đẫm nước sau khi đă rửa sạch. Nếu thầy dạy học muốn có thị giả đi theo, vị ấy nên mặc y nội tṛn đều với sự che phủ ba ṿng tṛn, buộc dây thắt lưng, sửa sang cho tề chỉnh rồi trùm y hai lớp lên, thắt lại dây buộc, rửa và ôm lấy b́nh bát, rồi nên đi theo làm thị giả cho thầy dạy học. Không nên đi quá xa, không nên đi quá gần. Nên nhận lấy b́nh bát được (vị thầy) hoán đổi.

 

22. Khi thầy dạy học đang nói, không nên cắt ngang lời nói nửa chừng. Khi thầy dạy học có khả năng phạm tội lúc đang nói th́ nên ngăn lại. Khi quay trở về, nên đi về trước tiên và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên đi ra rước y và b́nh bát. Nên trao y lót trong (trước đây) và nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên phơi y ở chỗ nắng quá lâu. Nên gấp y lại. Khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): “Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.” Nên đặt dây thắt lưng ở bên trong phần gấp lại.

 

23. Nếu có đồ ăn khất thực và thầy dạy học có ư muốn thọ dụng th́ nên dâng nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ư thầy dạy học về nước uống. Khi thầy ăn xong nên dâng nước (rửa), nên nhận lại b́nh bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Không nên phơi b́nh bát ở chỗ nắng quá lâu. Nên đem cất y và b́nh bát. Trong khi đặt b́nh bát xuống, nên dùng một tay ôm b́nh bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt b́nh bát xuống. Và không nên đặt b́nh bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, c̣n chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống

 

24. Khi thầy dạy học đă đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác rến th́ nên quét khu vực ấy. Nếu thầy dạy học có ư muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu (thầy dạy học) có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.

 

25. Nếu thầy dạy học có ư muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi rồi đi đến từ phía sau lưng và trao ghế ngồi của nhà tắm hơi cho thầy dạy học, nên nhận lấy y, và để ở một bên, nên trao bột tắm, nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên đắp lên cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lăo rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho thầy dạy học. Khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi.

 

26. Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho thầy dạy học. Khi tắm xong nên đi ra trước, lau khô nước ở thân thể của ḿnh, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của thầy dạy học. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ư thầy dạy học về nước uống. Nếu có ư muốn thỉnh (thầy) đọc tụng, nên thỉnh (thầy) đọc tụng. Nếu có ư muốn vấn đạo, nên thỉnh (thầy) vấn đạo.

 

27. Ở trú xá nào thầy dạy học cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác rến, nếu có nỗ lực th́ nên làm sạch sẽ. Khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc.

 

28. Nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc. Nếu có mạng nhện ở trú xá, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được thực hiện, nên rải nước rồi quét (nghĩ rằng): “Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.”

 

29. Sau khi gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc. Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và đồ trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ.

 

30. Nên đem cất y và b́nh bát. Trong khi đặt b́nh bát xuống, nên dùng một tay ôm b́nh bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt b́nh bát xuống. Không nên đặt b́nh bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, c̣n chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.

 

31. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.

 

32. Nếu pḥng có rác rến, nên quét pḥng. Nếu cổng có rác rến, nên quét cổng. Nếu pḥng hội họp có rác rến, nên quét pḥng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác rến, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác rến, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.

 

33. Nếu sự bực bội sanh khởi ở thầy dạy học, người học tṛ nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu nỗi ân hận sanh khởi ở thầy dạy học, người học tṛ nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy. Nếu tà kiến sanh khởi ở thầy dạy học, người học tṛ nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị thầy.

 

34. Nếu thầy dạy học bị phạm tội nặng xứng đáng hành phạt parivāsa, người học tṛ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt parivāsa cho thầy dạy học?”

 

35. Nếu thầy dạy học xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu, người học tṛ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể cho thầy dạy học (thực hành) trở lại từ đầu?”

 

36. Nếu thầy dạy học xứng đáng hành phạt mānatta, người học tṛ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt mānatta cho thầy dạy học?”

 

37. Nếu thầy dạy học xứng đáng sự giải tội, người học tṛ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho thầy dạy học?”

 

38. Nếu hội chúng có ư định tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc ḥa giải, hoặc án treo đối với thầy dạy học, người học tṛ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi tiến hành hành sự đối với thầy dạy học, hoặc đổi thành nhẹ hơn?” Khi hội chúng đă tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc ḥa giải, hoặc án treo đối với vị thầy dạy học, người học tṛ nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thầy dạy học có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?”

 

39. Nếu y của thầy dạy học cần phải giặt, người học tṛ nên giặt hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy dạy học được giặt?” Nếu y của thầy dạy học cần phải may, người học tṛ nên may hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy dạy học được may?” Nếu thuốc nhuộm của thầy dạy học cần phải nấu, người học tṛ nên nấu hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thuốc nhuộm của thầy dạy học được nấu?” Nếu y của thầy dạy học cần phải nhuộm, người học tṛ nên nhuộm hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của thầy dạy học được nhuộm?” Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng.

 

40. Không có phép của thầy dạy học, không nên cho b́nh bát đến người khác. Không nên thọ lănh b́nh bát của người khác. Không nên cho y đến người khác. Không nên thọ lănh y của người khác. Không nên cho vật dụng đến người khác. Không nên thọ lănh vật dụng của người khác. Không nên cạo tóc cho người khác. Không nên bảo người khác cạo tóc. Không nên kỳ cọ người khác. Không nên bảo người khác kỳ cọ. Không nên hầu hạ người khác. Không nên bảo người khác hầu hạ. Không nên làm thị giả người khác. Không nên nhận người khác làm thị giả. Không nên mang đồ ăn khất thực lại dùm người khác. Không nên nhờ người khác mang dùm đồ ăn khất thực lại.

 

41. Chưa xin phép thầy dạy học không nên đi vào làng, không nên đi đến mộ địa, không nên bỏ đi hướng khác. Nếu thầy dạy học bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. Nên đợi cho đến khi vị thầy khỏe lại.

 

Dứt phận sự đối với thầy dạy học.

 

--ooOoo--

 

 

1. Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học nên thực hành phận sự đúng đắn đối với người học tṛ. Đây là phận sự đúng đắn trong trường hợp này: Này các tỳ khưu, thầy dạy học nên quan tâm đến người học tṛ, nên giúp đỡ bằng sự đọc tụng, bằng sự vấn hỏi, bằng sự giáo huấn, bằng sự chỉ dạy.

 

2. Nếu thầy dạy học có b́nh bát và người học tṛ không có b́nh bát, thầy dạy học nên cho b́nh bát đến người học tṛ, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để b́nh bát có thể phát sanh đến học tṛ?”

 

3. Nếu thầy dạy học có y và người học tṛ không có y, thầy dạy học nên cho y đến người học tṛ, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y có thể phát sanh đến học tṛ?”

 

4. Nếu thầy dạy học có vật dụng và người học tṛ không có vật dụng, thầy dạy học nên cho vật dụng đến người học tṛ, hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để vật dụng có thể phát sanh đến học tṛ?”

 

5. Nếu người học tṛ bị bệnh, (vị thầy dạy học) nên thức dậy vào lúc sáng sớm. Nên trao gỗ chà răng. Nên trao nước súc miệng. Nên sắp xếp chỗ ngồi. Nếu có cháo, nên rửa sạch tô rồi đem cháo lại. Khi người học tṛ đă uống cháo xong, nên cho nước, nhận lại tô, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, rồi đem cất.

 

6. Khi người học tṛ đă đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nếu khu vực ấy có rác rến th́ nên quét khu vực ấy. Nếu người học tṛ có ư định đi vào làng, nên trao y lót trong, và nhận lại y lót trong (đă thay đổi), nên trao dây thắt lưng, nên gấp y hai lớp thành nếp rồi trao cho. Nên trao b́nh bát c̣n đẫm nước sau khi đă rửa sạch. (Nghĩ rằng): “Đến lúc vị ấy sắp trở về,” nên sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên đi ra rước y và b́nh bát. Nên trao y lót trong (trước đây) và nhận lại y lót trong (mặc lúc đi). Nếu y bị thấm mồ hôi, nên phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Và không nên phơi y ở chỗ nắng quá lâu. Nên gấp y lại. Khi gấp y nên lùi phần góc vào bốn ngón tay rồi gấp y lại (nghĩ rằng): “Không nên để nếp gấp ở phần chính giữa.” Nên đặt dây thắt lưng ở bên trong phần gấp lại.

 

7. Nếu có đồ ăn khất thực và người học tṛ có ư muốn thọ dụng th́ nên trao nước (rửa) rồi đem đồ ăn khất thực lại. Nên hỏi ư người học tṛ về nước uống. Khi người học tṛ ăn xong nên trao nước (rửa). Nên nhận lại b́nh bát, để ở chỗ thấp, rửa một cách cẩn thận không làm trầy, nên làm ráo nước, rồi đem phơi ở chỗ nắng trong chốc lát. Không nên phơi b́nh bát ở chỗ nắng quá lâu.

 

8. Nên đem cất y và b́nh bát. Trong khi đặt b́nh bát xuống, nên dùng một tay ôm b́nh bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt b́nh bát xuống. Và không nên đặt b́nh bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, c̣n chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống

 

9. Khi người học tṛ đă đứng dậy, nên thu xếp chỗ ngồi. Nên dọn dẹp nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nếu khu vực ấy có rác rến th́ nên quét khu vực ấy. Nếu người học tṛ có ư muốn tắm, nên chuẩn bị việc tắm. Nếu (người học tṛ) có nhu cầu về nước lạnh, nên chuẩn bị nước lạnh; nếu có nhu cầu về nước nóng, nên chuẩn bị nước nóng.

 

10. Nếu người học tṛ có ư muốn đi vào nhà tắm hơi, nên trộn bột tắm, nên tẩm ướt đất sét. Nên lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi đến, trao ghế ngồi của nhà tắm hơi, nhận lấy y, rồi để ở một bên. Nên trao bột tắm. Nên trao đất sét. Nếu có nỗ lực, nên đi vào nhà tắm hơi. Khi đi vào nhà tắm hơi, nên thoa đất sét lên mặt, nên đắp lên cả phía trước lẫn phía sau rồi đi vào nhà tắm hơi. Không nên chen vào (chỗ) các tỳ khưu trưởng lăo rồi ngồi xuống. Không nên xua đuổi các tỳ khưu mới tu khỏi chỗ ngồi. Ở trong nhà tắm hơi nên kỳ cọ cho người học tṛ. Khi rời khỏi nhà tắm hơi, nên cầm lấy cái ghế ngồi của nhà tắm hơi, nên che kín cả phía trước lẫn phía sau rồi rời khỏi nhà tắm hơi.

 

11. Lúc ở trong nước nên kỳ cọ cho người học tṛ. Khi tắm xong nên đi ra trước, nên lau khô nước ở thân thể của ḿnh, quấn y lại, rồi nên lau khô nước ở thân thể của người học tṛ. Nên trao y lót trong. Nên trao y hai lớp. Nên cầm lấy ghế ngồi của nhà tắm hơi, đi về trước, và sắp xếp chỗ ngồi. Nên đem lại nước rửa chân, ghế kê chân, tấm chà chân. Nên hỏi ư người học tṛ về nước uống.

 

12. Ở trú xá nào người học tṛ cư ngụ, nếu trú xá ấy có rác rến, nếu có nỗ lực th́ nên làm sạch sẽ. Khi làm sạch sẽ trú xá, trước tiên nên đem y bát ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem vật lót ngồi và tấm trải nằm ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem nệm gối ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái giường rồi đem ra ngoài một cách khéo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên hạ thấp cái ghế rồi đem ra ngoài một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi để xuống ở một góc, nên đem khung giường ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem ống nhổ ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên đem tấm ván kê đầu ra ngoài rồi để xuống ở một góc, nên xem xét tấm trải nền được xếp đặt như thế nào rồi đem ra ngoài và để xuống ở một góc.

 

13. Nếu có mạng nhện ở trú xá, trước tiên nên gỡ xuống khỏi tấm màn che, nên lau chùi các lỗ thông gió và các hốc kẹt. Nếu tường được sơn màu đỏ và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền được sơn màu đen và bị đốm loang lỗ nên thấm khăn ướt chà xát mạnh rồi lau sạch. Nếu nền không được thực hiện, nên rải nước rồi quét (nghĩ rằng): “Không nên để trú xá bị tràn ngập bụi bặm.” Sau khi gom rác lại rồi nên đem đổ bỏ ở một góc.

 

14. Sau khi phơi nắng tấm trải nền, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng khung giường, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng giường, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng ghế, nên làm sạch sẽ, đập giũ, hạ thấp xuống, rồi đem vào trong một cách khéo léo không làm trầy (mặt đất), không va chạm vào cánh cửa lớn hoặc khung cửa rồi sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng nệm gối, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây). Sau khi phơi nắng vật lót ngồi và tấm trải nằm, nên làm sạch sẽ, đập giũ, rồi đem vào trong và sắp đặt như đă được sắp đặt (trước đây).

 

15. Sau khi phơi nắng ống nhổ, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Sau khi phơi nắng tấm ván kê đầu, nên lau chùi, rồi đem vào trong và để lại ở vị trí như cũ. Nên đem cất y và b́nh bát. Trong khi đặt b́nh bát xuống, nên dùng một tay ôm b́nh bát, tay kia sờ ở phía dưới giường hoặc phía dưới ghế rồi nên đặt b́nh bát xuống. Không nên đặt b́nh bát trên mặt đất không được trải lót. Trong khi máng y, nên dùng một tay cầm y, tay kia vuốt sào treo y hoặc dây phơi y, nên để mép y phía bên kia, c̣n chỗ gấp y lại ở bên này, rồi máng y xuống.

 

16. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng đông, các cửa sổ hướng đông nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng tây, các cửa sổ hướng tây nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng bắc, các cửa sổ hướng bắc nên được khép lại. Nếu các cơn gió có bụi thổi từ hướng nam, các cửa sổ hướng nam nên được khép lại. Nếu thời tiết lạnh, các cửa sổ nên mở ra vào ban ngày và khép lại vào ban đêm. Nếu thời tiết nóng, các cửa sổ nên khép lại vào ban ngày và mở ra vào ban đêm.

 

17. Nếu pḥng có rác rến, nên quét pḥng. Nếu cổng có rác rến, nên quét cổng. Nếu pḥng hội họp có rác rến, nên quét pḥng hội họp. Nếu nhà để đốt lửa có rác rến, nên quét nhà để đốt lửa. Nếu nhà vệ sinh có rác rến, nên quét nhà vệ sinh. Nếu nước uống không có, nên đem nước uống lại. Nếu nước rửa không có, nên đem nước rửa lại. Nếu hũ nước súc miệng không có nước, nên đổ nước vào hũ nước súc miệng.

 

18. Nếu sự bực bội sanh khởi ở người học tṛ, vị thầy dạy học nên làm cho dịu đi, hoặc nhờ vị khác làm cho dịu đi, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu nỗi ân hận sanh khởi ở người học tṛ, vị thầy dạy học nên làm cho tan biến, hoặc nhờ vị khác làm cho tan biến, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy. Nếu tà kiến sanh khởi ở người học tṛ, vị thầy dạy học nên phân giải, hoặc nhờ vị khác phân giải, hoặc nên tiến hành việc giảng Pháp cho vị ấy.

 

19. Nếu người học tṛ bị phạm tội nặng xứng đáng hành phạt parivāsa, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt parivāsa cho học tṛ?”

 

20. Nếu người học tṛ xứng đáng (thực hành) trở lại từ đầu, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể cho học tṛ (thực hành) trở lại từ đầu?”

 

21. Nếu người học tṛ xứng đáng hành phạt mānatta, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể ban hành phạt mānatta cho học tṛ?”

 

22. Nếu người học tṛ xứng đáng sự giải tội, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể giải tội cho học tṛ?”

 

23. Nếu hội chúng có ư định tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc ḥa giải, hoặc án treo đối với người học tṛ, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để hội chúng có thể khỏi tiến hành hành sự đối với học tṛ, hoặc đổi thành nhẹ hơn?” Khi hội chúng đă tiến hành hành sự khiển trách, hoặc chỉ dạy, hoặc xua đuổi, hoặc ḥa giải, hoặc án treo đối với người học tṛ, vị thầy dạy học nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để học tṛ có thể làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, trở nên thu thúc, làm bổn phận để sửa đổi, và hội chúng có thể thâu hồi hành sự này?”

 

24. Nếu y của người học tṛ cần phải giặt, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: “Ngươi nên giặt như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của học tṛ được giặt?” Nếu y của học tṛ cần phải may, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: “Ngươi nên may như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của học tṛ được may?” Nếu thuốc nhuộm của người học tṛ cần phải nấu, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: “Ngươi nên nấu như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để thuốc nhuộm của học tṛ được nấu?” Nếu y của người học tṛ cần phải nhuộm, vị thầy dạy học nên chỉ dẫn: “Ngươi nên nhuộm như vầy,” hoặc nên thể hiện sự nỗ lực: “Làm thế nào để y của học tṛ được nhuộm?” Trong khi nhuộm y, nên đảo tới đảo lui cho khéo léo. Không nên bỏ đi khi nước nhỏ giọt chưa ngừng. Nếu người học tṛ bị bệnh, nên phục vụ cho đến trọn đời. Nên đợi cho đến khi người học tṛ khỏe lại.

 

Dứt phận sự đối với học tṛ.

 

--ooOoo--

 

 

1. Vào lúc bấy giờ, các người học tṛ không thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy dạy học. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, người học tṛ nên thực hành phận sự đúng đắn đối với các vị thầy dạy học; vị nào không thực hành đúng đắn th́ phạm tội dukkaṭa.” (Các người học tṛ) vẫn không thực hành phận sự đúng đắn. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, ta cho phép đuổi đi người (học tṛ) không thực hành phận sự đúng đắn. Và này các tỳ khưu, nên đuổi đi như vầy: “Ta đuổi ngươi đi,” hay là “Đừng có quay trở lại đây,” hay là “Hăy đem đi y bát của ngươi,” hay là “Ta không giúp đỡ ngươi nữa.” (Nếu) vị (thầy dạy học) bày tỏ bằng thân, bày tỏ bằng lời nói, bày tỏ bằng thân và lời nói, th́ người học tṛ đă bị đuổi đi. (Nếu) vị ấy không bày tỏ bằng thân, không bày tỏ bằng lời nói, không bày tỏ bằng thân và lời nói, th́ người học tṛ không bị đuổi đi.

 

2. Vào lúc bấy giờ, những người học tṛ bị đuổi đi không xin lỗi. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, ta cho phép xin lỗi.” Các người (học tṛ) vẫn không xin lỗi. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, người (học tṛ) bị đuổi đi không nên không xin lỗi; vị nào không xin lỗi th́ phạm tội dukkaṭa.”

 

3. Vào lúc bấy giờ, trong khi được xin lỗi các vị thầy dạy học không tha thứ. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, ta cho phép tha thứ.” Các vị (thầy dạy học) vẫn không tha thứ. Những người học tṛ rời đi, (hoặc) hoàn tục, (hoặc) theo ngoại đạo. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, trong khi được xin lỗi không nên không tha thứ; vị nào không tha thứ th́ phạm tội dukkaṭa.”

 

4. Vào lúc bấy giờ, các vị thầy dạy học đuổi đi những người (học tṛ) thực hành phận sự đúng đắn, không đuổi đi những người (học tṛ) không thực hành phận sự đúng đắn. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi người (học tṛ) thực hành phận sự đúng đắn; vị nào đuổi đi th́ phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, không nên không đuổi đi người (học tṛ) không thực hành phận sự đúng đắn; vị nào không đuổi đi th́ phạm tội dukkaṭa.

 

5. Này các tỳ khưu, nên đuổi đi người học tṛ hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy dạy học không có nhiều ḷng yêu mến, không có nhiều đức tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, (và) không có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, nên đuổi đi người học tṛ hội đủ năm yếu tố này.

 

6. Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi người học tṛ hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy dạy học có nhiều ḷng yêu mến, có nhiều đức tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, (và) có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, không nên đuổi đi người học tṛ hội đủ năm yếu tố này.

 

7. Này các tỳ khưu, người học tṛ là đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy dạy học không có nhiều ḷng yêu mến, không có nhiều đức tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, (và) không có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, người học tṛ là đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố này.

 

8. Này các tỳ khưu, người học tṛ là không đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy dạy học có nhiều ḷng yêu mến, có nhiều đức tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, (và) có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, người học tṛ là không đáng bị đuổi đi khi hội đủ năm yếu tố này.

 

9. Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học là vượt qua quy định khi không đuổi đi, không vượt qua quy định khi đuổi đi người học tṛ hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy dạy học không có nhiều ḷng yêu mến, không có nhiều đức tin, không có nhiều nể nang, không có nhiều kính trọng, (và) không có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học là vượt qua quy định khi không đuổi đi, không vượt qua quy định khi đuổi đi người học tṛ hội đủ năm yếu tố này.

 

10. Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học là vượt qua quy định khi đuổi đi, không vượt qua quy định khi không đuổi đi người học tṛ hội đủ năm yếu tố: Đối với thầy dạy học có nhiều ḷng yêu mến, có nhiều đức tin, có nhiều nể nang, có nhiều kính trọng, (và) có nhiều sự rèn luyện. Này các tỳ khưu, vị thầy dạy học là vượt qua quy định khi đuổi đi, không vượt qua quy định khi không đuổi đi người học tṛ hội đủ năm yếu tố này.

 

11. Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm (nghĩ rằng): “Ta được mười năm! Ta được mười năm!” rồi ban cho sự nương nhờ. (Các trường hợp) những thầy dạy học ngu dốt và các học tṛ sáng trí được phát hiện, những thầy dạy học thiếu kinh nghiệm và các học tṛ có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy dạy học nghe ít và các học tṛ nghe nhiều được phát hiện, những thầy dạy học trí kém và các học tṛ trí tuệ được phát hiện.

 

12. Các tỳ khưu nào ít ham muốn, ―(như trên)― các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng: - “V́ sao các vị tỳ khưu ngu dốt thiếu kinh nghiệm (nghĩ rằng): ‘Ta được mười năm! Ta được mười năm!’ rồi ban cho sự nương nhờ khiến (các trường hợp) những thầy dạy học ngu dốt và các học tṛ sáng trí được phát hiện, những thầy dạy học thiếu kinh nghiệm và các học tṛ có kinh nghiệm được phát hiện, những thầy dạy học nghe ít và các học tṛ nghe nhiều được phát hiện, những thầy dạy học trí kém và các học tṛ trí tuệ được phát hiện?”

 

13. Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, nghe nói ―(như trên)― có đúng không vậy?” - “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” ―(như trên)― Sau khi khiển trách, ngài đă nói Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng: - “Này các tỳ khưu, vị ngu dốt thiếu kinh nghiệm không nên ban cho sự nương nhờ; vị nào ban cho th́ phạm tội dukkaṭa. Này các tỳ khưu, ta cho phép vị tỳ khưu có kinh nghiệm đủ năng lực với mười năm hoặc trên mười năm được ban cho sự nương nhờ.”

 

Dứt tụng phẩm về phận sự đối với thầy dạy học là thứ sáu.

 

--ooOoo--

 

 TỤNG PHẨM THỨ BẢY

 

1. Vào lúc bấy giờ, trongkhi các vị thầy dạy học và thầy tế độ rời đi, hoàn tục, từ trần, chuyển qua nhóm khác, các vị tỳ khưu không biết các trường hợp đ́nh chỉ sự nương nhờ. Các vị đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, đây là năm trường hợp đ́nh chỉ sự nương nhờ ở thầy tế độ: Thầy tế độ rời đi, hoặc hoàn tục, hoặc từ trần, hoặc chuyển qua nhóm khác, hoặc sự ra lệnh (đuổi đi) là thứ năm. Này các tỳ khưu, đây là năm trường hợp đ́nh chỉ sự nương nhờ ở thầy tế độ.

 

2. Này các tỳ khưu, đây là sáu trường hợp đ́nh chỉ sự nương nhờ ở thầy dạy học: Thầy dạy học rời đi, hoặc hoàn tục, hoặc từ trần, hoặc chuyển qua nhóm khác, hoặc sự ra lệnh (đuổi đi) là thứ năm, hoặc đă được gặp lại thầy tế độ. Này các tỳ khưu, đây là sáu trường hợp đ́nh chỉ sự nương nhờ ở thầy dạy học.

 

3. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không thành tựu vô học giới uẩn, không thành tựu vô học định uẩn, không thành tựu vô học tuệ uẩn, không thành tựu vô học giải thoát uẩn, không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.

 

4. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị thành tựu vô học giới uẩn, thành tựu vô học định uẩn, thành tựu vô học tuệ uẩn, thành tựu vô học giải thoát uẩn, thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.

 

5. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị bản thân không thành tựu vô học giới uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giới uẩn, bản thân không thành tựu vô học định uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học định uẩn, bản thân không thành tựu vô học tuệ uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học tuệ uẩn, bản thân không thành tựu vô học giải thoát uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát uẩn, bản thân không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.

 

6. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị bản thân thành tựu vô học giới uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giới uẩn, bản thân thành tựu vô học định uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học định uẩn, bản thân thành tựu vô học tuệ uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học tuệ uẩn, bản thân thành tựu vô học giải thoát uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát uẩn, bản thân thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát tri kiến uẩn. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.

 

7. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không có đức tin, không có sự hổ thẹn (tội lỗi), không có sự ghê sợ (tội lỗi), biếng nhác, có niệm bị quên lăng. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.

 

8. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị có đức tin, có sự hổ thẹn (tội lỗi), có sự ghê sợ (tội lỗi), có sự nỗ lực tinh tấn, có niệm được thiết lập. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.

 

9. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới,[4] bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh,[5] bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan,[6] ít học hỏi, trí kém. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.

 

10. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị không bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, không bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, không bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, nghe nhiều, có trí tuệ. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.

 

11. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không có khả năng để phục vụ hoặc kiếm người phục vụ cho đệ tử hay học tṛ bị bệnh, để làm cho dịu đi hoặc nhờ người làm cho dịu đi sự bực bội (ở đệ tử hay học tṛ), để làm cho tan biến hoặc nhờ người làm cho tan biến đúng theo Pháp nỗi ân hận đă sanh khởi (ở đệ tử hay học tṛ), không biết về sự phạm tội, không biết cách thoát khỏi tội. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.

 

12. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị có khả năng để phục vụ hoặc kiếm người phục vụ cho đệ tử hay học tṛ bị bệnh, để làm cho dịu đi hoặc nhờ người làm cho dịu đi sự bực bội (ở đệ tử hay học tṛ), để làm cho tan biến hoặc nhờ người làm cho tan biến đúng theo Pháp nỗi ân hận đă sanh khởi (ở đệ tử hay học tṛ), biết về sự phạm tội, biết cách thoát khỏi tội. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.

 

13. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không có khả năng để huấn luyện các điều học thuộc về phận sự căn bản,[7] để hướng dẫn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh,[8] để hướng dẫn về Thắng Pháp, để hướng dẫn về Thắng Luật,[9] để phân tách đúng theo Pháp xu hướng tà kiến đă sanh khởi cho đệ tử hay học tṛ. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.

 

14. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị có khả năng để huấn luyện các điều học thuộc về phận sự căn bản, để hướng dẫn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh, để hướng dẫn về Thắng Pháp, để hướng dẫn về Thắng Luật, để phân tách đúng theo Pháp xu hướng tà kiến đă sanh khởi cho đệ tử hay học tṛ. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.

 

15. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn Pātimokkha không khéo được truyền thừa một cách chi tiết, không khéo được phân tích, không khéo thuộc nằm ḷng, không khéo được xác định theo từng điều học và từng phần phụ thuộc. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.

 

16. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn Pātimokkha khéo được truyền thừa một cách chi tiết, khéo được phân tích, khéo thuộc nằm ḷng, khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.

 

17. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.

 

18. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ năm yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.

 

Dứt mười sáu nhóm năm của phần ‘Nên ban phép tu lên bậc trên.’

 

--ooOoo--

 

 

1. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không thành tựu vô học giới uẩn, không thành tựu vô học định uẩn, không thành tựu vô học tuệ uẩn, không thành tựu vô học giải thoát uẩn, không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.

 

2. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị thành tựu vô học giới uẩn, thành tựu vô học định uẩn, thành tựu vô học tuệ uẩn, thành tựu vô học giải thoát uẩn, thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.

 

3. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị bản thân không thành tựu vô học giới uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giới uẩn, bản thân không thành tựu vô học định uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học định uẩn, bản thân không thành tựu vô học tuệ uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học tuệ uẩn, bản thân không thành tựu vô học giải thoát uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát uẩn, bản thân không thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn và không là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát tri kiến uẩn, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.

 

4. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị bản thân thành tựu vô học giới uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giới uẩn, bản thân thành tựu vô học định uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học định uẩn, bản thân thành tựu vô học tuệ uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học tuệ uẩn, bản thân thành tựu vô học giải thoát uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát uẩn, bản thân thành tựu vô học giải thoát tri kiến uẩn và là người khuyến khích kẻ khác đạt được vô học giải thoát tri kiến uẩn, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.

 

5. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không có đức tin, không có sự hổ thẹn (tội lỗi), không có sự ghê sợ (tội lỗi), biếng nhác, có niệm bị quên lăng, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.

 

6. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị có đức tin, có sự hổ thẹn (tội lỗi), có sự ghê sợ (tội lỗi), có sự nỗ lực tinh tấn, có niệm được thiết lập, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.

 

7. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, ít học hỏi, trí kém, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.

 

8. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị không bị hư hỏng về giới thuộc tăng thượng giới, không bị hư hỏng về hạnh kiểm thuộc tăng thượng hạnh, không bị hư hỏng về tri kiến thuộc tri kiến cực đoan, nghe nhiều, có trí tuệ, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.

 

9. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không có khả năng để phục vụ hoặc kiếm người phục vụ cho đệ tử hay học tṛ bị bệnh, để làm cho dịu đi hoặc nhờ người làm cho dịu đi sự bực bội (ở đệ tử hay học tṛ), để làm cho tan biến hoặc nhờ người làm cho tan biến đúng theo Pháp nỗi ân hận đă sanh khởi (ở đệ tử hay học tṛ), không biết về tội, không biết cách thoát khỏi tội, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.

 

10. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị có khả năng để phục vụ hoặc kiếm người phục vụ cho đệ tử hay học tṛ bị bệnh, để làm cho dịu đi hoặc nhờ người làm cho dịu đi sự bực bội (ở đệ tử hay học tṛ), để làm cho tan biến hoặc nhờ người làm cho tan biến đúng theo Pháp nỗi ân hận đă sanh khởi (ở đệ tử hay học tṛ), biết về tội, biết cách thoát khỏi tội, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.

 

11. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không có khả năng để huấn luyện các điều học thuộc về phận sự căn bản, để hướng dẫn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh, để hướng dẫn về Thắng Pháp, để hướng dẫn về Thắng Luật, để phân tách đúng theo Pháp xu hướng tà kiến đă sanh khởi cho đệ tử hay học tṛ, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.

 

12. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị có khả năng để huấn luyện các điều học thuộc về phận sự căn bản, để hướng dẫn các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh, để hướng dẫn về Thắng Pháp, để hướng dẫn về Thắng Luật, để phân tách đúng theo Pháp xu hướng tà kiến đă sanh khởi cho đệ tử hay học tṛ, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.

 

13. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ: Là vị không biết về sự phạm tội, không biết về sự không phạm tội, không biết về sự phạm tội nhẹ, không biết về sự phạm tội nặng, hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn Pātimokkha không khéo được truyền thừa một cách chi tiết, không khéo được phân tích, không khéo thuộc nằm ḷng, không khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc, chưa đủ mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này không nên ban phép tu lên bậc trên, không nên cho nương nhờ, không nên để cho sa di phục vụ.

 

14. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố khác nữa nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ: Là vị biết về sự phạm tội, biết về sự không phạm tội, biết về sự phạm tội nhẹ, biết về sự phạm tội nặng, hơn nữa đối với vị này hai bộ giới bổn Pātimokkha khéo được truyền thừa một cách chi tiết, khéo được phân tích, khéo thuộc nằm ḷng, khéo được xác định theo từng điều và từng phần phụ thuộc, được mười năm hoặc hơn mười năm. Này các tỳ khưu, vị tỳ khưu hội đủ sáu yếu tố này nên ban phép tu lên bậc trên, nên cho nương nhờ, nên để cho sa di phục vụ.

 

Dứt mười bốn mhóm sáu của phần ‘Nên ban phép tu lên bậc trên.’

 

--ooOoo--

 

 

1. Vào lúc bấy giờ, có người trước đây theo ngoại đạo trong khi được thầy tế độ nói về vấn đề thuộc Giáo Pháp đă bắt bẻ lời dạy của thầy tế độ rồi chuyển qua địa phận của chính ngoại đạo ấy. Người ấy đă quay trở lại lần nữa và cầu xin các tỳ khưu sự tu lên bậc trên. Các tỳ khưu đă tŕnh sự việc ấy lên đức Thế Tôn. - “Này các tỳ khưu, người nào trước đây theo ngoại đạo trong khi được thầy tế độ nói về vấn đề thuộc Giáo Pháp đă bắt bẻ lời dạy của thầy tế độ rồi chuyển qua địa phận của chính ngoại đạo ấy, người ấy đi đến th́ không nên cho tu lên bậc trên.

 

2. Này các tỳ khưu, c̣n có hạng người khác, trước đây theo ngoại đạo, mong mỏi sự xuất gia trong Pháp và Luật này, mong mỏi việc tu lên bậc trên, nên ban cho vị ấy bốn tháng parivāsa.[10] Này các tỳ khưu, nên ban cho như vầy: Trước tiên, nên bảo cạo bỏ râu tóc, bảo khoác lên các tấm vải màu ca-sa, bảo đắp thượng y một bên vai, bảo đảnh lễ ở chân các vị tỳ khưu, bảo ngồi chồm hổm, bảo chắp tay lên, và nên bảo rằng: “Ngươi hăy nói như vầy: ‘Tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Phật). Tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Pháp). Tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ (Tôi xin quy y Tăng). Lần thứ nh́, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ. Lần thứ nh́, tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ. Lần thứ nh́, tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến đức Phật là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến Giáo Pháp là nơi nương nhờ. Lần thứ ba, tôi đi đến Hội Chúng là nơi nương nhờ.’”

 

3. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo ấy nên đi đến hội chúng, nên đắp thượng y một bên vai, nên đảnh lễ ở chân các tỳ khưu, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy: “Bạch các ngài, tôi tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo mong mỏi việc tu lên bậc trên trong Pháp và Luật này. Bạch các ngài, tôi đây cầu xin hội chúng bốn tháng parivāsa.” Nên được cầu xin lần thứ nh́. Nên được cầu xin lần thứ ba.

 

4. Hội chúng cần đưc thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực: “Bạch các ngài, xin hội chúng hăy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo mong mỏi việc tu lên bậc trên trong Pháp và Luật này. Vị ấy cầu xin hội chúng bốn tháng parivāsa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên ban cho vị tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo bốn tháng parivāsa. Đây là lời đề nghị.

 

5. Bạch các ngài, xin hội chúng hăy lắng nghe tôi. Vị này tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo mong mỏi việc tu lên bậc trên trong Pháp và Luật này. Vị ấy cầu xin hội chúng bốn tháng parivāsa. Hội chúng ban cho vị tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo bốn tháng parivāsa. Đại đức nào đồng ư việc ban cho bốn tháng parivāsa đến vị tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo xin im lặng; vị nào không đồng ư có thể nói lên.

 

6. Bốn tháng parivāsa đă được hội chúng ban cho vị tên (như vầy) trước đây theo ngoại đạo. Sự việc được hội chúng đồng ư nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

 

7. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế này là người đạt yêu cầu, như thế này là người không đạt yêu cầu. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế nào là người không đạt yêu cầu? Này các tỳ khưu, trường hợp người trước đây theo ngoại đạo đi vào làng quá sớm và trở về quá trễ. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu.

 

8. Này các tỳ khưu c̣n có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo lai văng với đĩ điếm, hoặc lai văng với góa phụ, hoặc lai văng với gái lỡ thời, hoặc lai văng với người vô căn, hoặc lai văng với tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu.

 

9. Này các tỳ khưu c̣n có điều khác nữa, có những công việc lớn nhỏ ǵ đó cần phải làm đối với các vị có Phạm hạnh, trong những trường hợp ấy người trước đây theo ngoại đạo lại không khéo léo, không năng động, không có sự t́m ṭi cách giải quyết các vấn đề ấy, không đủ khả năng làm, không đủ khả năng hướng dẫn (người khác làm). Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu.

 

10. Này các tỳ khưu c̣n có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo không có ước muốn mănh liệt đối với việc đọc tụng, đối với việc học hỏi, đối với tăng thượng giới, đối với tăng thượng tâm, đối với tăng thượng tuệ.[11] Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu.

 

11. Này các tỳ khưu c̣n có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo trở nên giận dữ, không hoan hỷ, không hài ḷng với lời chê bai nói về vị thầy, về quan điểm, về điều mong mỏi, về điều khao khát, về điều nắm giữ của phái ngoại đạo mà từ đó người ấy đă chuyển sang; trở nên hoan hỷ, phấn chấn, hài ḷng với lời chê bai nói về đức Phật, về Giáo Pháp, hoặc về Hội Chúng; trở nên hoan hỷ, phấn chấn, hài ḷng với lời khen ngợi nói về vị thầy, về quan điểm, về điều mong mỏi, về điều khao khát, về điều nắm giữ của phái ngoại đạo mà từ đó người ấy đă chuyển sang; trở nên giận dữ, không hoan hỷ, không hài ḷng với lời khen ngợi nói về đức Phật, về Giáo Pháp, hoặc về Hội Chúng. Này các tỳ khưu, đây là điểm chủ yếu trong việc không đạt yêu cầu của người trước đây theo ngoại đạo. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người không đạt yêu cầu. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo đă đi đến (nếu) là người không đạt yêu cầu như thế ấy th́ không nên cho tu lên bậc trên.

 

12. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế nào là người đạt yêu cầu? Này các tỳ khưu, trường hợp người trước đây theo ngoại đạo đi vào làng không quá sớm và trở về không quá trễ. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu.

 

13. Này các tỳ khưu c̣n có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo không lai văng với đĩ điếm, không lai văng với góa phụ, không lai văng với gái lỡ thời, không lai văng với người vô căn, không lai văng với tỳ khưu ni. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu.

 

14. Này các tỳ khưu c̣n có điều khác nữa, có những công việc lớn nhỏ ǵ đó cần phải làm đối với các vị có Phạm hạnh, trong những trường hợp ấy người trước đây theo ngoại đạo là khéo léo, năng động, có sự t́m ṭi cách giải quyết các vấn đề ấy, có đủ khả năng làm, có đủ khả năng hướng dẫn (người khác làm). Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu.

 

15. Này các tỳ khưu c̣n có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo có ước muốn mănh liệt đối với việc đọc tụng, đối với việc học hỏi, đối với tăng thượng giới, đối với tăng thượng tâm, đối với tăng thượng tuệ. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu.

 

16. Này các tỳ khưu c̣n có điều khác nữa, người trước đây theo ngoại đạo trở nên hoan hỷ, phấn chấn, hài ḷng với lời chê bai nói về vị thầy, về quan điểm, về điều mong mỏi, về điều khao khát, về điều nắm giữ của phái ngoại đạo mà từ đó người ấy đă chuyển sang; trở nên giận dữ, không hoan hỷ, không hài ḷng với lời chê bai nói về đức Phật, về Giáo Pháp, hoặc về Hội Chúng; trở nên giận dữ, không hoan hỷ, không hài ḷng với lời khen ngợi nói về vị thầy, về quan điểm, về điều mong mỏi, về điều khao khát, về điều nắm giữ của phái ngoại đạo mà từ đó người ấy đă chuyển sang; trở nên hoan hỷ, phấn chấn, hài ḷng với lời khen ngợi nói về đức Phật, về Giáo Pháp, hoặc về Hội Chúng. Này các tỳ khưu, đây là điểm chủ yếu trong việc đạt yêu cầu của người trước đây theo ngoại đạo. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo như thế ấy là người đạt yêu cầu. Này các tỳ khưu, người trước đây theo ngoại đạo đă đi đến (nếu) là người đạt yêu cầu như thế ấy th́ nên cho tu lên bậc trên.

 

17. Này các tỳ khưu, nếu người trước đây theo ngoại đạo là trần truồng đi đến, y là trách nhiệm thuộc về thầy tế độ cần được t́m kiếm. Nếu người có tóc chưa được cắt đi đến th́ hội chúng nên được thông báo về việc cạo tóc. Này các tỳ khưu, những người nào là các vị thờ lửa là các đạo sĩ bện tóc, (nếu) các vị ấy đă đi đến th́ nên cho tu lên bậc trên, không cần ban cho parivāsa đến những người ấy. Lư do của điều ấy là ǵ? Này các tỳ khưu, những người ấy là những người thuyết về Nghiệp, là những người thuyết về Nhân Quả. Này các tỳ khưu, nếu người trước đây theo ngoại đạo là người thuộc ḍng Sakya đi đến, (nếu) người ấy đă đi đến th́ nên cho tu lên bậc trên, không cần ban cho parivāsa đến người ấy. Này các tỳ khưu, ta ban cho đặc ân ngoại lệ này đến các thân quyến.”

 

Dứt phần giảng về người trước đây theo ngoại đạo.

 

Tụng phẩm thứ bảy.

 

--ooOoo--

 


 

[1] saddhivihārika: dịch sát theo từ là: ‘vị sống chung trú xá.’

[2] Nếu gấp đôi y lại sẽ có đường gấp ở chính giữa, phần giữa này sẽ ở phần sau lưng khi trùm y vào và là phần thường bị hư hỏng trước nhất do sự cọ xát. Cách gấp y như vầy để hạn chế điều ấy (Theo lời giải thích của ngài Mahāsamaṇa Chao được ghi ở tài liệu Vinayamukha).

[3] Ngài Buddhaghosa giải thích là sự rèn luyện về tâm từ (VinA. v, 983).

[4] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng tăng thượng giới (adhisīla) gồm có bốn tội pārājika và mười ba tội saṅghādisesa. (VinA. v, 989).

[5] Tăng thượng hạnh (ajjhācāra) là các tội khác thuộc về năm nhóm tội của giới bổn Pātimokkha (Sđd.).

[6] Tri kiến cực đoan (atidiṭṭhi) là từ bỏ chánh kiến và chấp nhận hữu biên kiến (Sđd.). Xem phần giải thích về hữu biên kiến (antaggāhikā diṭṭhi) ở Paṭisambhidāmagga - Phân Tích Đạo tập 1 (TTPV 37, trang 286-295).

[7] Ngài Buddhaghosa giải thích về các điều học thuộc về phận sự căn bản (abhisamācārikā sikkhā) là các phận sự được quy định ở trong Khandhaka tức là Mahāvagga - Đại PhẩmCullavagga - Tiểu Phẩm (VinA. v, 990).

[8] C̣n các điều học thuộc về phần đầu của Phạm hạnh (ādibrahmacariyikā sikkhā) là phần quy định dành cho bậc hữu học, tức là hai phần giới bổn Pātimokkha đă được quy định cho tỳ khưu và tỳ khưu ni (Sđd.).

[9] Hướng dẫn về Thắng Pháp là có khả năng hướng dẫn về sự phân biệt Danh Sắc, và hướng dẫn về Thắng Luật là hướng dẫn về toàn bộ Tạng Luật (Sđd.).

[10] Parivāsa: Trường hợp vị tỳ khưu phạm tội saṅghādisesa có che giấu muốn được trong sạch trở lại phải xin hành phạt cũng có tên là parivāsa. Tuy có tên gọi giống nhau nhưng phận sự thực hành không giống nhau (ND).

[11] Ngài Buddhaghosa giải thích về tăng thượng giới (adhisīla) là giới bổn Pātimokkha, tăng thượng tâm (adhicitta) là sự tu tập các loại định hợp thế, tăng thượng tuệ (adhipaññā) là sự tu tập (các tâm) Đạo Siêu Thế (VinA. v, 993).

 

 

   
 

| 00 | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | 07 |

 
 

<Mục Lục><Đầu Trang>