Trang Chính

Dīghanikāya & Trường Bộ - tập I

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

 

DĪGHANIKĀYA & TRƯỜNG BỘ tập I

(Văn bản này được thực hiện tạm thời để nghiên cứu, không phải văn bản chính thức của Công Tŕnh Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāli - Việt)

 

Cập Nhật: Monday, June 25, 2012

 

03. AMBAṬṬHASUTTAṂ (tiếp theo)

 

03. AMBAṬṬHASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ

03. KINH AMBATTHA - HT. Thích Minh Châu, Nguồn: Budsas, phiên bản 7.07

Vijjācaraṇakathā

278. Katamaṃ pana taṃ bho Gotama caraṇaṃ, katamā ca pana sā vijjāti.

 

Tụng phẩm thứ hai

1. - Tôn giả Gotama, nghĩa chữ Giới hạnh trong bài kệ ấy là ǵ? Nghĩa chữ Tuệ trong bài kệ ấy là ǵ?

 

Na kho Ambaṭṭha anuttarāya vijjācaraṇasampadāya jātivādo vā vuccati, gottavādo vā vuccati, mānavādo vā vuccati “Arahasi vā maṃ tvaṃ, na vā maṃ tvaṃ arahasī”ti. Yattha kho Ambaṭṭha āvāho vā hoti, vivāho vā hoti, āvāhavivāho vā hoti, etthetaṃ vuccati jātivādo vā itipi, gottavādo vā itipi, mānavādo vā itipi “Arahasi vā maṃ tvaṃ, na vā maṃ tvaṃ arahasī”ti.

- Này Ambattha, một vị đă thành tựu vô thượng trí đức không có luận nghị đến sự thọ sanh, không có luận nghị đến giai cấp hay không có luận nghị đến ngă mạn với lời nói: "Ngươi bằng ta hay ngươi không bằng ta". Chỗ nào nói đến cưới hỏi hay rước dâu đi, hay cả hai, chỗ đó mới có luận nghị đến sự thọ sanh, luận nghị đến giai cấp hay luận nghị đến ngă mạn với lời nói: "Ngươi bằng ta hay không bằng ta".

 

Ye hi keci Ambaṭṭha jātivādavinibaddhā vā gottavādavinibaddhā vā mānavādavinibaddhā vā āvāhavivāhavinibaddhā vā, ārakā te anuttarāya vijjācaraṇasampadāya. Pahāya kho Ambaṭṭha jātivādavinibaddhañca gottavādavinibaddhañca mānavādavinibaddhañca āvāhavivāhavinibaddhañca anuttarāya vijjācaraṇasampadāya sacchikiriyā hotīti.

 

Này Ambattha, những ai c̣n chấp trước lư thuyết thọ sanh, c̣n chấp trước lư thuyết giai cấp, c̣n chấp trước lư thuyết kiêu mạn, hoặc c̣n chấp trước cưới hỏi rước dâu, những người ấy c̣n rất xa sự thành tựu vô thượng trí đức. Này Ambattha, không chấp trước lư thuyết thọ sanh, không chấp trước lư thuyết giai cấp, không chấp trước lư thuyết kiêu mạn, không chấp trước cưới hỏi, đưa dâu, người ấy tức chứng ngộ vô thượng trí đức.

 

279. Katamaṃ pana taṃ bho Gotama caraṇaṃ, katamā ca sā vijjāti.

2. - Tôn giả Gotama, thế nào là Giới đức trong bài kệ ấy? Thế nào là Trí tuệ trong bài kệ ấy?

 

Idha Ambaṭṭha Tathāgato loke uppajjati Arahaṃ Sammāsambuddho Vijjācaraṇasampanno Sugato Lokavidū Anuttaro purisadammasārathi Satthā devamanussānaṃ Buddho Bhagavā, so imaṃ lokaṃ sadevakaṃ samārakaṃ sabrahmakaṃ sassamaṇabrāhmaṇiṃ pajaṃ sadevamanussaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedeti, so dhammaṃ deseti ādikalyāṇaṃ majjhekalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ sātthaṃ sabyañjanaṃ kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāseti, taṃ dhammaṃ suṇāti gahapati vā gahapatiputto vā aññatarasmiṃ vā kule paccājāto, so taṃ dhammaṃ sutvā Tathāgate saddhaṃ paṭilabhati, so tena saddhāpaṭilābhena samannāgato iti paṭisañcikkhati ‑pa‑. (Yathā sāmaññaphale, evaṃ vitthāretabbaṃ.)

So vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati ‑pa‑. Idampissa hoti caraṇasmiṃ.

Puna caparaṃ Ambaṭṭha bhikkhu vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati ‑pa‑. Idampissa hoti caraṇasmiṃ.

Puna caparaṃ Ambaṭṭha bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti “Upekkhako satimā sukhavihārī”ti, tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati ‑pa‑. Idampissa hoti caraṇasmiṃ.

Puna caparaṃ Ambaṭṭha bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati ‑pa‑. Idampissa hoti caraṇasmiṃ. Idaṃ kho taṃ Ambaṭṭha caraṇaṃ.

So evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte ñāṇadassanāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti ‑pa‑. Idampissa hoti vijjāya ‑pa‑ nāparaṃ itthattāyāti pajānāti, idampissa hoti vijjāya. Ayaṃ kho sā Ambaṭṭha vijjā.

 

 

- Ở đây, này Ambattha, Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc:

... (xin xem kinh "Sa-môn quả" - kinh số 2, từ đoạn số 40 đến số 98, tới câu: "Không có đời sống nào khác nữa" chỉ khác danh từ xưng hô và câu kết từng đoạn. Như đoạn này, câu kết là "Như vậy, này Ambattha, là vị Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh".)

 

Ayaṃ vuccati Ambaṭṭha bhikkhu “Vijjāsampanno” itipi, “Caraṇasampanno” itipi, “Vijjācaraṇasampanno” itipi, imāya ca Ambaṭṭha vijjāsampadāya caraṇasampadāya ca aññāvijjāsampadā ca caraṇasampadā ca uttaritarā vā paṇītatarā vā natthi.

Này Ambattha, như vậy gọi là Tỷ-kheo thành tựu trí tuệ, thành tựu giới đức, thành tựu giới đức và trí tuệ. Này Ambattha, không có sự thành tựu trí đức nào khác siêu việt hơn, cao thượng hơn sự thành tựu trí đức này.

 

Catuapāyamukha

280. Imāya kho Ambaṭṭha anuttarāya vijjācaraṇasampadāya cattāri apāyamukhāni bhavanti. Katamāni cattāri, idha Ambaṭṭha ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā imaññeva anuttaraṃ vijjācaraṇasampadaṃ anabhisambhuṇamāno khārividhamādāya (Khārivividhamādāya - Sī, Syā, I) araññāyatanaṃ ajjhogāhati “Pavattaphalabhojano bhavissāmī”ti, so aññadatthu Vijjācaraṇasampannasseva paricārako sampajjati. Imāya kho Ambaṭṭha anuttarāya vijjācaraṇasampadāya idaṃ paṭhamaṃ apāyamukhaṃ bhavati.

 

 

3. Này Ambattha, có bốn nguyên nhân đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này. Thế nào là bốn? Này Ambattha, ở đấy có Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, lại mang dụng cụ của nhà đạo sĩ, đi vào rừng sâu và nguyện: "Ta chỉ ăn trái cây rụng mà sống". Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị giả của vị đă thành tựu trí đức. Này Ambattha, đó là nguyên nhân thứ nhất đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.

 

Puna caparaṃ Ambaṭṭha idhekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā imañceva anuttaraṃ vijjācaraṇasampadaṃ anabhisambhuṇamāno pavattaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno kudālapiṭakaṃ (Kuddālapiṭakaṃ - Sī, Syā, I) ādāya araññavanaṃ ajjhogāhati “Kandamūlaphalabhojano bhavissāmī”ti, so aññadatthu vijjācaraṇasampannasseva paricārako sampajjati. Imāya kho Ambaṭṭha anuttarāya vijjācaraṇasampadāya idaṃ dutiyaṃ apāyamukhaṃ bhavati.

 

Lại nữa, này Ambattha ở đây có vị Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, và chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, lại mang theo cuốc và giỏ đi vào rừng sâu và nguyện: "Ta chỉ ăn củ, rễ và trái cây để sống". Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị giả của vị đă thành tựu trí đức. Này Ambattha, đó là nguyên nhân thứ hai đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.

 

Puna caparaṃ Ambaṭṭha idhekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā imañceva anuttaraṃ vijjācaraṇasampadaṃ anabhisambhuṇamāno pavattaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno kandamūlaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno gāmasāmantaṃ vā nigamasāmantaṃ vā agyāgāraṃ karitvā aggiṃ paricaranto acchati, so aññadatthu vijjācaraṇasampannasseva paricārako sampajjati. Imāya kho Ambaṭṭha anuttarāya vijjācaraṇasampadāya idaṃ tatiyaṃ apāyamukhaṃ bhavati.

 

Lại nữa, này Ambattha, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây để sống và chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống, lại nhen lửa tại cuối làng hay sống thờ lửa ấy. Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị giả của vị đă thành tựu trí đức. Này Ambattha đó là nguyên nhân thứ ba đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.

 

Puna caparaṃ Ambaṭṭha idhekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā imañceva anuttaraṃ vijjācaraṇasampadaṃ anabhisambhuṇamāno pavattaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno kandamūlaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno aggipāricariyañca anabhisambhuṇamāno cātumahāpathe catudvāraṃ agāraṃ karitvā acchati “Yo imāhi catūhi disāhi āgamissati samaṇo vā, brāhmaṇo vā, tamahaṃ yathāsatti yathābalaṃ paṭipūjessāmī”ti, so aññadatthu vijjācaraṇasampannasseva paricārako sampajjati. Imāya kho Ambaṭṭha anuttarāya vijjācaraṇasampadāya idaṃ catutthaṃ apāyamukhaṃ bhavati.

Imāya kho Ambaṭṭha anuttarāya vijjācaraṇasampadāya imāni cattāri apāyamukhāni bhavanti.

 

Lại nữa Ambattha, ở đây có Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt được pháp ăn trái cây rụng để sống, chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống, chưa thấu đạt pháp tôn thờ lửa, lại xây dựng một ngôi nhà có bốn cửa tại ngă tư đường, sống và nguyện: "Từ bốn phương nếu có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào lại, th́ ta sẽ cúng dường, tùy theo khả năng, tùy theo sức lực của ta". Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị giả của vị đă thành tựu trí đức. Này Ambattha, đó là nguyên nhân thứ tư đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.

Này Ambattha đó là bốn nguyên nhân đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.

 

281. Taṃ kiṃ maññasi Ambaṭṭha, apinu tvaṃ imāya anuttarāya vijjācaraṇasampadāya sandissasi sācariyakoti. Nohidaṃ bho Gotama, kocāhaṃ bho Gotama sācariyako, kā ca anuttarā vijjācaraṇasampadā, ārakāhaṃ bho Gotama anuttarāya vijjācaraṇasampadāya sācariyakoti.

 

4. Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi và thầy ngươi có được xem là đă thành tựu vô thượng trí đức này không? - Bạch không, Tôn giả Gotama. Con và thầy con là ǵ, Tôn giả Gotama, để có thể so sánh với sự thành tựu vô thượng trí đức. Tôn giả Gotama, con và thầy con c̣n rất xa sự thành tựu vô thượng trí đức.

 

Taṃ kiṃ maññasi Ambaṭṭha, apinu tvaṃ imañceva anuttaraṃ vijjācaraṇasampadaṃ anabhisambhuṇamāno khārividhamādāya araññavanamajjhogāhasi sācariyako “Pavattaphalabhojano bhavissāmī”ti.

Nohidaṃ bho Gotama.

- Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, nhà ngươi có đem theo dụng cụ của nhà đạo sĩ, đi vào rừng sâu và nguyện: "Ta và thầy ta chỉ ăn trái cây rụng mà sống?"

- Bạch không, Tôn giả Gotama.

 

Taṃ kiṃ maññasi Ambaṭṭha, apinu tvaṃ imañceva anuttaraṃ vijjācaraṇasampadaṃ anabhisambhuṇamāno pavattaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno kudālapiṭakaṃ ādāya araññavanamajjhogāhasi sācariyako “Kandamūlaphalabhojano bhavissāmī”ti.

Nohidaṃ bho Gotama.

 

- Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, ngươi có mang theo cuốc và giỏ đi vào rừng sâu và nguyện:

"Ta và thầy ta chỉ ăn rễ và trái cây để sống không?"

- Bạch không, Tôn giả Gotama.

 

Taṃ kiṃ maññasi Ambaṭṭha, apinu tvaṃ imañceva anuttaraṃ vijjācaraṇasampadaṃ anabhisambhuṇamāno pavattaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno kandamūlaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno gāmasāmantaṃ vā nigamasāmantaṃ vā agyāgāraṃ karitvā aggiṃ paricaranto acchasi sācariyakoti.

Nohidaṃ bho Gotama.

 

- Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống, ngươi có nhen lửa tại cuối làng hay cuối xóm và sống thờ lửa ấy với thầy ngươi không?"

- Bạch không, Tôn giả Gotama.

 

Taṃ kiṃ maññasi Ambaṭṭha, apinu tvaṃ imañceva anuttaraṃ vijjācaraṇasampadaṃ anabhisambhuṇamāno pavattaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno kandamūlaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno aggipāricariyañca anabhisambhuṇamāno cātumahāpathe catudvāraṃ agāraṃ karitvā acchasi sācariyako “Yo imāhi catūhi disāhi āgamissati samaṇo vā brāhmaṇo vā, taṃ mayaṃ yathāsatti yathābalaṃ paṭipūjessāmā”ti.

Nohidaṃ bho Gotama.

 

- Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống và chưa thấu đạt sự thờ lửa, ngươi và thầy ngươi có xây dựng một ngôi nhà có bốn cửa tại ngă tư đường với lời nguyện: "Từ bốn phương, nếu có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào lại - th́ ta sẽ cúng dường tùy theo khả năng, tùy theo sức lực của ta không?"

- Bạch không, Tôn giả Gotama.

 

282. Iti kho Ambaṭṭha, imāya ceva tvaṃ anuttarāya vijjācaraṇasampadāya parihīno sācariyako, ye cime anuttarāya vijjācaraṇasampadāya cattāri apāyamukhāni bhavanti, tato ca tvaṃ parihīno sācariyako. Bhāsitā kho pana te esā Ambaṭṭha ācariyena brāhmaṇena pokkharasātinā vācā “Ke ca muṇḍakā samaṇakā ibbhā kaṇhā bandhupādāpaccā, kā ca tevijjānaṃ brāhmaṇānaṃ sākacchā”ti attanā āpāyikopi aparipūramāno. Passa Ambaṭṭha yāva aparaddhañca te idaṃ ācariyassa brāhmaṇassa Pokkharasātissa.

 

- Này Ambattha, như vậy ngươi và thầy ngươi c̣n khiếm khuyết sự thành tựu vô thượng trí đức này, c̣n khiếm khuyết bốn nguyên nhân đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này, Ambattha, thế mà những lời này lại do thầy của ngươi, Bà-la-môn Pokkharasàdi thốt ra: "Những hạng Sa-môn giả hiệu, đầu trọc, đê tiện, đen đủi, sanh từ nơi chân bà con ta là ai mà có thể đàm luận với những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vệ đà". Một vị tự ḿnh chưa thành tựu được những pháp đưa đến sự thất bại (cho những pháp cao thượng hơn). Này Ambattha, ngươi xem, thầy của ngươi, Bà-la-môn Pokkharasàdi đă lỗi lầm như thế nào?

 

Pubbaka-isibhāvānuyoga

283. Brāhmaṇo kho pana Ambaṭṭha Pokkharasāti rañño pasenadissa Kosalassa dattikaṃ bhuñjati, tassa rājā Pasenadi Kosalo sammukhībhāvaṃpi na dadāti, yadāpi tena manteti, tirodussantena manteti. Yassa kho pana Ambaṭṭha dhammikaṃ payātaṃ bhikkhaṃ paṭiggaṇheyya, kathaṃ tassa rājā Pasenadi Kosalo sammukhībhāvaṃpi na dadeyya, passa Ambaṭṭha yāva aparaddhañca te idaṃ ācariyassa brāhmaṇassa Pokkharasātissa.

 

 

6. Này Ambattha, Bà-la-môn Pokkharasàdi hưởng thọ sự cung cấp của vua Pasenadi nước Kosala. Vua Pasenadi nước Kosala cũng không cho phép thầy ngươi diện kiến. Nếu vua hội nghị với thầy ngươi thời chỉ nói thầy ngươi ngang qua một tấm màn. Này Ambattha, tại sao vua Pasenadi nước Kosala lại không cho phép thầy ngươi diện kiến, người mà vua cung cấp thực phẩm thuần tịnh chân chánh. Này Ambattha, ngươi xem thầy của ngươi, Bà-la-môn Pokkharasàdi đă lỗi lầm như thế nào?

 

284. Taṃ kiṃ maññasi Ambaṭṭha, idha rājā Pasenadi Kosalo hatthigīvāya vā nisinno assapiṭṭhe vā nisinno rathūpatthare vā ṭhito uggehi vā rājaññehi vā kiñcideva mantanaṃ manteyya, so tamhā padesā apakkamma ekamantaṃ tiṭṭheyya, atha āgaccheyya suddo vā suddadāso vā, tasmiṃ padese ṭhito tadeva mantanaṃ manteyya “Evaṃpi rājā Pasenadi Kosalo āha, evaṃpi rājā Pasenadi Kosalo āhā”ti. Apinu so rājabhaṇitaṃ vā bhaṇati rājamantanaṃ vā manteti, ettāvatā so assa rājā vā rājamatto vāti.

Nohidaṃ bho Gotama.

7. Này Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Như vua Pasenadi nước Kosala hoặc ngồi trên cổ voi, hoặc ngồi trên lưng ngựa, hoặc đứng trên lưng ngựa, hoặc đứng trên tấm thảm xe cùng các vị đại thần hay vương tử, luận bàn quốc sự. Nếu vua rời khỏi chỗ ấy hay đứng qua bên, một người Thủ đà hay đầy tớ của một người Thủ đà đến. Người này cũng đứng tại chỗ ấy, cũng luận bàn quốc sự và nói: "Vua Pasenadi nước Kosala đă nói như vậy". Dầu người ấy nói như lời nói của vua, luận bàn như lời luận bàn của vua, người ấy có thể là vua hay là bị phó vương không?

- Không thể được, Tôn giả Gotama.

 

285. Evameva kho tvaṃ Ambaṭṭha ye te ahesuṃ brāhmaṇānaṃ pubbakā isayo mantānaṃ kattāro mantānaṃ pavattāro, yesamidaṃ etarahi brāhmaṇā porāṇaṃ mantapadaṃ gītaṃ pavuttaṃ samihitaṃ, tadanugāyanti tadanubhāsanti bhāsitamanubhāsanti vācitamanuvācenti, seyyathidaṃ, Aṭṭhako Vāmako Vāmadevo Vessāmitto Yamataggi (Yamadaggi - Ka) Aṅgīraso Bhāradvājo Vāseṭṭho Kassapo Bhagu, tyāhaṃ mante adhiyāmi sācariyakoti, tāvatā tvaṃ bhavissasi isi vā isitthāya vā paṭipannoti

Netaṃ ṭhānaṃ vijjati.

 

8. - Này Ambattha, nhà ngươi cũng vậy. Thuở xưa, những vị ẩn sĩ giữa các Bà-la-môn, những tác giả các chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật, đă hát, đă nói lên, đă sưu tầm, những Thánh cú mà nay những Bà-la-môn hiện tại cũng hát lên, nói lên, đọc lên giống như các vị trước đă làm. Những vị ẩn sĩ ấy tên là Atthaka (A sá ca), Vàmaka (Bà-ma), Vàmadeva (Bà-ma -đề-bà), Vessàmitta (T́-bà-thẩm-sá), Yamataggi (Gia-bà -đề-bà), Angirasa (Ương-kỳ-la), Bhàradvàja (Bạt-la-đà thẩm-xà), Vàsettha (Bà-ma-sá) Kassapa (Ca-diếp), Bhagu (Bà-cửu). Dầu ngươi có thể nói: "Ta, một đệ tử, học thuộc ḷng những chú thuật của các vị ấy", chỉ với điều kiện này, ngươi có thể được xem là một vị ẩn sĩ hay đă chứng địa vị của một ẩn sĩ không?

- Việc này không thể có được.

 

286. Taṃ kiṃ maññasi Ambaṭṭha, kinti te sutaṃ brāhmaṇānaṃ vuddhānaṃ mahallakānaṃ ācariyapācariyānaṃ bhāsamānānaṃ ye te ahesuṃ brāhmaṇānaṃ pubbākā isayo mantānaṃ kattāro mantānaṃ pavattāro, yesamidaṃ etarahi brāhmaṇā porāṇaṃ mantapadaṃ gītaṃ pavuttaṃ samihitaṃ, tadanugāyanti tadanubhāsanti bhāsitamanubhāsanti vācitamanuvācenti, seyyathidaṃ, Aṭṭhako Vāmako Vāmadevo Vessāmitto Yamataggi Aṅgīraso Bhāradvājo Vāseṭṭho Kassapo Bhagu, evaṃ su te sunhātā suvilittā kappitakesamassū āmukkamaṇikuṇḍalābharaṇā (Āmuttamālābharaṇā - Sī, Syā, I) odātavatthavasanā pañcahi kāmaguṇehi samappitā samaṅgībhūtā paricārenti, seyyathāpi tvaṃ etarahi sācariyakoti.

Nohidaṃ bho Gotama.

 

9. Ambattha, ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có được nghe những vị Bà-la-môn, trưởng lăo, tôn túc, những vị giáo sư và tổ sư nói đến không? Thuở xưa những vị ẩn sĩ, giữa các Bà-la-môn, những tác giả của chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật đă hát, đă nói lên, đă sưu tầm những Thánh cú mà nay những Bà-la-môn, cũng hát lên, nói lên, đọc lên giống như các vị trước đă làm. Những vị ẩn sĩ ấy tên là Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Angirasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu. Những vị ấy có khéo tắm, khéo chải chuốt, tóc và râu khéo sửa soạn, trang điểm với ṿng hoa và ngọc, mặc toàn đồ trắng, tận hưởng và tham đắm năm món dục lạc, như người và thầy của ngươi hiện nay không?

- Không có vậy. Tôn giả Gotama.

 

‑pa‑ evaṃ su te sālīnaṃ odanaṃ sucimaṃsūpasecanaṃ vicitakāḷakaṃ anekasūpaṃ anekabyañjanaṃ paribhuñjanti, seyyathāpi tvaṃ etarahi sācariyakoti.

Nohidaṃ bho Gotama.

 

10. - Các vị ẩn sĩ ấy có dùng cơm nấu từ gạo trắng thượng hạng mà các hạt đen được gạn bỏ ra, dùng các món canh, các món đồ ăn nhiều loại không, như ngươi và thầy ngươi hiện nay không?

- Không có vậy, Tôn giả Gotama.

 

‑pa‑ evaṃ su te veṭhakanatapassāhi nārīhi paricārenti, seyyathāpi tvaṃ etarahi sācariyakoti.

Nohidaṃ bho Gotama.

 

- Hay các vị ấy được những thiếu nữ có đường eo và thắt lưng có tua hầu hạ như ngươi và thầy ngươi hiện nay không?

- Không có vậy, Tôn giả Gotama.

 

‑pa‑ evaṃ su te kuttavālehi vaḷavārathehi dīghāhi patodalaṭṭhīhi vāhane vitudentā vipariyāyanti, seyyathāpi tvaṃ etarahi sācariyakoti.

Nohidaṃ bho Gotama.

 

- Hay những vị ấy đi trên những xe do những con ngựa cái có bờm, đuôi được bện và dùng những cây roi và gậy dài như ngươi và thầy ngươi hiện nay không?

- Không có vậy, Tôn giả Gotama.

 

‑pa‑ evaṃ su te ukkiṇṇaparikhāsu okkhittapalighāsu nagarūpakārikāsu dīghāsivudhehi (Dīghāsibaddhehi - Syā, I) purisehi rakkhāpenti, seyyāthāpi tvaṃ etarahi sācariyakoti.

Nohidaṃ bho Gotama.

 

- Hay những vị ấy sống được che chở trong những thành lũy có những chiến hào bao bọc, có những cửa thành hạ xuống, có những chiến sĩ mang gươm dài hộ vệ như ngươi và thầy ngươi hiện nay không?

- Không có vậy, Tôn giả Gotama.

 

Iti kho Ambaṭṭha neva tvaṃ isi na isitthāya paṭipanno sācariyako, yassa kho pana Ambaṭṭha mayi kaṅkhā vā vimati vā so maṃ pañhena, ahaṃ veyyākaraṇena sodhissāmīti.

 

- Như vậy, này Ambattha, ngươi và thầy ngươi không phải là một ẩn sĩ, không giống đời sống của nhà ẩn sĩ. Này Ambattha, nếu có ǵ nghi ngờ, có ǵ phân vân về Ta, hăy hỏi Ta và Ta sẽ trả lời.

Dvelakkhaṇādassana

287. Atha kho Bhagavā vihārā nikkhamma caṅkamaṃ abbhuṭṭhāsi. Ambaṭṭhopi māṇavo vihārā nikkhamma caṅkamaṃ abbhuṭṭhāsi. Atha kho Ambaṭṭho māṇavo Bhagavantaṃ caṅkamantaṃ anucaṅkamamāno Bhagavato kāye dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇāni samannesi, addasā kho Ambaṭṭho māṇavo Bhagavato kāye dvattiṃ samahāpurisalakkhaṇāni yebhuyyena ṭhapetvā dve, dvīsu mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati, kosohite ca vatthaguyhe pahūtajivhatāya ca.

 

 

11. Lúc bấy giờ, Thế Tôn ra khỏi tịnh xá và bắt đầu đi kinh hành. Thanh niên Ambattha đi theo sau Thế Tôn đang đi kinh hành và t́m đếm ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa măn, chưa được hài ḷng, tức là tướng mă âm tàng và tướng lưỡi rộng dài.

288. Atha kho Bhagavato etadahosi “Passati kho me ayaṃ Ambaṭṭho māṇavo dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇāni yebhuyyena ṭhapetvā dve, dvīsu mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati, kosohite ca vatthaguyhe pahūtajivhatāya cā”ti.

 

12. Khi bấy giờ, Thế Tôn nghĩ rằng: "Thanh niên Ambattha này thấy ở nơi ta gần đủ ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân trừ hai tướng. Đối với hai tướng tốt của vị đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa măn, chưa được hài ḷng, tức là tướng mă âm tàng và tướng lưỡi rộng dài".

 

Atha kho Bhagavā tathārūpaṃ iddhābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkhāsi. Yathā addasa Ambaṭṭho māṇavo Bhagavato kosohitaṃ vatthaguyhaṃ. Atha kho Bhagavā jivhaṃ ninnāmetvā ubhopi kaṇṇasotāni anumasi paṭimasi, ubhopi nāsikasotāni anumasi paṭimasi, kevalaṃpi nalāṭamaṇḍalaṃ jivhāya chādesi. Atha kho Ambaṭṭhassa māṇavassa etadahosi “Samannāgato kho samaṇo Gotamo dvattiṃ samahāpurisalakkhaṇehi paripuṇṇehi no aparipuṇṇehī”ti Bhagavantaṃ etadavoca “Handa ca dāni mayaṃ bho Gotama gacchāma, bahukiccā mayaṃ bahukaraṇīyā”ti.

Yassadāni tvaṃ Ambaṭṭha kālaṃ maññasīti.

Atha kho Ambaṭṭho māṇavo vaḷavārathamāruyha pakkāmi.

 

Thế Tôn liền dùng thần thông khiến thanh niên Ambattha thấy tướng mă âm tàng của Thế Tôn. Và Thế Tôn le lưỡi, rờ đến, liếm đến hai lỗ tai, rờ đến, liếm đến hai lỗ mũi, và dùng lưỡi che khắp cả vầng trán. Lúc bấy giờ, thanh niên Ambattha liền nghĩ rằng: "Sa-môn Gotama đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân, không phải không đầy đủ". Và nói với Thế Tôn: "Tôn giả Gotama, nay chúng tôi xin đi, chúng tôi rất bận, có nhiều việc cần phải làm".

- Này Ambattha, hăy làm những ǵ ngươi nghĩ là phải thời.

Rồi thanh niên Ambattha leo lên xe do ngựa cái kéo và ra đi.

 

289. Tena kho pana samayena brāhmaṇo Pokkharasāti ukkaṭṭhāya nikkhamitvā mahatā brāhmaṇagaṇena saddhiṃ sake ārāme nisinno hoti Ambaṭṭhaṃyeva māṇavaṃ paṭimānento. Atha kho Ambaṭṭho māṇavo yena sako ārāmo tena pāyāsi, yāvatikā yānassa bhūmi yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikova yena brāhmaṇo Pokkharasāti tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā brāhmaṇaṃ pokkharasātiṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi.

 

13. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Pokkharasàdi ra khỏi Ukkattha với một đại chúng Bà-la-môn, ngồi tại hoa viên của ḿnh và chờ đợi thanh niên Ambattha. Khi thanh niên Ambattha đi đến hoa viên, đi xe cho đến chỗ c̣n đi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Bà-la-môn Pokkharasàdi đang ngồi. Đến xong, thanh niên Ambattha đảnh lễ Bà-la-môn Pokkharasàdi và ngồi xuống một bên.

 

290. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho Ambaṭṭhaṃ māṇavaṃ brāhmaṇo Pokkharasāti etadavoca

Sau khi thanh niên Ambattha ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Pokkharasàdi nói:

 

“Kacci tāta Ambaṭṭha addasa taṃ bhavantaṃ Gotaman”ti.

Addasāma kho mayaṃ bho taṃ bhavantaṃ Gotamanti.

Kacci tāta Ambaṭṭha taṃ bhavantaṃ Gotamaṃ tathā santaṃyeva saddo abbhuggato no aññathā, kacci pana so bhavaṃ Gotamo tādiso no aññādisoti.

Tathā santaṃyeva bho taṃ bhavantaṃ Gotamaṃ saddo abbhuggato no aññathā, tādisova so bhavaṃ Gotamo no aññādiso, samannāgato ca so bhavaṃ Gotamo dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇehi paripuṇṇehi no aparipuṇṇehīti.

 

14. - Này Ambattha thân mến, ngươi đă thấy Sa-môn Gotama chưa?

- Chúng con thấy Tôn giả Gotama rồi.

- Này Ambattha thân mến, có phải Tôn giả Gotama đúng với tin đồn đă truyền đi, chớ không phải khác?

- Tôn giả Gotama đúng với tin đồn đă truyền đi, chớ không phải khác. Tôn giả Gotama là như vậy, chớ không phải khác. Tôn giả Gotama đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của vị đại nhân, chớ không phải thiếu.

 

Ahu pana te tāta Ambaṭṭha samaṇena Gotamena saddhiṃ kocideva kathāsallāpoti.

Ahu kho me bho samaṇena Gotamena saddhiṃ kocideva kathāsallāpoti.

Yathā kathaṃ pana te tāta Ambaṭṭha ahu samaṇena Gotamena saddhiṃ kocideva kathāsallāpoti.

Atha kho Ambaṭṭho māṇavo yāvatako (Yāvatiko - Ka, I) ahosi Bhagavatā saddhiṃ kathāsallāpo, taṃ sabbaṃ brāhmaṇassa Pokkharasātissa ārocesi.

 

- Này Ambattha thân mến, con có cùng với Tôn giả Gotama đàm luận không?

- Con có đàm luận với Tôn giả Gotama.

- Này Ambattha thân mến, cuộc đàm luận ấy như thế nào?

Thanh niên Ambattha liền thuật cho Bà-la-môn Pokkharasàdi rơ tất cả cuộc hội đàm với Tôn giả Gotama.

 

291. Evaṃ vutte brāhmaṇo Pokkharasāti Ambaṭṭhaṃ māṇavaṃ etadavoca

15. Nghe nói như vậy, Bà-la-môn Pokkharasàdi nói với thanh niên Ambattha:

 

“Aho vata re amhākaṃ paṇḍitaka (PaṇḍitaKā), aho vata re amhākaṃ bahussutaka (Bahussutakā,), aho vata re amhākaṃ tevijjaka (Tevijjakā - Ka), evarūpena kira bho puriso atthacarakena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjeyya. Yadeva kho tvaṃ Ambaṭṭha taṃ bhavantaṃ Gotamaṃ evaṃ āsajja āsajja avacāsi, atha kho so bhavaṃ Gotamo amhepi evaṃ upaneyya upaneyya avaca. Aho vata re amhākaṃ paṇḍitaka, aho vata re amhākaṃ bahussutaka, aho vata re amhākaṃ tevijjaka, evarūpena kira bho puriso atthacarakena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjeyyā”ti,

Kupito (So kupito - I) anattamano Ambaṭṭhaṃ māṇavaṃ padasāyeva pavattesi. Icchati ca tāvadeva Bhagavantaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ.

- Ngươi thật là nhà học giả đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà đa văn đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà tinh thông ba quyển Vệ đà đốn mạt của chúng ta. Người ta nói những ai có sự cư xử như vậy, khi thân hoại mạng chung, sẽ phải sanh vào cơi ác, đọa xứ, địa ngục. Này Ambattha, ngươi càng công kích Tôn giả Gotama bao nhiêu, lại càng bị Tôn giả Gotama lật tẩy chúng ta bấy nhiêu. Ngươi thật là nhà học giả đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà đa văn đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà tinh thông ba quyển Vệ đà đốn mạt của chúng ta! Người ta nói, những ai có sự cư xử như vậy, khi thân hoại mạng chung, sẽ phải sanh vào cơi ác, đọa xứ, địa ngục.

Bà-la-môn Pokkharasàdi tức giận, bực bội, dùng chân đá thanh niên Ambattha bổ lộn nhào rồi lập tức muốn đi gặp đến Thế Tôn.

 

Pokkharasātibuddhūpasaṅkamana

292. Atha kho te brāhmaṇā brāhmaṇaṃ Pokkharasātiṃ etadavocuṃ “Ativikālo kho bho ajja samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ svedāni (Dāni sve - Sī, Ka) bhavaṃ Pokkharasāti samaṇaṃ Gotamaṃ dassānāya upasaṅkamissatī”ti.

 

 

16. Khi ấy, những người Bà-la-môn này thưa với Bà-la-môn Pokkharasàdi: "Hôm nay th́ giờ đă quá trễ để đi thăm Sa-môn Gotama. Ngày mai Tôn giả Pokkharasàdi hăy đi thăm Sa-môn Gotama".

Atha kho brāhmaṇo Pokkharasāti sake nivesane paṇītaṃ khādanīyaṃ bhojanīyaṃ paṭiyādāpetvā yāne āropetvā ukkāsu dhāriyamānāsu ukkaṭṭhāya niyyāsi. Yena icchānaṅgalavanasaṇḍo tena pāyāsi. Yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikova yena Bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā Bhagavatā saddhiṃ sammodi, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi.

 

Tuy vậy, Bà-la-môn Pokkharasàdi vẫn cho làm các món ăn thượng vị, loại cứng loại mềm tại nhà riêng, chở trên các xe, và dưới ánh sáng của những ngọn đuốc từ Ukkattha đi ra và đi đến khóm rừng Icchànankala. Vị này đi xe cho đến chỗ c̣n đi xe được rồi xuống xe đi bộ đến Thế Tôn. Khi đi đến, liền nói với Thế Tôn những lời hỏi thăm xă giao, rồi ngồi xuống một bên.

293. Ekamantaṃ nisinno kho brāhmaṇo Pokkharasāti Bhagavantaṃ etadavoca

Khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Pokkharasàdi nói với Thế Tôn:

 

Āgamā nu khvidha bho Gotama amhākaṃ antevāsī ambaṭṭho māṇavo”ti.

Āgamā kho te (Tedha - Syā; te idha - I) brāhmaṇa antevāsī Ambaṭṭho māṇavoti.

Ahu pana te bho Gotama Ambaṭṭhena māṇavena saddhiṃ kocideva kathāsallāpoti.

Ahu kho me brāhmaṇa Ambaṭṭhena māṇavena saddhiṃ kocideva kathāsallāpoti.

Yathākathaṃ pana te bho Gotama ahu Ambaṭṭhena māṇavena saddhiṃ kocideva kathāsallāpoti.

Atha kho Bhagavā yāvatako ahosi Ambaṭṭhena māṇavena saddhiṃ kathāsallāpo, taṃ sabbaṃ brāhmaṇassa Pokkharasātissa ārocesi.

Evaṃ vutte brāhmaṇo Pokkharasāti Bhagavantaṃ etadavoca

“Bālo bho Gotama Ambaṭṭho māṇavo, khamatu bhavaṃ Gotamo Ambaṭṭhassa māṇavassā”ti.

Sukhī hotu brāhmaṇa Ambaṭṭho māṇavoti.

17. - Tôn giả Gotama, đệ tử của chúng tôi, thanh niên Ambattha có đến đây không?

- Này Bà-la-môn, đệ tử ngươi, thanh niên Ambattha có đến đây.

- Tôn giả Gotama, Ngài có cùng với thanh niên Ambattha đàm luận không?

- Này Bà-la-môn, ta có đàm luận với thanh niên Ambattha.

- Tôn giả Gotama, cuộc đàm luận của Ngài với thanh niên Ambattha như thế nào?

Cuộc đàm luận với thanh niên Ambattha như thế nào, Thế Tôn kể lại tất cả cho Bà-la-môn Pokkharasàdi.

Nghe nói vậy, Bà-la-môn nói với Thế Tôn:

- Tôn giả Gotama, thanh niên Ambattha thật là ngu si! Tôn giả Gotama, hăy tha thứ cho thanh niên Ambattha!

- Này Bà-la-môn, cầu cho thanh niên Ambattha được hạnh phúc.

 

294. Atha kho brāhmaṇo Pokkharasāti Bhagavato kāye dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇāni samannesi. Addasā kho brāhmaṇo Pokkharasāti Bhagavato kāye dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇāni yebhuyyena ṭhapetvā dve, dvīsu mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati kosohite ca vatthaguyhe pahūtajivhatāya ca.

 

18. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasàdi t́m đếm ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân trên thân Thế Tôn. Bà-la-môn thấy gần đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân trên thân Thế Tôn, trừ hai tướng. Đối với hai tướng tốt của bậc đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa măn, chưa được hài ḷng, hai tướng là tướng mă âm tàng và tướng lưỡi rộng dài.

 

295. Atha kho Bhagavato etadahosi “Passati kho me ayaṃ brāhmaṇo Pokkharasāti dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇāni yebhuyyena ṭhapetvā dve, dvīsu mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati kosohite ca vatthaguyhe pahūtajivhatāya cā”ti. Atha kho Bhagavā tathārūpaṃ iddhābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkhāsi. Yathā addasa brāhmaṇo Pokkharasāti Bhagavato kosohitaṃ vatthaguyhaṃ. Atha kho Bhagavā jivhaṃ ninnāmetvā ubhopi kaṇṇasotāni anumasi paṭimasi, ubhopi nāsikasotāni anumasi paṭimasi, kevalaṃpi nalāṭamaṇḍalaṃ jivhāya chādesi.

 

19. Lúc bấy giờ Thế Tôn nghĩ: rằng: "Bà-la-môn Pokkharasàdi thấy gần đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân ở nơi Ta, trừ hai tướng. Đối với hai tướng tốt của bậc đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa măn, chưa được hài ḷng, tức là tướng mă âm tàng và tướng lưỡi rộng dài". Thế Tôn liền dùng thần thông khiến Bà-la-môn Pokkharasàdi thấy tướng mă âm tàng của Thế Tôn. Và Thế Tôn le lưỡi, rờ đến, liếm đến hai lỗ tai, rờ đến, liếm đến hai lỗ mũi, và dùng lưỡi che khắp cả vầng trán.

 

296. Atha kho brāhmaṇassa Pokkharasātissa etadahosi “Samannāgato kho samaṇo Gotamo dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇehi paripuṇṇehi no aparipuṇṇehī”ti Bhagavantaṃ etadavoca “Adhivāsetu me bhavaṃ Gotamo ajjatanāya bhattaṃ saddhiṃ bhikkhusaṃghenā”ti. Adhivāsesi Bhagavā tuṇhībhāvena.

 

Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasàdi nghĩ rằng: "Sa môn Gotama có đầy ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân, không phải không đầy đủ", liền nói với Thế Tôn: "Hôm nay xin mời Tôn giả Gotama cùng chúng Tỷ-kheo đến dùng cơm với con. Thế Tôn nhận lời với sự im lặng.

 

297. Atha kho brāhmaṇo Pokkharasāti Bhagavato adhivāsanaṃ viditvā Bhagavato kālaṃ ārocesi “Kālo bho Gotama niṭṭhitaṃ bhattan”ti. Atha kho Bhagavā pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṃ bhikkhusaṃghena yena brāhmaṇassa Pokkharasātissa nivesanaṃ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho brāhmaṇo Pokkharasāti Bhagavantaṃ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi, māṇavakāpi bhikkhusaṃghaṃ. Atha kho brāhmaṇo Pokkharasāti Bhagavantaṃ bhuttāviṃ onītapattapāṇiṃ aññataraṃ nīcaṃ āsanaṃ gahetvā ekamantaṃ nisīdi.

 

20. Khi Bà-la-môn Pokkharasàdi được biết Thế Tôn đă nhận lời liền báo th́ giờ cho Thế Tôn: Tôn giả Gotama, cơm đă sẵn sàng. Khi ấy Thế Tôn buổi sáng đắp y, đem theo y bát, và cùng với chúng Tỷ-kheo đi đến cư xá của Bà-la-môn Pokkharasàdi. Khi đi đến, liền ngồi trên chỗ soạn sẵn. Bà-la-môn Pokkharasàdi tự tay làm cho Thế Tôn thỏa măn với những món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, c̣n các thanh niên Bà-la-môn th́ tiếp đại chúng Tỷ-kheo. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasàdi, sau khi biết Thế Tôn dùng cơm đă xong, đă rửa tay và bát, liền lấy một ghế ngồi thấp khác và ngồi xuống một bên.

 

298. Ekamantaṃ nisinnassa kho brāhmaṇassa Pokkharasātissa Bhagavā anupubbiṃ kathaṃ kathesi, seyyathidaṃ, dānakathaṃ sīlakathaṃ saggakathaṃ kāmānaṃ ādīnavaṃ okāraṃ saṃkilesaṃ nekkhamme ānisaṃsaṃ pakāsesi. Yadā Bhagavā aññāsi brāhmaṇaṃ Pokkharasātiṃ kallacittaṃ muducittaṃ vinīvaraṇacittaṃ udaggacittaṃ pasannacittaṃ, atha yā Buddhānaṃ sāmukkaṃsikā dhammadesanā, taṃ pakāsesi dukkhaṃ samudayaṃ nirodhaṃ maggaṃ, seyyathāpi nāma suddhaṃ vatthaṃ apagatakāḷakaṃ sammadeva rajanaṃ paṭiggaṇheyya, evameva brāhmaṇassa Pokkharasātissa tasmiṃyeva āsane virajaṃ vītamalaṃ dhammacakkhuṃ udapādi “Yaṃ kiñci samudayadhammaṃ, sabbaṃ taṃ nirodhadhamman”ti.

 

21. Thế Tôn liền thứ lớp giảng pháp cho Bà-la-môn Pokkharasàdi đang ngồi một bên nghe, thuyết về bố thí, thuyết về tŕ giới, thuyết về các cơi trời, tŕnh bày sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục lạc và sự lợi ích của xuất ly. Khi Thế Tôn biết tâm của Bà-la-môn Pokkharasàdi đă sẵn sàng, đă nhu thuận, không c̣n chướng ngại, được phấn khởi, được tín thành, liền thuyết pháp mà chư Phật đă chứng ngộ, tức là khổ, tập, diệt, đạo. Cũng như tấm vải thuần bạch, được gột rửa các vết đen, sẽ rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, chính chỗ ngồi này, pháp nhăn xa trần ly cấu khởi lên trong tâm Bà-la-môn Pokkharasàdi: "Phàm pháp ǵ được tập khởi lên đều bị tiêu diệt".

 

Pokkharasāti-upāsakattapaṭivedanā

299. Atha kho brāhmaṇo Pokkharasāti diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṃkatho vesārajjappatto aparappaccayo Satthusāsane Bhagavantaṃ etadavoca

 

 

22. Khi ấy Bà-la-môn Pokkharasàdi, thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ nơi người đối với đạo pháp của đức Bổn sư. Bà-la-môn Pokkharasàdi liền bạch Phật:

 

“Abhikkantaṃ bho Gotama, abhikkantaṃ bho Gotama, seyyathāpi bho Gotama nikkujjitaṃ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṃ dhāreyya ‘Cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti, evamevaṃ bhotā Gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṃ bho Gotama saputto sabhariyo sapariso sāmacco bhavantaṃ Gotamaṃ saraṇaṃ gacchāmi Dhammañca Bhikkhusaṃghañca, upāsakaṃ maṃ bhavaṃ Gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gataṃ, yathā ca bhavaṃ Gotamo ukkaṭṭhāya aññāni upāsakakulāni upasaṅkamati, evameva bhavaṃ Gotamo Pokkharasātikulaṃ upasaṅkamatu. Tattha ye te māṇavakā vā māṇavikā vā bhavantaṃ Gotamaṃ abhivādessanti vā paccuṭṭhissanti (Paccuṭṭhassanti - I) vā āsanaṃ vā udakaṃ vā dassanti cittaṃ vā pasādessanti, tesaṃ taṃ bhavissati dīgharattaṃ hitāya sukhāyā”ti.

Kalyāṇaṃ vuccati brāhmaṇāti.

 

- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những ǵ bị quăng ngă xuống, phơi bày ra những ǵ bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đă được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện tŕnh bày, giải thích. Tôn giả Gotama, con, con của con, vợ của con, tùy tùng của con, bạn hữu của con, xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. Như Tôn giả Gotama đến thăm các gia đ́nh cư sĩ khác ở Ukkattha, mong Tôn giả Gotama cũng đến thăm các gia đ́nh Pokkharasàdi. Tại đây, các thanh nam hay thanh nữ Bà-la-môn sẽ đảnh lễ Thế Tôn Gotama, hoặc đứng dậy, hoặc mời chỗ ngồi, hoặc mời nước, hoặc khiến tâm hoan hỷ. Như vậy chúng sẽ hưởng hạnh phúc, lợi ích trong một thời gian lâu dài.

- Này Bà-la-môn lời ngươi nói thật là chí thiện.

 

Ambaṭṭhasuttaṃ niṭṭhitaṃ tatiyaṃ.

 

 

<Trang Trước>

<Bài Kinh Kế>

 

 | 03-01 | 03-02 |
| Mục lục Trường Bộ I | Mục lục Trường Bộ II | Mục lục Trường Bộ III |
 

<Đầu Trang>