|
|
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở
tại Campa, trên bờ hồ Gaggara cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Rồi
Pessa, con trai người huấn luyện voi và Du sĩ Kandaraka đi đến
chỗ Thế Tôn ở Pessa, con trai người huấn luyện voi sau khi đến,
đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. C̣n du sĩ Kandaraka nói
lên với Thế Tôn những lời hỏi thăm, sau khi nói lên những lời
hỏi thăm thân hữu rồi đứng một bên. Du sĩ Kandaraka đứng một
bên, sau khi nh́n quanh chúng Tỷ-kheo đang giữ im lặng, thật im
lặng, liền bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu
thay, Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn giả Gotama! Chúng
Tỷ-kheo này được Tôn giả Gotama chơn chánh hướng dẫn. Tôn giả
Gotama, các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong thời quá khứ,
không biết quư vị Thế Tôn ấy đă có một chúng Tỷ-kheo tuyệt diệu
như vậy, mà quư vị ấy chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng
Tỷ-kheo được Tôn giả Gotama chơn chánh hướng dẫn? Tôn giả
Gotama, các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong tương lai, không
biết quư vị Thế Tôn ấy sẽ có một chúng Tỷ-kheo tuyệt diệu như
vậy, mà quư vị ấy sẽ chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng Tỷ-kheo
được Tôn giả Gotama chơn chánh hướng dẫn?
-- Thật sự là vậy,
này Kandaraka! Thật sự là vậy, này Kandaraka! Này Kandaraka, các
vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong thời quá khứ, những vị Thế
Tôn ấy đă có một chúng Tỷ-kheo tuyệt diệu như vậy, mà quư vị ấy
chơn chánh hướng dẫn, như nay chúng Tỷ-kheo được Ta chơn chánh
hướng dẫn. Này Kandaraka, các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trong
thời tương lai, những vị Thế Tôn ấy sẽ có một chúng Tỷ-kheo
tuyệt diệu như vậy, mà quư vị ấy chơn chánh hướng dẫn, như nay
chúng Tỷ-kheo được Ta chơn chánh hướng dẫn.
Này Kandaraka,
trong chúng Tỷ-kheo này, có những vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán,
các lậu đă tận, tu hành thành măn, các việc nên làm đă làm, đă
đặt gánh nặng xuống, đă thành đạt lư tưởng, đă tận trừ hữu kiết
sử, đă được giải thoát nhờ chánh trí. Này Kandaraka, trong chúng
Tỷ-kheo này, có những Tỷ-kheo là bậc hữu học, giới luật kiên
tŕ, giới hạnh kiên tŕ, sáng suốt, hạnh nghiệp sáng suốt, sống
với tâm khéo an trú Bốn Niệm xứ. Thế nào là bốn? Ở đây này
Kandaraka, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm tỉnh
giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; sống quán thọ
trên các cảm thọ, nhiệt tâm tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục
tham ưu trên đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác,
chánh niệm để nhiếp phục tham ưu trên đời; sống quán pháp trên
các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham
ưu trên đời.
Được nghe nói vậy,
Pessa, con trai người huấn luyện voi bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu
thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bốn Niệm xứ
này đă được Thế Tôn khéo tŕnh bày, để chúng sanh được thanh
tịnh, để sầu bi được vượt qua, để khổ ưu được diệt trừ, để chánh
lư được thành đạt, để Niết-bàn được chứng ngộ. Bạch Thế Tôn,
chúng con là hàng tại gia, mặc đồ trắng, thỉnh thoảng chúng con
sống khéo an trú tâm vào Bốn Niệm xứ này. Ở đây, Bạch Thế Tôn,
chúng con sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh
niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời; chúng con sống quán thọ
trên các cảm thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp
phục tham ưu trên đời; chúng con sống quán tâm trên tâm, nhiệt
tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời;
chúng con sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác,
chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu trên đời. Thật vi diệu thay,
bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, Thế
Tôn hiểu được hạnh phúc và sự bất hạnh của chúng sanh trong khi
loài người sống trong sự rối ren như vậy, trong sự cặn bă như
vậy, trong sự xảo quyệt như vậy. Bạch Thế Tôn, rối ren thay như
loài người. Bạch Thế Tôn, cởi mở thay như loài thú vật. Bạch Thế
Tôn, con có thể nhiếp phục con voi, một cách khiến con voi ấy
mỗi khi đi hay đến Campa, liền tŕnh bày mọi sự gian dối, giả
dối, xảo trá, xảo quyệt. Nhưng bạch Thế Tôn, những người đầy tớ
của chúng con, những người phục dịch, những người làm công, thân
hành họ làm một cách, khẩu hành họ làm một cách khác, ư hành họ
làm một cách khác nữa. Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy
hữu thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn biết được hạnh phúc và sự bất
hạnh của chúng sanh, trong khi loài người sống trong sự rối ren
như vậy, trong sự cặn bă như vậy, trong sự xảo quyệt như vậy.
Bạch Thế Tôn, rối ren thay như loài người! Bạch Thế Tôn, cởi mở
thay, như loài thú vật!
-- Thật như vậy,
này Pessa! Thật như vậy, này Pessa! Này Pessa, rối ren thay, như
loài người! Cởi mở thay, như loài thú vật! Này Pessa, có bốn
hạng người này có mặt ở trên đời. Thế nào là bốn? Ở đây, này
Pessa, có người tự hành khổ ḿnh, chuyên tâm tự hành khổ ḿnh. Ở
đây, này Pessa, có người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ
người. Ở đây, này Pessa, có người vừa tự hành khổ ḿnh, chuyên
tâm tự hành khổ ḿnh, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ
người. Ở đây, này Pessa, lại có người vừa không tự hành khổ
ḿnh, không chuyên tâm tự hành khổ ḿnh, vừa không hành khổ
người, không chuyên tâm hành khổ người. Người ấy không tự hành
khổ ḿnh, không chuyên tâm tự hành khổ ḿnh, không hành khổ
người, không chuyên tâm hành khổ người, ngay trong hiện tại
không tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ,
tự ngă trú vào Phạm thể. Này Pessa, bốn hạng người này, hạng
người nào, được tâm Ông thích ư nhất?
-- Bạch Thế Tôn,
hạng người tự hành khổ ḿnh, chuyên tâm tự hành khổ ḿnh, hạng
người này tâm con không thích ư. Bạch Thế Tôn, hạng người hành
khổ người, chuyên tâm hành khổ người, hạng người này tâm con
không thích ư. Bạch Thế Tôn, hạng người vừa tự hành khổ ḿnh,
chuyên tâm tự hành khổ ḿnh, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành
khổ người, hạng người này tâm con không thích ư. Bạch Thế Tôn,
hạng người vừa không tự hành khổ ḿnh, không chuyên tâm tự hành
khổ ḿnh, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm hành khổ
người, hạng người không tự hành khổ ḿnh, không hành khổ người,
ngay trong hiện tại không có tham dục, tịch tịnh, cảm thấy mát
lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngă trú vào Phạm thể, hạng người này,
tâm con thích ư.
-- Này Pessa, v́
sao Ông không thích ư ba hạng người này?
-- Bạch Thế Tôn,
hạng người tự hành khổ ḿnh, chuyên tâm tự hành khổ ḿnh, hạng
người này hành khổ ḿnh, hành hạ ḿnh, trong khi tự ao ước lạc,
nhàm chán khổ; do vậy, tâm con không thích ư hạng người này.
Bạch Thế Tôn, hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ
người, hạng người này, hành khổ người khác, hành hạ người khác,
trong khi người khác ao ước lạc, nhàm chán khổ; do vậy, tâm con
không thích ư hạng người này. Bạch Thế Tôn, hạng người vừa tự
hành khổ ḿnh, chuyên tâm tự hành khổ ḿnh, vừa hành khổ người,
chuyên tâm hành khổ người, hạng người này hành khổ ḿnh, hành hạ
ḿnh và người khác, trong khi ḿnh và người khác ao ước lạc,
nhàm chán khổ; do vậy, tâm con không thích ư hạng người này.
Nhưng bạch Thế Tôn, người vừa không tự hành khổ ḿnh, không
chuyên tâm tự hành khổ ḿnh, vừa không hành khổ người, không
chuyên tâm hành khổ người, hạng người này không tự hành khổ
ḿnh, không hành khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục,
tịch tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm giác lạc thọ, tự ngă trú vào
Phạm thể; do vậy, tâm con thích ư hạng người này. Và này, bạch
Thế Tôn, chúng con phải đi, chúng con có nhiều công vụ, có nhiều
công việc phải làm.
-- Này Pessa, Ông
hăy làm những ǵ Ông nghĩ là hợp thời.
Rồi Pessa, con trai
người huấn luyện voi hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ
ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi
ra đi.
Rồi Thế Tôn, sau
khi Pessa, con trai người huấn luyện voi ra đi không được bao
lâu, liền nói với các Tỷ-kheo:
-- Này các Tỷ-kheo,
Pessa, con trai người huấn luyện voi là bậc có trí; Pessa, con
trai người huấn luyện voi là người có đại trí tuệ. Này các
Tỷ-kheo, nếu Pessa, con trai người huấn luyện voi ngồi thêm một
chút nữa, cho đến khi Ta phân tích rộng răi hơn bốn hạng người
này, thời anh ta sẽ thâu đạt được nhiều lợi ích. Tuy vậy, này
các Tỷ-kheo, Pessa, con trai người huấn luyện voi như vậy cũng
đă thâu đạt được nhiều lợi ích.
-- Bạch Thế Tôn,
nay đă đến thời. Bạch Thiện Thệ, nay đă đến thời để Thế Tôn phân
tích rộng răi hơn bốn hạng người này. Sau khi nghe Thế Tôn, các
Tỷ-kheo sẽ thọ tŕ.
-- Vậy này các
Tỷ-kheo, hăy nghe và khéo léo tác ư, Ta sẽ giảng.
-- Thưa vâng, bạch
Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng
đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Này các Tỷ-kheo,
thế nào là hạng người tự hành khổ ḿnh, chuyên tâm tự hành khổ
ḿnh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người sống lơa thể sống phóng
túng không theo lễ nghi, liếm tay cho sạch, đi khất thực không
chịu bước tới, đi khất thực không chịu đứng một chỗ, không nhận
đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn dành riêng, không nhận mời đi
ăn, không nhận từ nơi miệng nồi, không nhận từ nơi miệng chảo,
không nhận tại ngưỡng cửa, không nhận giữa những cây gậy, không
nhận giữa những cối giă gạo, không nhận từ hai người đang ăn,
không nhận từ người đàn bà có thai, không nhận từ người đàn bà
đang cho con bú, không nhận từ người đàn bà đang giao cấu người
đàn ông, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận tại chỗ có chó
đứng, không nhận tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, ăn thịt, không
uống rượu nấu, rượu men. Vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà, hay chỉ
nhận ăn một miếng, hay vị ấy chỉ nhận ăn tại hai nhà, hay chỉ
nhận ăn hai miếng... hay vị ấy chỉ nhận ăn bảy nhà, hay vị ấy
chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi sống chỉ với một bát, nuôi
sống chỉ với hai bát,... nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn
một ngày một bữa, hai ngày một bữa,... bảy ngày một bữa. Như vậy
vị ấy sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn
một lần. Vị ấy chỉ ăn cỏ hoang, ăn lúa tắc, ăn lúa hoang, ăn da
vụn, ăn rong nước, ăn bột tấm, ăn váng gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ
hay ăn phân ḅ. Vị ấy ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái
cây rụng để sống. Vị ấy mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với
các vải khác, mặc vải tẩm liệm rồi quăng đi, mặc vải phấn tảo y,
mặc vỏ cây tirita làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện
bằng từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường,
mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại
thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cừu.
Vị ấy là người sống nhổ râu tóc, là người chuyên sống theo hạnh
nhổ râu tóc, là người theo hạnh thường đứng, từ bỏ chỗ ngồi, là
người ngồi chơ hỏ, chuyên sống theo hạnh ngồi chơ hỏ, một cách
tinh tấn, là người dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên
giường gai, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm
(để gột sạch tội lỗi). Như vậy dưới nhiều h́nh thức, vị ấy sống
tự hành khổ ḿnh, chuyên tâm tự hành khổ ḿnh. Như vậy, này các
Tỷ-kheo, được gọi là hạng người tự hành khổ ḿnh, chuyên tâm tự
hành khổ ḿnh.
Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là hạng người tự hành khổ người, chuyên tâm hành khổ
người? Ở đây, các Tỷ-kheo, có người giết trâu ḅ, là người giết
heo, là người giết vịt, săn thú, là thợ săn, thợ đánh cá, ăn
trộm, người xử tử các người ăn trộm, cai ngục và những người làm
các nghề độc ác khác. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là hạng
người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.
Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là hạng người vừa tự hành khổ ḿnh, chuyên tâm tự hành
khổ ḿnh, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người? Ở đây,
này các Tỷ-kheo, có người làm vua, thuộc giai cấp Sát-đế-lị, đă
làm lễ quán đảnh, hay một Bà-la-môn triệu phú. Vị này cho xây
dựng một giảng đường mới về phía Đông thành phố, cạo bỏ râu tóc,
đắp áo da thô, toàn thân bôi thục tô và dầu, găi lưng với một
sừng nai, đi vào giảng đường với người vợ chính và một Bà-la-môn
tế tự. Rồi vị ấy nằm xuống dưới đất trống trơn chỉ có lát cỏ. Vị
vua sống với sữa từ vú một con ḅ cái, có con ḅ con cùng một
mầu sắc; bà vợ chính sống với sữa từ vú thứ hai; và vị Bà-la-môn
tế tự sống với sữa từ vú thứ ba. Sữa từ vú thứ tư dùng để tế
lửa. C̣n con nghé con th́ sống với đồ c̣n lại. Vị vua nói như
sau: "Hăy giết một số ḅ đực để tế lễ, hăy giết một số nghé đực
để tế lễ, hăy giết một số nghé cái để tế lễ, hăy giết một số dê
để tế lễ, hăy giết một số cừu để tế lễ, hăy chặt một số cây để
làm cột tế lễ, hăy thâu lượm một số cỏ dabbha để làm chỗ tế lễ.
Và những người nô tỳ, những người phục vụ, những người làm công,
những người này v́ sợ đ̣n gậy, v́ sợ nguy hiểm, với mặt tràn đầy
nước mắt, khóc lóc làm các công việc. Như vậy, này các Tỷ-kheo,
được gọi là hạng người vừa tự hành khổ ḿnh, chuyên tâm tự hành
khổ ḿnh, vừa hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.
Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là hạng người vừa không tự hành khổ ḿnh, không chuyên
tâm tự hành khổ ḿnh, vừa không hành khổ người, không chuyên tâm
hành khổ người, hạng người này không tự hành khổ ḿnh, không
hành khổ người, hiện tại sống không tham dục, tịch tịnh, cảm
thấy mát lạnh, cảm thấy lạc thọ, tự ngă trú vào Phạm thể?
Ở đây, này các
Tỷ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến
Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều
Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi
riêng tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này là Thiên giới,
Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn,
Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đă chứng ngộ.
Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn
nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
Người gia trưởng
hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ
tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh ḷng tín
ngưỡng Như Lai. Khi có ḷng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ:
"Đời sống gia đ́nh đầy những triền phược, con đường đầy những
bụi đời. Đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không
dễ ǵ cho một người sống ở gia đ́nh có thể sống theo Phạm hạnh
hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc.
Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia
đ́nh, sống không gia đ́nh". Một thời gian sau, người ấy bỏ tài
sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ
bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất
gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh.
Vị ấy xuất gia như
vậy, hành tŕ các học giới và hạnh sống các Tỷ-kheo, từ bỏ sát
sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ
hăi, có ḷng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh
và loài hữu t́nh. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy
của không cho, chỉ mong những vật đă cho, tự sống thanh tịnh,
không có trộm cướp. Vị ấy từ bỏ đời sống không Phạm hạnh, sống
theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt.
Vị ấy từ bỏ nói
láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc chắn,
đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi,
tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều ǵ ở chỗ này, không đến chỗ kia
nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều ǵ ở chỗ kia,
không đi nói với những người này để sanh chuyện chia rẽ ở những
người kia. Như vậy, vị ấy sống ḥa hợp những kẻ ly gián, khuyến
khích những kẻ ḥa hợp, hoan hỷ trong ḥa hợp, thích thú trong
ḥa hợp, hân hoan trong ḥa hợp, nói những lời đưa đến ḥa hợp.
Vị ấy từ bỏ nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời
nói dịu hiền, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhă,
đẹp ḷng nhiều người; vị ấy nói những lời nói như vậy. Vị ấy từ
bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời,
nói chân thật, nói có ư nghĩa, nói pháp, nói luật, nói những lời
đáng được ǵn giữ, những lời hợp thời, hợp lư, có mạch lạc hệ
thống, có ích lợi.
Vị ấy từ bỏ không
làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một
bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi
xem múa, hát, nhạc, các cuộc tŕnh diễn; từ bỏ không dùng ṿng
hoa, hương liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ
không dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và
bạc; từ bỏ không nhận các hạt giống; từ bỏ không nhận thịt sống,
từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận nô tỳ gái và
trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và
heo; từ bỏ không nhận voi, ḅ, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không
nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới
hoặc tự ḿnh làm môi giới; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự
gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như
hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm thương tổn, sát hại,
câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
Vị ấy sống biết đủ,
bằng ḷng với tấm y để che thân với đồ ăn khất thực để nuôi
bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và b́nh bát). Như con
chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ-kheo
bằng ḷng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi
bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới
uẩn này, nội tâm hưởng lạc thọ không khuyết phạm.
Khi mắt thấy sắc,
vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.
Những nguyên nhân ǵ, v́ con mắt không được chế ngự, khiến tham
ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự các
nguyên nhân ấy, hộ tŕ con mắt, thực hành sự hộ tŕ con mắt. Khi
tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm
xúc... ư nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung,
không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân ǵ, v́ ư căn không
được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi
lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ tŕ ư căn, thực hành sự hộ
tŕ ư căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ tŕ các căn này, nội tâm
hưởng lạc thọ không uế nhiễm.
Vị ấy khi đi tới,
khi đi lui đều tỉnh giác; khi nh́n thẳng, khi nh́n quanh đều
tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y
kép, b́nh bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt
đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi,
đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.
Vị ấy thành tựu
Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ tŕ các căn này, thành
tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một trú xứ thanh vắng,
như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, băi tha ma, lùm cây
ngoài trời, đống rơm.
Sau khi ăn xong và
đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói
trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở
đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm hết dục tham.
Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, ḷng từ mẫn
thương xót tất cả chúng sanh hữu t́nh, gột rửa tâm hết sân hận.
Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy
miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng chánh niệm tỉnh giác, gột
rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy
sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử,
hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không
phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
Vị ấy sau khi từ bỏ
năm triền cái này, các pháp làm tâm cấu uế, làm trí tuệ trở
thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú
Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do dục sanh, với tầm với
tứ.
Vị ấy diệt tầm và
tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định
sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
Vị ấy ly hỷ trú xả,
chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi
là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba.
Vị ấy xả lạc, xả
khổ, diệt hỷ ưu đă cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư,
không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Với tâm định tĩnh,
thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu
nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm
đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một
đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi
đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn
đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: "Tại chỗ
kia, ta có tên như thế này, ḍng họ như thế này, giai cấp như
thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ
đến mức như thế này. Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại
chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, ḍng họ như thế này,
giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế
này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta
được sanh ra ở đây". Như vậy, vị ấy nhớ đến những đời sống quá
khứ, cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
Với tâm định tĩnh,
thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu
nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm
đến sanh tử trí của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhăn thuần tịnh,
siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rơ
rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô
xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Vị ấy
nghĩ rằng: "Thật sự những vị chúng sanh này thành tựu những ác
hạnh về thân, thành tựu những ác hạnh về lời nói, thành tựu
những ác hạnh về ư, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo
các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng
chung, phải sanh vào cơi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. C̣n những
vị chúng sanh này thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu
những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ư,
không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp
theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung,
được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này". Như vậy,
vị ấy với thiên nhăn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết
của chúng sanh. Vị ấy tuệ tri rơ rằng chúng sanh, người hạ liệt
kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh
đều do hạnh nghiệp của họ.
Với tâm định tĩnh,
thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu
nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm
đến lậu tận trí. Vị ấy tuệ tri như thật: "Đây là Khổ", tuệ tri
như thật: "Đây là Khổ tập", tuệ tri như thật: "Đây là Khổ diệt",
tuệ tri như thật: "Đây là Con Đường đưa đến khổ diệt" tuệ tri
như thật: "Đây là những lậu hoặc", tuệ tri như thật: "Đây là
nguyên nhân của các lậu hoặc", tuệ tri như thật: "Đây là sự diệt
trừ các lậu hoặc", tuệ tri như thật: "Đây là Con Đường đưa đến
sự diệt trừ các lậu hoặc".
Nhờ biết như vậy,
thấy như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu,
thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đă giải thoát như vậy
khởi lên sự hiểu biết: "Ta đă giải thoát". Vị ấy tuệ tri: "Sanh
đă tận, phạm hạnh đă thành, việc cần làm đă làm; sau đời hiện
tại, không có trở lui đời sống này nữa".
Như vậy, này các
Tỷ-kheo, được gọi là hạng người vừa không tự hành khổ ḿnh,
không chuyên tâm tự hành khổ ḿnh, vừa không hành khổ người,
không chuyên tâm hành khổ người. Vị ấy không tự hành khổ ḿnh,
không hành khổ người, ngay trong hiện tại không tham dục, tịch
tịnh, cảm thấy mát lạnh, cảm thấy lạc thọ, tự ngă trú vào Phạm
thể.
Thế Tôn thuyết
giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
|