|
03.
AMBAṬṬHASUTTAṂ
(tiếp theo)
|
|
03. AMBAṬṬHASUTTAṂ - Tạng
Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ |
03. KINH AMBATTHA - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas, phiên bản 7.07 |
|
Vijjācaraṇakathā
278. Katamaṃ pana taṃ bho Gotama caraṇaṃ, katamā ca pana sā
vijjāti.
|
Tụng phẩm
thứ hai
1. - Tôn
giả Gotama, nghĩa chữ Giới hạnh trong bài kệ ấy là ǵ? Nghĩa chữ
Tuệ trong bài kệ ấy là ǵ?
|
|
Na
kho Ambaṭṭha anuttarāya vijjācaraṇasampadāya jātivādo vā
vuccati, gottavādo vā vuccati, mānavādo vā vuccati “Arahasi vā
maṃ tvaṃ, na vā maṃ tvaṃ arahasī”ti. Yattha kho Ambaṭṭha āvāho
vā hoti, vivāho vā hoti, āvāhavivāho vā hoti, etthetaṃ vuccati
jātivādo vā itipi, gottavādo vā itipi, mānavādo vā itipi
“Arahasi vā maṃ tvaṃ, na vā maṃ tvaṃ arahasī”ti. |
- Này Ambattha, một vị đă thành
tựu vô thượng trí đức không có luận nghị đến sự thọ sanh, không
có luận nghị đến giai cấp hay không có luận nghị đến ngă mạn với
lời nói: "Ngươi bằng ta hay ngươi không bằng ta". Chỗ nào nói
đến cưới hỏi hay rước dâu đi, hay cả hai, chỗ đó mới có luận
nghị đến sự thọ sanh, luận nghị đến giai cấp hay luận nghị đến
ngă mạn với lời nói: "Ngươi bằng ta hay không bằng ta".
|
|
Ye hi keci Ambaṭṭha
jātivādavinibaddhā vā gottavādavinibaddhā vā mānavādavinibaddhā
vā āvāhavivāhavinibaddhā vā, ārakā te anuttarāya
vijjācaraṇasampadāya. Pahāya kho Ambaṭṭha jātivādavinibaddhañca
gottavādavinibaddhañca mānavādavinibaddhañca
āvāhavivāhavinibaddhañca anuttarāya vijjācaraṇasampadāya
sacchikiriyā hotīti.
|
Này Ambattha, những ai c̣n chấp
trước lư thuyết thọ sanh, c̣n chấp trước lư thuyết giai cấp, c̣n
chấp trước lư thuyết kiêu mạn, hoặc c̣n chấp trước cưới hỏi rước
dâu, những người ấy c̣n rất xa sự thành tựu vô thượng trí đức.
Này Ambattha, không chấp trước lư thuyết thọ sanh, không chấp
trước lư thuyết giai cấp, không chấp trước lư thuyết kiêu mạn,
không chấp trước cưới hỏi, đưa dâu, người ấy tức chứng ngộ vô
thượng trí đức.
|
|
279. Katamaṃ pana taṃ bho Gotama caraṇaṃ, katamā ca sā vijjāti.
|
2. - Tôn giả Gotama, thế nào là
Giới đức trong bài kệ ấy? Thế nào là Trí tuệ trong bài kệ ấy?
|
|
Idha Ambaṭṭha
Tathāgato loke uppajjati Arahaṃ Sammāsambuddho
Vijjācaraṇasampanno Sugato Lokavidū Anuttaro purisadammasārathi
Satthā devamanussānaṃ Buddho Bhagavā, so imaṃ lokaṃ sadevakaṃ
samārakaṃ sabrahmakaṃ sassamaṇabrāhmaṇiṃ pajaṃ sadevamanussaṃ
sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedeti, so dhammaṃ deseti
ādikalyāṇaṃ majjhekalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ sātthaṃ
sabyañjanaṃ kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāseti,
taṃ dhammaṃ suṇāti gahapati vā gahapatiputto vā aññatarasmiṃ vā
kule paccājāto, so taṃ dhammaṃ sutvā Tathāgate saddhaṃ
paṭilabhati, so tena saddhāpaṭilābhena samannāgato iti
paṭisañcikkhati ‑pa‑. (Yathā sāmaññaphale, evaṃ vitthāretabbaṃ.)
So vivicceva
kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ
pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati ‑pa‑. Idampissa
hoti caraṇasmiṃ.
Puna caparaṃ
Ambaṭṭha bhikkhu vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ
sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ
pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati ‑pa‑. Idampissa
hoti caraṇasmiṃ.
Puna caparaṃ
Ambaṭṭha bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca
sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā
ācikkhanti “Upekkhako satimā sukhavihārī”ti, tatiyaṃ jhānaṃ
upasampajja viharati ‑pa‑. Idampissa hoti caraṇasmiṃ.
Puna caparaṃ
Ambaṭṭha bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva
somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ
upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati
‑pa‑. Idampissa hoti caraṇasmiṃ. Idaṃ kho taṃ Ambaṭṭha caraṇaṃ.
So evaṃ samāhite
citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte
kammaniye ṭhite āneñjappatte ñāṇadassanāya cittaṃ abhinīharati
abhininnāmeti ‑pa‑. Idampissa hoti vijjāya ‑pa‑ nāparaṃ
itthattāyāti pajānāti, idampissa hoti vijjāya. Ayaṃ kho sā
Ambaṭṭha vijjā.
|
- Ở đây, này Ambattha, Như Lai
xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc:
... (xin xem kinh
"Sa-môn quả" - kinh số 2, từ đoạn số 40 đến số 98, tới
câu: "Không có đời sống nào khác nữa" chỉ khác danh từ xưng
hô và câu kết từng đoạn. Như đoạn này, câu kết là "Như vậy,
này Ambattha, là vị Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh".)
|
|
Ayaṃ vuccati
Ambaṭṭha bhikkhu “Vijjāsampanno” itipi, “Caraṇasampanno” itipi,
“Vijjācaraṇasampanno” itipi, imāya ca Ambaṭṭha vijjāsampadāya
caraṇasampadāya ca aññāvijjāsampadā ca caraṇasampadā ca
uttaritarā vā paṇītatarā vā natthi.
|
Này Ambattha, như vậy gọi là
Tỷ-kheo thành tựu trí tuệ, thành tựu giới đức, thành tựu giới
đức và trí tuệ. Này Ambattha, không có sự thành tựu trí đức nào
khác siêu việt hơn, cao thượng hơn sự thành tựu trí đức này.
|
|
Catuapāyamukha
280. Imāya kho
Ambaṭṭha anuttarāya vijjācaraṇasampadāya cattāri apāyamukhāni
bhavanti. Katamāni cattāri, idha Ambaṭṭha ekacco samaṇo vā
brāhmaṇo vā imaññeva anuttaraṃ vijjācaraṇasampadaṃ
anabhisambhuṇamāno khārividhamādāya (Khārivividhamādāya
- Sī, Syā, I)
araññāyatanaṃ ajjhogāhati “Pavattaphalabhojano bhavissāmī”ti, so
aññadatthu Vijjācaraṇasampannasseva paricārako sampajjati. Imāya
kho Ambaṭṭha anuttarāya vijjācaraṇasampadāya idaṃ paṭhamaṃ
apāyamukhaṃ bhavati.
|
3. Này Ambattha, có bốn nguyên
nhân đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.
Thế nào là bốn? Này Ambattha, ở đấy có Sa-môn hay Bà-la-môn chưa
thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí đức này, lại mang dụng cụ
của nhà đạo sĩ, đi vào rừng sâu và nguyện: "Ta chỉ ăn trái cây
rụng mà sống". Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị giả của
vị đă thành tựu trí đức. Này Ambattha, đó là nguyên nhân thứ
nhất đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.
|
|
Puna caparaṃ
Ambaṭṭha idhekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā imañceva anuttaraṃ
vijjācaraṇasampadaṃ anabhisambhuṇamāno pavattaphalabhojanatañca
anabhisambhuṇamāno kudālapiṭakaṃ (Kuddālapiṭakaṃ
- Sī, Syā, I)
ādāya araññavanaṃ ajjhogāhati “Kandamūlaphalabhojano
bhavissāmī”ti, so aññadatthu vijjācaraṇasampannasseva paricārako
sampajjati. Imāya kho Ambaṭṭha anuttarāya vijjācaraṇasampadāya
idaṃ dutiyaṃ apāyamukhaṃ bhavati.
|
Lại nữa, này Ambattha ở đây có
vị Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí
đức này, và chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống, lại
mang theo cuốc và giỏ đi vào rừng sâu và nguyện: "Ta chỉ ăn củ,
rễ và trái cây để sống". Nhất định người này chỉ xứng đáng là
thị giả của vị đă thành tựu trí đức. Này Ambattha, đó là nguyên
nhân thứ hai đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức
này.
|
|
Puna caparaṃ
Ambaṭṭha idhekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā imañceva anuttaraṃ
vijjācaraṇasampadaṃ anabhisambhuṇamāno pavattaphalabhojanatañca
anabhisambhuṇamāno kandamūlaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno
gāmasāmantaṃ vā nigamasāmantaṃ vā agyāgāraṃ karitvā aggiṃ
paricaranto acchati, so aññadatthu vijjācaraṇasampannasseva
paricārako sampajjati. Imāya kho Ambaṭṭha anuttarāya
vijjācaraṇasampadāya idaṃ tatiyaṃ apāyamukhaṃ bhavati.
|
Lại nữa, này Ambattha, ở đây có
Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí
đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây để sống và chưa thấu đạt
pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống, lại nhen lửa tại cuối làng
hay sống thờ lửa ấy. Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị
giả của vị đă thành tựu trí đức. Này Ambattha đó là nguyên nhân
thứ ba đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.
|
|
Puna caparaṃ
Ambaṭṭha idhekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā imañceva anuttaraṃ
vijjācaraṇasampadaṃ anabhisambhuṇamāno pavattaphalabhojanatañca
anabhisambhuṇamāno kandamūlaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno
aggipāricariyañca anabhisambhuṇamāno cātumahāpathe catudvāraṃ
agāraṃ karitvā acchati “Yo imāhi catūhi disāhi āgamissati samaṇo
vā, brāhmaṇo vā, tamahaṃ yathāsatti yathābalaṃ paṭipūjessāmī”ti,
so aññadatthu vijjācaraṇasampannasseva paricārako sampajjati.
Imāya kho Ambaṭṭha anuttarāya vijjācaraṇasampadāya idaṃ
catutthaṃ apāyamukhaṃ bhavati.
Imāya kho Ambaṭṭha anuttarāya
vijjācaraṇasampadāya imāni cattāri apāyamukhāni bhavanti.
|
Lại nữa Ambattha, ở đây có
Sa-môn hay Bà-la-môn chưa thấu đạt sự thành tựu vô thượng trí
đức này, chưa thấu đạt được pháp ăn trái cây rụng để sống, chưa
thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống, chưa thấu đạt pháp
tôn thờ lửa, lại xây dựng một ngôi nhà có bốn cửa tại ngă tư
đường, sống và nguyện: "Từ bốn phương nếu có vị Sa-môn hay
Bà-la-môn nào lại, th́ ta sẽ cúng dường, tùy theo khả năng, tùy
theo sức lực của ta". Nhất định người này chỉ xứng đáng là thị
giả của vị đă thành tựu trí đức. Này Ambattha, đó là nguyên nhân
thứ tư đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.
Này Ambattha đó là bốn nguyên
nhân đưa đến thất bại cho sự thành tựu vô thượng trí đức này.
|
|
281. Taṃ kiṃ
maññasi Ambaṭṭha, apinu tvaṃ imāya anuttarāya
vijjācaraṇasampadāya sandissasi sācariyakoti. Nohidaṃ bho
Gotama, kocāhaṃ bho Gotama sācariyako, kā ca anuttarā
vijjācaraṇasampadā, ārakāhaṃ bho Gotama anuttarāya
vijjācaraṇasampadāya sācariyakoti.
|
4. Này Ambattha, ngươi nghĩ thế
nào? Ngươi và thầy ngươi có được xem là đă thành tựu vô thượng
trí đức này không? - Bạch không, Tôn giả Gotama. Con và thầy con
là ǵ, Tôn giả Gotama, để có thể so sánh với sự thành tựu vô
thượng trí đức. Tôn giả Gotama, con và thầy con c̣n rất xa sự
thành tựu vô thượng trí đức.
|
|
Taṃ kiṃ maññasi
Ambaṭṭha, apinu tvaṃ imañceva anuttaraṃ vijjācaraṇasampadaṃ
anabhisambhuṇamāno khārividhamādāya araññavanamajjhogāhasi
sācariyako “Pavattaphalabhojano bhavissāmī”ti.
Nohidaṃ bho
Gotama. |
- Này Ambattha, ngươi nghĩ thế
nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô
thượng trí đức này, nhà ngươi có đem theo dụng cụ của nhà đạo
sĩ, đi vào rừng sâu và nguyện: "Ta và thầy ta chỉ ăn trái cây
rụng mà sống?"
- Bạch không, Tôn giả Gotama.
|
|
Taṃ kiṃ maññasi
Ambaṭṭha, apinu tvaṃ imañceva anuttaraṃ vijjācaraṇasampadaṃ
anabhisambhuṇamāno pavattaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno
kudālapiṭakaṃ ādāya araññavanamajjhogāhasi sācariyako
“Kandamūlaphalabhojano bhavissāmī”ti.
Nohidaṃ bho Gotama.
|
- Này Ambattha, ngươi nghĩ thế
nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô
thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống,
ngươi có mang theo cuốc và giỏ đi vào rừng sâu và nguyện:
"Ta và
thầy ta chỉ ăn rễ và trái cây để sống không?"
- Bạch không, Tôn giả Gotama.
|
|
Taṃ kiṃ maññasi
Ambaṭṭha, apinu tvaṃ imañceva anuttaraṃ vijjācaraṇasampadaṃ
anabhisambhuṇamāno pavattaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno
kandamūlaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno gāmasāmantaṃ vā
nigamasāmantaṃ vā agyāgāraṃ karitvā aggiṃ paricaranto acchasi
sācariyakoti.
Nohidaṃ bho Gotama.
|
- Này Ambattha, ngươi nghĩ thế
nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô
thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống,
chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống, ngươi có nhen
lửa tại cuối làng hay cuối xóm và sống thờ lửa ấy với thầy ngươi
không?"
- Bạch không, Tôn giả Gotama.
|
|
Taṃ kiṃ maññasi
Ambaṭṭha, apinu tvaṃ imañceva anuttaraṃ vijjācaraṇasampadaṃ
anabhisambhuṇamāno pavattaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno
kandamūlaphalabhojanatañca anabhisambhuṇamāno aggipāricariyañca
anabhisambhuṇamāno cātumahāpathe catudvāraṃ agāraṃ karitvā
acchasi sācariyako “Yo imāhi catūhi disāhi āgamissati samaṇo vā
brāhmaṇo vā, taṃ mayaṃ yathāsatti yathābalaṃ paṭipūjessāmā”ti.
Nohidaṃ bho Gotama.
|
- Này Ambattha, ngươi nghĩ thế
nào? Tuy ngươi và thầy ngươi chưa thấu đạt sự thành tựu vô
thượng trí đức này, chưa thấu đạt pháp ăn trái cây rụng để sống,
chưa thấu đạt pháp ăn củ, rễ và trái cây để sống và chưa thấu
đạt sự thờ lửa, ngươi và thầy ngươi có xây dựng một ngôi nhà có
bốn cửa tại ngă tư đường với lời nguyện: "Từ bốn phương, nếu có
vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào lại - th́ ta sẽ cúng dường tùy theo
khả năng, tùy theo sức lực của ta không?"
- Bạch không, Tôn giả Gotama.
|
|
282. Iti kho
Ambaṭṭha, imāya ceva tvaṃ anuttarāya vijjācaraṇasampadāya
parihīno sācariyako, ye cime anuttarāya vijjācaraṇasampadāya
cattāri apāyamukhāni bhavanti, tato ca tvaṃ parihīno sācariyako.
Bhāsitā kho pana te esā Ambaṭṭha ācariyena brāhmaṇena
pokkharasātinā vācā “Ke ca muṇḍakā samaṇakā ibbhā kaṇhā
bandhupādāpaccā, kā ca tevijjānaṃ brāhmaṇānaṃ sākacchā”ti attanā
āpāyikopi aparipūramāno. Passa Ambaṭṭha yāva aparaddhañca te
idaṃ ācariyassa brāhmaṇassa Pokkharasātissa.
|
- Này Ambattha, như vậy ngươi và
thầy ngươi c̣n khiếm khuyết sự thành tựu vô thượng trí đức này,
c̣n khiếm khuyết bốn nguyên nhân đưa đến thất bại cho sự thành
tựu vô thượng trí đức này, Ambattha, thế mà những lời này lại do
thầy của ngươi, Bà-la-môn Pokkharasàdi thốt ra: "Những hạng
Sa-môn giả hiệu, đầu trọc, đê tiện, đen đủi, sanh từ nơi chân bà
con ta là ai mà có thể đàm luận với những Bà-la-môn tinh thông
ba tập Vệ đà". Một vị tự ḿnh chưa thành tựu được những pháp đưa
đến sự thất bại (cho những pháp cao thượng hơn). Này Ambattha,
ngươi xem, thầy của ngươi, Bà-la-môn Pokkharasàdi đă lỗi lầm như
thế nào?
|
|
Pubbaka-isibhāvānuyoga
283. Brāhmaṇo kho
pana Ambaṭṭha Pokkharasāti rañño pasenadissa Kosalassa dattikaṃ
bhuñjati, tassa rājā Pasenadi Kosalo sammukhībhāvaṃpi na dadāti,
yadāpi tena manteti, tirodussantena manteti. Yassa kho pana
Ambaṭṭha dhammikaṃ payātaṃ bhikkhaṃ paṭiggaṇheyya, kathaṃ tassa
rājā Pasenadi Kosalo sammukhībhāvaṃpi na dadeyya, passa Ambaṭṭha
yāva aparaddhañca te idaṃ ācariyassa brāhmaṇassa
Pokkharasātissa.
|
6. Này Ambattha, Bà-la-môn
Pokkharasàdi hưởng thọ sự cung cấp của vua Pasenadi nước Kosala.
Vua Pasenadi nước Kosala cũng không cho phép thầy ngươi diện
kiến. Nếu vua hội nghị với thầy ngươi thời chỉ nói thầy ngươi
ngang qua một tấm màn. Này Ambattha, tại sao vua Pasenadi nước
Kosala lại không cho phép thầy ngươi diện kiến, người mà vua
cung cấp thực phẩm thuần tịnh chân chánh. Này Ambattha, ngươi
xem thầy của ngươi, Bà-la-môn Pokkharasàdi đă lỗi lầm như thế
nào?
|
|
284. Taṃ kiṃ
maññasi Ambaṭṭha, idha rājā Pasenadi Kosalo hatthigīvāya vā
nisinno assapiṭṭhe vā nisinno rathūpatthare vā ṭhito uggehi vā
rājaññehi vā kiñcideva mantanaṃ manteyya, so tamhā padesā
apakkamma ekamantaṃ tiṭṭheyya, atha āgaccheyya suddo vā
suddadāso vā, tasmiṃ padese ṭhito tadeva mantanaṃ manteyya
“Evaṃpi rājā Pasenadi Kosalo āha, evaṃpi rājā Pasenadi Kosalo
āhā”ti. Apinu so rājabhaṇitaṃ vā bhaṇati rājamantanaṃ vā
manteti, ettāvatā so assa rājā vā rājamatto vāti.
Nohidaṃ bho
Gotama. |
7. Này Ambattha, ngươi nghĩ thế
nào? Như vua Pasenadi nước Kosala hoặc ngồi trên cổ voi, hoặc
ngồi trên lưng ngựa, hoặc đứng trên lưng ngựa, hoặc đứng trên
tấm thảm xe cùng các vị đại thần hay vương tử, luận bàn quốc sự.
Nếu vua rời khỏi chỗ ấy hay đứng qua bên, một người Thủ đà hay
đầy tớ của một người Thủ đà đến. Người này cũng đứng tại chỗ ấy,
cũng luận bàn quốc sự và nói: "Vua Pasenadi nước Kosala đă nói
như vậy". Dầu người ấy nói như lời nói của vua, luận bàn như lời
luận bàn của vua, người ấy có thể là vua hay là bị phó vương
không?
- Không thể được, Tôn giả
Gotama.
|
|
285. Evameva kho
tvaṃ Ambaṭṭha ye te ahesuṃ brāhmaṇānaṃ pubbakā isayo mantānaṃ
kattāro mantānaṃ pavattāro, yesamidaṃ etarahi brāhmaṇā porāṇaṃ
mantapadaṃ gītaṃ pavuttaṃ samihitaṃ, tadanugāyanti
tadanubhāsanti bhāsitamanubhāsanti vācitamanuvācenti,
seyyathidaṃ, Aṭṭhako Vāmako Vāmadevo Vessāmitto Yamataggi (Yamadaggi
- Ka)
Aṅgīraso Bhāradvājo Vāseṭṭho Kassapo Bhagu, tyāhaṃ mante
adhiyāmi sācariyakoti, tāvatā tvaṃ bhavissasi isi vā isitthāya
vā paṭipannoti
Netaṃ ṭhānaṃ vijjati.
|
8. - Này Ambattha, nhà ngươi
cũng vậy. Thuở xưa, những vị ẩn sĩ giữa các Bà-la-môn, những tác
giả các chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật, đă hát, đă
nói lên, đă sưu tầm, những Thánh cú mà nay những Bà-la-môn hiện
tại cũng hát lên, nói lên, đọc lên giống như các vị trước đă
làm. Những vị ẩn sĩ ấy tên là Atthaka (A sá ca), Vàmaka (Bà-ma),
Vàmadeva (Bà-ma -đề-bà), Vessàmitta (T́-bà-thẩm-sá), Yamataggi
(Gia-bà -đề-bà), Angirasa (Ương-kỳ-la), Bhàradvàja (Bạt-la-đà
thẩm-xà), Vàsettha (Bà-ma-sá) Kassapa (Ca-diếp), Bhagu (Bà-cửu).
Dầu ngươi có thể nói: "Ta, một đệ tử, học thuộc ḷng những chú
thuật của các vị ấy", chỉ với điều kiện này, ngươi có thể được
xem là một vị ẩn sĩ hay đă chứng địa vị của một ẩn sĩ không?
- Việc này không thể có được.
|
|
286. Taṃ kiṃ
maññasi Ambaṭṭha, kinti te sutaṃ brāhmaṇānaṃ vuddhānaṃ
mahallakānaṃ ācariyapācariyānaṃ bhāsamānānaṃ ye te ahesuṃ
brāhmaṇānaṃ pubbākā isayo mantānaṃ kattāro mantānaṃ pavattāro,
yesamidaṃ etarahi brāhmaṇā porāṇaṃ mantapadaṃ gītaṃ pavuttaṃ
samihitaṃ, tadanugāyanti tadanubhāsanti bhāsitamanubhāsanti
vācitamanuvācenti, seyyathidaṃ, Aṭṭhako Vāmako Vāmadevo
Vessāmitto Yamataggi Aṅgīraso Bhāradvājo Vāseṭṭho Kassapo Bhagu,
evaṃ su te sunhātā suvilittā kappitakesamassū
āmukkamaṇikuṇḍalābharaṇā (Āmuttamālābharaṇā - Sī, Syā, I)
odātavatthavasanā pañcahi kāmaguṇehi samappitā samaṅgībhūtā
paricārenti, seyyathāpi tvaṃ etarahi sācariyakoti.
Nohidaṃ bho
Gotama.
|
9. Ambattha, ngươi nghĩ thế nào?
Ngươi có được nghe những vị Bà-la-môn, trưởng lăo, tôn túc,
những vị giáo sư và tổ sư nói đến không? Thuở xưa những vị ẩn
sĩ, giữa các Bà-la-môn, những tác giả của chú thuật, những nhà
tụng tán các chú thuật đă hát, đă nói lên, đă sưu tầm những
Thánh cú mà nay những Bà-la-môn, cũng hát lên, nói lên, đọc lên
giống như các vị trước đă làm. Những vị ẩn sĩ ấy tên là Atthaka,
Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmitta, Yamataggi, Angirasa, Bhàradvàja,
Vàsettha, Kassapa, Bhagu. Những vị ấy có khéo tắm, khéo chải
chuốt, tóc và râu khéo sửa soạn, trang điểm với ṿng hoa và
ngọc, mặc toàn đồ trắng, tận hưởng và tham đắm năm món dục lạc,
như người và thầy của ngươi hiện nay không?
- Không có vậy. Tôn giả Gotama.
|
|
‑pa‑ evaṃ su te
sālīnaṃ odanaṃ sucimaṃsūpasecanaṃ vicitakāḷakaṃ anekasūpaṃ
anekabyañjanaṃ paribhuñjanti, seyyathāpi tvaṃ etarahi
sācariyakoti.
Nohidaṃ bho Gotama.
|
10. - Các vị ẩn sĩ ấy có dùng
cơm nấu từ gạo trắng thượng hạng mà các hạt đen được gạn bỏ ra,
dùng các món canh, các món đồ ăn nhiều loại không, như ngươi và
thầy ngươi hiện nay không?
- Không có vậy, Tôn giả Gotama.
|
|
‑pa‑ evaṃ su te
veṭhakanatapassāhi nārīhi paricārenti, seyyathāpi tvaṃ etarahi
sācariyakoti.
Nohidaṃ bho Gotama.
|
- Hay các vị ấy được những thiếu
nữ có đường eo và thắt lưng có tua hầu hạ như ngươi và thầy
ngươi hiện nay không?
- Không có vậy, Tôn giả Gotama.
|
|
‑pa‑ evaṃ su te
kuttavālehi vaḷavārathehi dīghāhi patodalaṭṭhīhi vāhane
vitudentā vipariyāyanti, seyyathāpi tvaṃ etarahi sācariyakoti.
Nohidaṃ bho Gotama.
|
- Hay những vị ấy đi trên những
xe do những con ngựa cái có bờm, đuôi được bện và dùng những cây
roi và gậy dài như ngươi và thầy ngươi hiện nay không?
- Không có vậy, Tôn giả Gotama.
|
|
‑pa‑ evaṃ su te
ukkiṇṇaparikhāsu okkhittapalighāsu nagarūpakārikāsu
dīghāsivudhehi (Dīghāsibaddhehi
- Syā, I)
purisehi rakkhāpenti, seyyāthāpi tvaṃ etarahi sācariyakoti.
Nohidaṃ bho Gotama.
|
- Hay những vị ấy sống được che
chở trong những thành lũy có những chiến hào bao bọc, có những
cửa thành hạ xuống, có những chiến sĩ mang gươm dài hộ vệ như
ngươi và thầy ngươi hiện nay không?
- Không có vậy, Tôn giả Gotama.
|
|
Iti kho Ambaṭṭha
neva tvaṃ isi na isitthāya paṭipanno sācariyako, yassa kho pana
Ambaṭṭha mayi kaṅkhā vā vimati vā so maṃ pañhena, ahaṃ
veyyākaraṇena sodhissāmīti.
|
- Như vậy, này Ambattha, ngươi
và thầy ngươi không phải là một ẩn sĩ, không giống đời sống của
nhà ẩn sĩ. Này Ambattha, nếu có ǵ nghi ngờ, có ǵ phân vân về
Ta, hăy hỏi Ta và Ta sẽ trả lời. |
|
Dvelakkhaṇādassana
287. Atha kho
Bhagavā vihārā nikkhamma caṅkamaṃ abbhuṭṭhāsi. Ambaṭṭhopi māṇavo
vihārā nikkhamma caṅkamaṃ abbhuṭṭhāsi. Atha kho Ambaṭṭho māṇavo
Bhagavantaṃ caṅkamantaṃ anucaṅkamamāno Bhagavato kāye
dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇāni samannesi, addasā kho Ambaṭṭho
māṇavo Bhagavato kāye dvattiṃ samahāpurisalakkhaṇāni yebhuyyena
ṭhapetvā dve, dvīsu mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati
nādhimuccati na sampasīdati, kosohite ca vatthaguyhe
pahūtajivhatāya ca.
|
11. Lúc bấy giờ, Thế Tôn ra khỏi
tịnh xá và bắt đầu đi kinh hành. Thanh niên Ambattha đi theo sau
Thế Tôn đang đi kinh hành và t́m đếm ba mươi hai tướng tốt của
vị đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa măn,
chưa được hài ḷng, tức là tướng mă âm tàng và tướng lưỡi rộng
dài. |
|
288. Atha kho
Bhagavato etadahosi “Passati kho me ayaṃ Ambaṭṭho māṇavo
dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇāni yebhuyyena ṭhapetvā dve, dvīsu
mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na
sampasīdati, kosohite ca vatthaguyhe pahūtajivhatāya cā”ti.
|
12. Khi bấy giờ, Thế Tôn nghĩ
rằng: "Thanh niên Ambattha này thấy ở nơi ta gần đủ ba mươi hai
tướng tốt của vị đại nhân trừ hai tướng. Đối với hai tướng tốt
của vị đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa măn,
chưa được hài ḷng, tức là tướng mă âm tàng và tướng lưỡi rộng
dài".
|
|
Atha kho Bhagavā tathārūpaṃ iddhābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkhāsi.
Yathā addasa Ambaṭṭho māṇavo Bhagavato kosohitaṃ vatthaguyhaṃ.
Atha kho Bhagavā jivhaṃ ninnāmetvā ubhopi kaṇṇasotāni anumasi
paṭimasi, ubhopi nāsikasotāni anumasi paṭimasi, kevalaṃpi
nalāṭamaṇḍalaṃ jivhāya chādesi. Atha kho Ambaṭṭhassa māṇavassa
etadahosi “Samannāgato kho samaṇo Gotamo dvattiṃ
samahāpurisalakkhaṇehi paripuṇṇehi no aparipuṇṇehī”ti
Bhagavantaṃ etadavoca “Handa ca dāni mayaṃ bho Gotama gacchāma,
bahukiccā mayaṃ bahukaraṇīyā”ti.
Yassadāni tvaṃ Ambaṭṭha kālaṃ maññasīti.
Atha kho Ambaṭṭho māṇavo vaḷavārathamāruyha pakkāmi.
|
Thế Tôn liền dùng thần thông
khiến thanh niên Ambattha thấy tướng mă âm tàng của Thế Tôn. Và
Thế Tôn le lưỡi, rờ đến, liếm đến hai lỗ tai, rờ đến, liếm đến
hai lỗ mũi, và dùng lưỡi che khắp cả vầng trán. Lúc bấy giờ,
thanh niên Ambattha liền nghĩ rằng: "Sa-môn Gotama đầy đủ ba
mươi hai tướng tốt của vị đại nhân, không phải không đầy đủ". Và
nói với Thế Tôn: "Tôn giả Gotama, nay chúng tôi xin đi, chúng
tôi rất bận, có nhiều việc cần phải làm".
- Này Ambattha, hăy làm những ǵ
ngươi nghĩ là phải thời.
Rồi thanh niên Ambattha leo lên
xe do ngựa cái kéo và ra đi.
|
|
289. Tena kho
pana samayena brāhmaṇo Pokkharasāti ukkaṭṭhāya nikkhamitvā
mahatā brāhmaṇagaṇena saddhiṃ sake ārāme nisinno hoti
Ambaṭṭhaṃyeva māṇavaṃ paṭimānento. Atha kho Ambaṭṭho māṇavo yena
sako ārāmo tena pāyāsi, yāvatikā yānassa bhūmi yānena gantvā
yānā paccorohitvā pattikova yena brāhmaṇo Pokkharasāti
tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā brāhmaṇaṃ pokkharasātiṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi.
|
13. Lúc bấy giờ Bà-la-môn
Pokkharasàdi ra khỏi Ukkattha với một đại chúng Bà-la-môn, ngồi
tại hoa viên của ḿnh và chờ đợi thanh niên Ambattha. Khi thanh
niên Ambattha đi đến hoa viên, đi xe cho đến chỗ c̣n đi xe được,
rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Bà-la-môn Pokkharasàdi đang ngồi.
Đến xong, thanh niên Ambattha đảnh lễ Bà-la-môn Pokkharasàdi và
ngồi xuống một bên.
|
|
290. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho Ambaṭṭhaṃ māṇavaṃ brāhmaṇo
Pokkharasāti etadavoca |
Sau khi thanh niên Ambattha ngồi
xuống một bên, Bà-la-môn Pokkharasàdi nói:
|
|
“Kacci tāta Ambaṭṭha addasa taṃ bhavantaṃ Gotaman”ti.
Addasāma kho mayaṃ bho taṃ bhavantaṃ Gotamanti.
Kacci tāta Ambaṭṭha taṃ bhavantaṃ Gotamaṃ tathā santaṃyeva saddo
abbhuggato no aññathā, kacci pana so bhavaṃ Gotamo tādiso no
aññādisoti.
Tathā santaṃyeva bho taṃ bhavantaṃ Gotamaṃ saddo abbhuggato no
aññathā, tādisova so bhavaṃ Gotamo no aññādiso, samannāgato ca
so bhavaṃ Gotamo dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇehi paripuṇṇehi no
aparipuṇṇehīti.
|
14. - Này Ambattha thân mến,
ngươi đă thấy Sa-môn Gotama chưa?
- Chúng con thấy Tôn giả Gotama
rồi.
- Này Ambattha thân mến, có phải
Tôn giả Gotama đúng với tin đồn đă truyền đi, chớ không phải
khác?
- Tôn giả Gotama đúng với tin
đồn đă truyền đi, chớ không phải khác. Tôn giả Gotama là như
vậy, chớ không phải khác. Tôn giả Gotama đầy đủ ba mươi hai
tướng tốt của vị đại nhân, chớ không phải thiếu.
|
|
Ahu pana te tāta Ambaṭṭha samaṇena Gotamena
saddhiṃ kocideva kathāsallāpoti.
Ahu kho me bho samaṇena
Gotamena saddhiṃ kocideva kathāsallāpoti.
Yathā kathaṃ pana te
tāta Ambaṭṭha ahu samaṇena Gotamena saddhiṃ kocideva
kathāsallāpoti.
Atha kho Ambaṭṭho māṇavo yāvatako (Yāvatiko
- Ka, I)
ahosi Bhagavatā saddhiṃ kathāsallāpo, taṃ sabbaṃ brāhmaṇassa
Pokkharasātissa ārocesi.
|
- Này Ambattha thân mến, con có
cùng với Tôn giả Gotama đàm luận không?
- Con có đàm luận với Tôn giả
Gotama.
- Này Ambattha thân mến, cuộc
đàm luận ấy như thế nào?
Thanh niên Ambattha liền thuật
cho Bà-la-môn Pokkharasàdi rơ tất cả cuộc hội đàm với Tôn giả
Gotama.
|
|
291. Evaṃ vutte brāhmaṇo Pokkharasāti Ambaṭṭhaṃ māṇavaṃ
etadavoca |
15. Nghe nói như vậy, Bà-la-môn
Pokkharasàdi nói với thanh niên Ambattha:
|
|
“Aho vata re
amhākaṃ paṇḍitaka (PaṇḍitaKā),
aho vata re amhākaṃ bahussutaka (Bahussutakā,),
aho vata re amhākaṃ tevijjaka (Tevijjakā
- Ka),
evarūpena kira bho puriso atthacarakena kāyassa bhedā paraṃ
maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapajjeyya. Yadeva kho
tvaṃ Ambaṭṭha taṃ bhavantaṃ Gotamaṃ evaṃ āsajja āsajja avacāsi,
atha kho so bhavaṃ Gotamo amhepi evaṃ upaneyya upaneyya avaca.
Aho vata re amhākaṃ paṇḍitaka, aho vata re amhākaṃ bahussutaka,
aho vata re amhākaṃ tevijjaka, evarūpena kira bho puriso
atthacarakena kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ
vinipātaṃ nirayaṃ upapajjeyyā”ti,
Kupito (So kupito - I) anattamano Ambaṭṭhaṃ māṇavaṃ padasāyeva pavattesi.
Icchati ca tāvadeva Bhagavantaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ.
|
- Ngươi thật là nhà học giả đốn
mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà đa văn đốn mạt của chúng ta!
Ngươi thật là nhà tinh thông ba quyển Vệ đà đốn mạt của chúng
ta. Người ta nói những ai có sự cư xử như vậy, khi thân hoại
mạng chung, sẽ phải sanh vào cơi ác, đọa xứ, địa ngục. Này
Ambattha, ngươi càng công kích Tôn giả Gotama bao nhiêu, lại
càng bị Tôn giả Gotama lật tẩy chúng ta bấy nhiêu. Ngươi thật là
nhà học giả đốn mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà đa văn đốn
mạt của chúng ta! Ngươi thật là nhà tinh thông ba quyển Vệ đà
đốn mạt của chúng ta! Người ta nói, những ai có sự cư xử như
vậy, khi thân hoại mạng chung, sẽ phải sanh vào cơi ác, đọa xứ,
địa ngục.
Bà-la-môn Pokkharasàdi tức giận,
bực bội, dùng chân đá thanh niên Ambattha bổ lộn nhào rồi lập
tức muốn đi gặp đến Thế Tôn.
|
|
Pokkharasātibuddhūpasaṅkamana
292. Atha kho te
brāhmaṇā brāhmaṇaṃ Pokkharasātiṃ etadavocuṃ “Ativikālo kho bho
ajja samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ svedāni (Dāni sve - Sī, Ka)
bhavaṃ Pokkharasāti samaṇaṃ Gotamaṃ dassānāya
upasaṅkamissatī”ti.
|
16. Khi ấy, những người
Bà-la-môn này thưa với Bà-la-môn Pokkharasàdi: "Hôm nay th́ giờ
đă quá trễ để đi thăm Sa-môn Gotama. Ngày mai Tôn giả
Pokkharasàdi hăy đi thăm Sa-môn Gotama". |
|
Atha kho brāhmaṇo Pokkharasāti sake nivesane
paṇītaṃ khādanīyaṃ bhojanīyaṃ paṭiyādāpetvā yāne āropetvā ukkāsu
dhāriyamānāsu ukkaṭṭhāya niyyāsi. Yena icchānaṅgalavanasaṇḍo
tena pāyāsi. Yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā yānā
paccorohitvā pattikova yena Bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā
Bhagavatā saddhiṃ sammodi, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ
vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi.
|
Tuy vậy, Bà-la-môn Pokkharasàdi
vẫn cho làm các món ăn thượng vị, loại cứng loại mềm tại nhà
riêng, chở trên các xe, và dưới ánh sáng của những ngọn đuốc từ
Ukkattha đi ra và đi đến khóm rừng Icchànankala. Vị này đi xe
cho đến chỗ c̣n đi xe được rồi xuống xe đi bộ đến Thế Tôn. Khi
đi đến, liền nói với Thế Tôn những lời hỏi thăm xă giao, rồi
ngồi xuống một bên. |
|
293. Ekamantaṃ nisinno kho brāhmaṇo Pokkharasāti Bhagavantaṃ
etadavoca |
Khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn
Pokkharasàdi nói với Thế Tôn:
|
|
“Āgamā
nu khvidha bho Gotama amhākaṃ antevāsī ambaṭṭho māṇavo”ti.
Āgamā
kho te (Tedha - Syā; te idha - I)
brāhmaṇa antevāsī Ambaṭṭho māṇavoti.
Ahu pana te bho Gotama
Ambaṭṭhena māṇavena saddhiṃ kocideva kathāsallāpoti.
Ahu kho me
brāhmaṇa Ambaṭṭhena māṇavena saddhiṃ kocideva kathāsallāpoti.
Yathākathaṃ pana te bho Gotama ahu Ambaṭṭhena māṇavena saddhiṃ
kocideva kathāsallāpoti.
Atha kho Bhagavā yāvatako ahosi
Ambaṭṭhena māṇavena saddhiṃ kathāsallāpo, taṃ sabbaṃ brāhmaṇassa
Pokkharasātissa ārocesi.
Evaṃ vutte brāhmaṇo Pokkharasāti
Bhagavantaṃ etadavoca
“Bālo bho Gotama Ambaṭṭho māṇavo, khamatu
bhavaṃ Gotamo Ambaṭṭhassa māṇavassā”ti.
Sukhī hotu brāhmaṇa
Ambaṭṭho māṇavoti. |
17. - Tôn giả Gotama, đệ tử của
chúng tôi, thanh niên Ambattha có đến đây không?
- Này Bà-la-môn, đệ tử ngươi,
thanh niên Ambattha có đến đây.
- Tôn giả Gotama, Ngài có cùng
với thanh niên Ambattha đàm luận không?
- Này Bà-la-môn, ta có đàm luận
với thanh niên Ambattha.
- Tôn giả Gotama, cuộc đàm luận
của Ngài với thanh niên Ambattha như thế nào?
Cuộc đàm luận với thanh niên
Ambattha như thế nào, Thế Tôn kể lại tất cả cho Bà-la-môn
Pokkharasàdi.
Nghe nói vậy, Bà-la-môn nói với
Thế Tôn:
- Tôn giả Gotama, thanh niên
Ambattha thật là ngu si! Tôn giả Gotama, hăy tha thứ cho thanh
niên Ambattha!
- Này Bà-la-môn, cầu cho thanh
niên Ambattha được hạnh phúc.
|
|
294. Atha kho
brāhmaṇo Pokkharasāti Bhagavato kāye
dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇāni samannesi. Addasā kho brāhmaṇo
Pokkharasāti Bhagavato kāye dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇāni
yebhuyyena ṭhapetvā dve, dvīsu mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati
vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati kosohite ca vatthaguyhe
pahūtajivhatāya ca.
|
18. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn
Pokkharasàdi t́m đếm ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân trên
thân Thế Tôn. Bà-la-môn thấy gần đủ ba mươi hai tướng tốt của
bậc đại nhân trên thân Thế Tôn, trừ hai tướng. Đối với hai tướng
tốt của bậc đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa
măn, chưa được hài ḷng, hai tướng là tướng mă âm tàng và tướng
lưỡi rộng dài.
|
|
295. Atha kho
Bhagavato etadahosi “Passati kho me ayaṃ brāhmaṇo Pokkharasāti
dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇāni yebhuyyena ṭhapetvā dve, dvīsu
mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na
sampasīdati kosohite ca vatthaguyhe pahūtajivhatāya cā”ti. Atha
kho Bhagavā tathārūpaṃ iddhābhisaṅkhāraṃ abhisaṅkhāsi. Yathā
addasa brāhmaṇo Pokkharasāti Bhagavato kosohitaṃ vatthaguyhaṃ.
Atha kho Bhagavā jivhaṃ ninnāmetvā ubhopi kaṇṇasotāni anumasi
paṭimasi, ubhopi nāsikasotāni anumasi paṭimasi, kevalaṃpi
nalāṭamaṇḍalaṃ jivhāya chādesi.
|
19. Lúc bấy giờ Thế Tôn nghĩ:
rằng: "Bà-la-môn Pokkharasàdi thấy gần đủ ba mươi hai tướng tốt
của bậc đại nhân ở nơi Ta, trừ hai tướng. Đối với hai tướng tốt
của bậc đại nhân, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa
măn, chưa được hài ḷng, tức là tướng mă âm tàng và tướng lưỡi
rộng dài". Thế Tôn liền dùng thần thông khiến Bà-la-môn
Pokkharasàdi thấy tướng mă âm tàng của Thế Tôn. Và Thế Tôn le
lưỡi, rờ đến, liếm đến hai lỗ tai, rờ đến, liếm đến hai lỗ mũi,
và dùng lưỡi che khắp cả vầng trán.
|
|
296. Atha kho
brāhmaṇassa Pokkharasātissa etadahosi “Samannāgato kho samaṇo
Gotamo dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇehi paripuṇṇehi no
aparipuṇṇehī”ti Bhagavantaṃ etadavoca “Adhivāsetu me bhavaṃ
Gotamo ajjatanāya bhattaṃ saddhiṃ bhikkhusaṃghenā”ti. Adhivāsesi
Bhagavā tuṇhībhāvena.
|
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn
Pokkharasàdi nghĩ rằng: "Sa môn Gotama có đầy ba mươi hai tướng
tốt của bậc đại nhân, không phải không đầy đủ", liền nói với Thế
Tôn: "Hôm nay xin mời Tôn giả Gotama cùng chúng Tỷ-kheo đến dùng
cơm với con. Thế Tôn nhận lời với sự im lặng.
|
|
297. Atha kho
brāhmaṇo Pokkharasāti Bhagavato adhivāsanaṃ viditvā Bhagavato
kālaṃ ārocesi “Kālo bho Gotama niṭṭhitaṃ bhattan”ti. Atha kho
Bhagavā pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṃ
bhikkhusaṃghena yena brāhmaṇassa Pokkharasātissa nivesanaṃ
tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho
brāhmaṇo Pokkharasāti Bhagavantaṃ paṇītena khādanīyena
bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi, māṇavakāpi
bhikkhusaṃghaṃ. Atha kho brāhmaṇo Pokkharasāti Bhagavantaṃ
bhuttāviṃ onītapattapāṇiṃ aññataraṃ nīcaṃ āsanaṃ gahetvā
ekamantaṃ nisīdi.
|
20. Khi Bà-la-môn Pokkharasàdi
được biết Thế Tôn đă nhận lời liền báo th́ giờ cho Thế Tôn: Tôn
giả Gotama, cơm đă sẵn sàng. Khi ấy Thế Tôn buổi sáng đắp y, đem
theo y bát, và cùng với chúng Tỷ-kheo đi đến cư xá của Bà-la-môn
Pokkharasàdi. Khi đi đến, liền ngồi trên chỗ soạn sẵn. Bà-la-môn
Pokkharasàdi tự tay làm cho Thế Tôn thỏa măn với những món ăn
thượng vị, loại cứng và loại mềm, c̣n các thanh niên Bà-la-môn
th́ tiếp đại chúng Tỷ-kheo. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Pokkharasàdi,
sau khi biết Thế Tôn dùng cơm đă xong, đă rửa tay và bát, liền
lấy một ghế ngồi thấp khác và ngồi xuống một bên.
|
|
298. Ekamantaṃ
nisinnassa kho brāhmaṇassa Pokkharasātissa Bhagavā anupubbiṃ
kathaṃ kathesi, seyyathidaṃ, dānakathaṃ sīlakathaṃ saggakathaṃ
kāmānaṃ ādīnavaṃ okāraṃ saṃkilesaṃ nekkhamme ānisaṃsaṃ pakāsesi.
Yadā Bhagavā aññāsi brāhmaṇaṃ Pokkharasātiṃ kallacittaṃ
muducittaṃ vinīvaraṇacittaṃ udaggacittaṃ pasannacittaṃ, atha yā
Buddhānaṃ sāmukkaṃsikā dhammadesanā, taṃ pakāsesi dukkhaṃ
samudayaṃ nirodhaṃ maggaṃ, seyyathāpi nāma suddhaṃ vatthaṃ
apagatakāḷakaṃ sammadeva rajanaṃ paṭiggaṇheyya, evameva
brāhmaṇassa Pokkharasātissa tasmiṃyeva āsane virajaṃ vītamalaṃ
dhammacakkhuṃ udapādi “Yaṃ kiñci samudayadhammaṃ, sabbaṃ taṃ
nirodhadhamman”ti.
|
21. Thế Tôn liền thứ lớp giảng
pháp cho Bà-la-môn Pokkharasàdi đang ngồi một bên nghe, thuyết
về bố thí, thuyết về tŕ giới, thuyết về các cơi trời, tŕnh bày
sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục lạc và sự lợi ích
của xuất ly. Khi Thế Tôn biết tâm của Bà-la-môn Pokkharasàdi đă
sẵn sàng, đă nhu thuận, không c̣n chướng ngại, được phấn khởi,
được tín thành, liền thuyết pháp mà chư Phật đă chứng ngộ, tức
là khổ, tập, diệt, đạo. Cũng như tấm vải thuần bạch, được gột
rửa các vết đen, sẽ rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy, chính chỗ
ngồi này, pháp nhăn xa trần ly cấu khởi lên trong tâm Bà-la-môn
Pokkharasàdi: "Phàm pháp ǵ được tập khởi lên đều bị tiêu diệt".
|
|
Pokkharasāti-upāsakattapaṭivedanā
299. Atha kho brāhmaṇo Pokkharasāti diṭṭhadhammo pattadhammo
viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṃkatho
vesārajjappatto aparappaccayo Satthusāsane Bhagavantaṃ etadavoca
|
22. Khi ấy Bà-la-môn
Pokkharasàdi, thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào
pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín,
không y cứ nơi người đối với đạo pháp của đức Bổn sư. Bà-la-môn
Pokkharasàdi liền bạch Phật:
|
|
“Abhikkantaṃ bho Gotama, abhikkantaṃ bho Gotama, seyyathāpi bho
Gotama nikkujjitaṃ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā vivareyya,
mūḷhassa vā maggaṃ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṃ
dhāreyya ‘Cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti, evamevaṃ bhotā
Gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṃ bho Gotama
saputto sabhariyo sapariso sāmacco bhavantaṃ Gotamaṃ saraṇaṃ
gacchāmi Dhammañca Bhikkhusaṃghañca, upāsakaṃ maṃ bhavaṃ Gotamo
dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gataṃ, yathā ca bhavaṃ
Gotamo ukkaṭṭhāya aññāni upāsakakulāni upasaṅkamati, evameva
bhavaṃ Gotamo Pokkharasātikulaṃ upasaṅkamatu. Tattha ye te
māṇavakā vā māṇavikā vā bhavantaṃ Gotamaṃ abhivādessanti vā
paccuṭṭhissanti (Paccuṭṭhassanti
- I) vā
āsanaṃ vā udakaṃ vā dassanti cittaṃ vā pasādessanti, tesaṃ taṃ
bhavissati dīgharattaṃ hitāya sukhāyā”ti.
Kalyāṇaṃ vuccati
brāhmaṇāti.
|
- Thật vi diệu thay, Tôn giả
Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng
lại những ǵ bị quăng ngă xuống, phơi bày ra những ǵ bị che
kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong
bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh
pháp đă được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện tŕnh bày,
giải thích. Tôn giả Gotama, con, con của con, vợ của con, tùy
tùng của con, bạn hữu của con, xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y
Pháp và quy y chúng Tỷ kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ
tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Như Tôn giả Gotama đến thăm các gia đ́nh cư sĩ khác ở Ukkattha,
mong Tôn giả Gotama cũng đến thăm các gia đ́nh Pokkharasàdi. Tại
đây, các thanh nam hay thanh nữ Bà-la-môn sẽ đảnh lễ Thế Tôn
Gotama, hoặc đứng dậy, hoặc mời chỗ ngồi, hoặc mời nước, hoặc
khiến tâm hoan hỷ. Như vậy chúng sẽ hưởng hạnh phúc, lợi ích
trong một thời gian lâu dài.
- Này Bà-la-môn lời ngươi nói
thật là chí thiện.
|
|
Ambaṭṭhasuttaṃ niṭṭhitaṃ tatiyaṃ.
|
|
| <Trang Trước> |
<Bài
Kinh Kế> |
|