Trang Chính

TTPV 29: Suttanipātapāḷi - Kinh Tập

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

KHUDDAKANIKĀYA - TIỂU BỘ

SUTTANIPĀTAPĀḶI - KINH TẬP

* TTPV tập 29 *

(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

Cập Nhật: Saturday, June 28, 2014

 

II. CULLAVAGGO - TIỂU PHẨM (tiếp theo)

 

 

Buddha Jayanti Tripitaka Series (BJTS) - Tạng Sri Lanka

 

 

Lời tiếng Việt: (văn xuôi) Tỳ khưu Indacanda

 

 

Lời tiếng Việt: (văn vần) HT. Thích Minh Châu

 

 

8. DHAMMA (NĀVĀ) SUTTAṂ

 

 

8. KINH GIÁO PHÁP (CHIẾC THUYỀN)

 

 

8. KINH CHIẾC THUYỀN

 

318. Yasmā hi dhammaṃ puriso vijaññā
indaṃ ’va naṃ devatā pūjayeyya,
so pūjito tasmiṃ pasannacitto
bahussuto pātukaroti dhammaṃ.

318. Do bởi vị nào mà một người có thể nhận thức được Giáo Pháp, th́ nên tôn vinh vị ấy, tựa như vị Thiên nhân tôn vinh Thiên Chủ Inda. Được tôn vinh, có tâm hoan hỷ ở người (học tṛ) ấy, vị đa văn ấy (sẽ) bày tỏ về Giáo Pháp.

316. Từ vị nào một người,
Rơ biết được Chánh pháp,
Hăy đảnh lễ vị ấy,
Như chư Thiên, Inda,
Vị ấy được đảnh lễ,
Tâm tư sanh hoan hỷ,
Nghe nhiều, học hỏi nhiều,
Thuyết tŕnh chơn diệu pháp.

 

319. Tadaṭṭhikatvāna nisamma dhīro
dhammānudhammaṃ paṭipajjamāno,
viññū vibhāvī nipuṇo ca hoti
yo tādisaṃ bhajate appamatto.
 

319. Người nào thân cận với vị (thầy) như thế ấy, không xao lăng, là người sáng trí, sau khi lấy điều ấy làm mục đích, sau khi lắng tai nghe, trong khi thực hành đúng pháp và thuận pháp, trở thành người hiểu biết, thông suốt, và khôn khéo.

317. Vị sáng suốt chú tâm,
Suy tư và quán sát
Thực hành pháp tuỳ pháp,
Trở thành vị hiểu biết,
Thông minh và thận trọng,
Không phóng dật, vị ấy,
Theo gương vị như vậy.

320. Khuddañca bālaṃ upasevamāno
anāgatatthañca usūyakañca,
idheva dhammaṃ avibhāvayitvā
avitiṇṇakaṅkho maraṇaṃ upeti.
 

320. Trong khi phục vụ vị (thầy) nhỏ mọn và ngu dốt, c̣n chưa đạt đến mục đích và có tánh ganh tỵ, ngay tại nơi này người (học tṛ) không thông suốt Giáo Pháp và đi đến cái chết, c̣n chưa vượt qua sự nghi hoặc.

318. Ai phục vụ kẻ ngu,
Ngu si, tâm bé nhỏ,
Mục đích chưa đạt được,
Lại ganh tị tật đố,
Chính ở đây Chánh pháp,
Không phát triển tu tập,
Chưa vượt thoát nghi hoặc,
Người ấy bị tử vong.

321. Yathā naro āpagaṃ otaritvā
mahodakaṃ salilaṃ sīghasotaṃ,
so vuyhamāno anusotagāmi
kiṃ so pare sakkati tārayetuṃ.
 

321. Giống như người đàn ông sau khi lội xuống ḍng sông có nước lớn, tràn lan, có ḍng nước chảy xiết, trong khi bị cuốn trôi xuôi theo ḍng nước, người ấy có khả năng để giúp những kẻ khác vượt qua không?

319. Như người nhảy xuống sông,
Ḍng sông nước ngập tràn,
Nước sông, nhớp đục ngầu,
Ḍng nước chảy nhanh mạnh
Người ấy bị lôi cuốn,
Theo ḍng nước trôi đi,
Làm sao nó có thể,
Giúp người khác vượt ḍng.

322. Tatheva dhammaṃ avibhāvayitvā
bahussutānaṃ anisāmayattha,
sayaṃ ajānaṃ avītiṇṇakaṅkho
kiṃ so pare sakkati nijjhāpetuṃ.

322. Tương tự như thế ấy, người không thông suốt Giáo Pháp, không lắng tai nghe ư nghĩa ở những vị đa văn, trong khi chính ḿnh không biết, c̣n chưa vượt qua sự nghi hoặc, người ấy có khả năng để giúp cho những kẻ khác lĩnh hội không?

320. Cũng vậy, với người nào,
Pháp không được tu tập,
Không quán sát ư nghĩa,
Của những vị nghe nhiều,
Tự ḿnh không rơ biết,
Nghi hoặc chưa vượt qua,
Làm sao nó có thể,
Giúp người khác thiền định.

323. Yathāpi nāvaṃ daḷhamāruhitvā
piyen’ arittena samaṅgibhūto,
so tāraye tattha bahūpi aññe
tatrūpāyaññū kusalo mutīmā.
 

323. Cũng giống như người, sau khi leo lên chiếc thuyền vững chắc, được cung cấp mái chèo và bánh lái, là người thiện xảo, biết xử trí, hiểu biết cách thức (điều khiển) ở nơi ấy (chiếc thuyền), người ấy có thể giúp cho nhiều người khác nữa vượt qua nơi ấy.

321. Như người được leo lên,
Chiếc thuyền mạnh vững chắc,
Được trang bị đầy đủ,
Mái chèo và tay lái;
Người như vậy ở đây,
Giúp nhiều người ngược ḍng,
Rơ biết những phương tiện,
Thiện xảo và sáng suốt.

324. Evampi yo vedagū bhāvitatto
bahussuto hoti avedhadhammo,
so kho pare nijjhapaye pajānaṃ
sotāvadhānūpanīsūpapanne.
 

324. Cũng như vậy, vị nào đă đạt được tri kiến, có bản thân đă được tu tập, là vị nghe nhiều, có bản tánh không bị dao động, quả thật vị ấy, trong khi nhận biết, có thể giúp cho những người khác lĩnh hội, những người có sự lắng tai nghe và có được điều kiện căn bản (của sự chứng ngộ).

322. Như vậy, bậc sáng suốt,
Luôn luôn tự tu tập,
Bậc nghe nhiều hiểu nhiều,
Không c̣n bị dao động,
Vị ấy giúp đỡ được,
Các người khác tu thiền,
Làm khởi lên nguyên nhân,
Tha thiết muốn nghe pháp.

325. Tasmā have sappurisaṃ bhajetha
medhāvinañceva bahussutañca,
aññāya atthaṃ paṭipajjamāno
viññātadhammo so sukhaṃ labhethāti.

325. V́ thế, thật vậy nên thân cận với bậc chân nhân, vị có sự thông minh và có sự nghe nhiều. Sau khi hiểu được ư nghĩa, trong khi thực hành, với Giáo Pháp đă được nhận thức, người ấy có thể đạt được sự an lạc.

323. Do vậy, hăy thân cận,
Bậc chân nhân hiền sĩ,
Bậc sáng suốt, có trí,
Bậc nghe nhiều học nhiều.
Sau khi biết mục đích,
Cố gắng khéo hành tŕ,
Rơ biết được Chánh pháp,
Vị ấy được an lạc.

 

Dhammasuttaṃ niṭṭhitaṃ.

 

 

Dứt Kinh Giáo Pháp.

 

 

 

9. KIṂSĪLASUTTAṂ

 

9. KINH VỚI GIỚI G̀

 

9. KINH THẾ NÀO LÀ GIỚI

 

326. Kiṃsīlo kiṃsamācāro kāni kammāni brūhayaṃ,
naro sammā niviṭṭhassa uttamatthañca pāpuṇe.

326. Với giới ǵ, với sở hành ǵ, trong lúc làm tăng trưởng các nghiệp ǵ, một người có thể được tiến vào một cách đúng đắn và có thể đạt được mục đích tối thượng?

324. Thế nào là giới đức?
Thế nào là chánh hạnh?
Cần phải làm tăng trưởng.
Thân khẩu ư nghiệp nào?
Để người chánh nhập cuộc,
Đạt được đích tối thượng?

327. Vuddhāpacāyī anusuyyako siyā
kālaññū cassa garunaṃ dassanāya,
dhammiṃ kathaṃ erayitaṃ khaṇaññū
suṇeyya sakkacca subhāsitāni.

327. Nên có sự tôn kính các bậc trưởng thượng, không nên ganh tỵ,

và nên biết thời điểm để yết kiến các vị thầy,

nên biết thời khắc buổi thuyết giảng Pháp được bắt đầu,

nên nghiêm chỉnh lắng nghe các lời đă được khéo nói.

325. Kính lễ bậc trưởng thượng,
Không ganh tị một ai,
Cần phải biết thời gian,
Để yết kiến Đạo sư,
Biết được đúng thời khắc,
Thuyết pháp bắt đầu giảng,
Hăy cẩn thận lắng nghe,
Lời giảng được khéo nói.

328. Kālena gacche garunaṃ sakāsaṃ
thambhaṃ niraṃkatvā nivātavutti,
atthaṃ dhammaṃ saṃyamaṃ brahmacariyaṃ
anussare ceva samācare ca.

328. Nên đi đến tŕnh diện các vị thầy đúng thời điểm,

nên dẹp bỏ sự bướng bỉnh, có lối cư xử khiêm nhường,

về ư nghĩa (lời giảng), Giáo Pháp, sự tự kiềm chế, và Phạm hạnh,

chẳng những nên ghi nhớ mà c̣n nên hành tŕ.

326. Hăy đi đến đúng thời,
Trước mặt vị Đạo Sư,
Từ bỏ tánh cứng đầu,
Với thái độ khiêm tốn,
Hăy nhớ nghĩ ức niệm,
Hăy chơn chánh hành tŕ,
Mục đích và Chánh pháp,
Chế ngự và Phạm hạnh.

329. Dhammārāmo dhammarato
dhamme ṭhito dhammavinicchayaññū,
no vācare dhammasandosavādaṃ
nīyetha tacchehi subhāsitehi.

 

329. Có sự vui thích ở Giáo Pháp, ưa thích Giáo Pháp,

đứng vững ở Giáo Pháp, biết xét đoán về Giáo Pháp,

không nên tạo ra lời nói gây hại cho Giáo Pháp,

nên được dẫn dắt bởi những sự thật đă được khéo nói.

 

327. Vui thích trong Chánh Pháp
Hoan hỷ trong Chánh Pháp,
An trú trên Chánh pháp,
Biết phân tích Chánh pháp,
Sở hành không làm ǵ,
Có lời uế nhiễm pháp,
Chịu hướng dẫn lănh đạo,
Lời trung thực khéo nói.

330. Hassaṃ jappaṃ paridevaṃ padosaṃ
māyākataṃ kuhakaṃ giddhimānaṃ,
sārambhakakkasakasāva mucchaṃ
hitvā care vītamado ṭhitatto.

330. Nên từ bỏ sự cười giỡn, việc nói vô bổ, sự than văn, sự nổi sân, việc làm xảo trá, sự giả dối, sự thèm khát, và ngă mạn, sự hung hăng, sự thô lỗ, các uế trược, sự mê mẩn, và nên sống xa ĺa sự đam mê, với bản thân đă được ổn định.

328. Bỏ cười đùa, lắm miệng,
Khóc than và sân hận,
Làm những điều man trá,
Lừa đảo, tham, kiêu mạn,
Bồng bột và bạo ngôn,
Cứng rắn và đam mê,
Sống từ bỏ tất cả,
Ly say đắm, kiên tŕ.

331. Viññātasārāni subhāsitāni
sutañca viññātasamādhisāraṃ,
na tassa paññā ca sutañca vaḍḍhati
yo sāhaso hoti naro pamatto.

331. Các cốt lơi đă được nhận thức là các lời đă được khéo nói. Điều đă được nghe và điều đă được nhận thức là cốt lơi của định. Người nam nào nóng nảy và xao lăng, tuệ và điều đă được nghe của người ấy không tăng trưởng.

329. Thức tri được cốt lơi,
Những lời đươc khéo nói,
Đươc nghe khéo thức tri,
Cốt lơi của thiền định,
Với con người hấp tấp,
Lại phóng dật buông lung,
Trí tuệ, đều được nghe,
Không có thể tăng trưởng.

332. Dhamme ca ye ariyapavedite ratā
anuttarā te vacasā manasā kammanā ca,
te santisoraccasamādhisaṇṭhitā
sutassa paññāya ca sāramajjhagūti.

332. Những người nào thích thú ở Giáo Pháp đă được tuyên thuyết bởi bậc Thánh nhân, những người ấy là không vượt hơn được về lời nói, về ư, và về hành động, những người ấy đă đứng vững ở sự an tịnh, ở sự hiền ḥa, và ở định, họ đă đạt đến cốt lơi của điều đă được nghe và của tuệ.

330. An vui thích Chánh pháp,
Do bậc Thánh tuyên thuyết,
Họ trở thành vô thượng,
Về lời ư và nghiệp,
Họ an tịnh nhu ḥa,
An trú trên thiền định,
Chứng đạt được cốt lơi,
Pháp được nghe, trí tuệ.

 

Kiṃsīlasuttaṃ niṭṭhitaṃ.

 

Dứt Kinh Với Giới Ǵ.

 

 

 

10. UṬṬHĀNASUTTAṂ

 

10. KINH ĐỨNG LÊN

 

 

10. KINH ĐỨNG DẬY

 

333. Uṭṭhahatha nisīdatha ko attho supitena vo,
āturānaṃ hi kā niddā sallaviddhāna ruppataṃ.

333. Hăy đứng lên! Hăy ngồi dậy! Lợi ích ǵ cho các ngươi với việc ngủ? Bởi v́ ngủ nghê ǵ đối với những kẻ bệnh, bị mũi tên xuyên thủng, đang bị khổ sở?

331. Hăy đứng dậy, ngồi dậy,
Với người mộng ích ǵ?
Kẻ bệnh ngủ làm ǵ?
Khi mũi tên phiền lụy.
 

334. Uṭṭhahatha nisīdatha daḷhaṃ sikkhatha santiyā,
mā vo pamatte viññāya maccurājā amohayittha vasānuge.

334. Hăy đứng lên! Hăy ngồi dậy! Các ngươi hăy rèn luyện vững chắc về sự an tịnh. Chớ để Ma Vương biết được các ngươi xao lăng rồi gạt gẫm các ngươi trở thành những kẻ chịu sự sai khiến.

332. Hăy đứng dậy, ngồi dậy,
Hăy kiên tŕ học tập,
Đạt cho được an tịnh,
Đừng để cho thần chết,
Biết Ông là phóng dật,
Mê hoặc, chinh phục Ông.

335. Yāya devā manussā ca sitā tiṭṭhanti atthikā,
tarathetaṃ visattikaṃ khaṇo vo mā upaccagā,
khaṇātītā hi socanti nirayamhi samappitā.
 

335. Chư Thiên và nhân loại bị lệ thuộc vào điều nào mà tồn tại và có sự mong cầu, các ngươi hăy vượt qua điều vướng mắc ấy. Chớ để thời khắc trôi qua đối với ngươi, bởi v́ những kẻ để thời khắc trôi qua (sẽ) sầu muộn khi bị đọa vào địa ngục.

333. Chư Thiên và loài Người,
Sống y chỉ tầm cầu,
Hăy vượt ái dục này,
Chớ để thời khắc qua,
Khi thời khắc đă qua,
Bị sầu khổ địa ngục.

336. Pamādo rajo pamādo pamādānupatito rajo,
appamattena vijjāya abbahe sallamattanoti.
 

336. Sự xao lăng là bụi bặm, sự xao lăng kế tiếp sự xao lăng là bụi bặm. Nhờ không xao lăng, nhờ vào minh, có thể nhổ lên mũi tên của bản thân.

334. Phóng dật là bụi nhơ,
Bụi do phóng dật khởi,
Với minh, không phóng dật,
Tự ḿnh rút mũi tên.

 

Uṭṭhānasuttaṃ niṭṭhitaṃ.

 

Dứt Kinh Đứng Lên.

 

 

 

11. RĀHULASUTTAṂ

 

 

11. KINH RĀHULA

 

 

11. KINH RĀHULA

 

337. Kacci abhiṇhasaṃvāsā nāvajānāsi paṇḍitaṃ,
ukkādhāro manussānaṃ kacci apacito tayā.
 

337. Con có coi thường bậc sáng suốt do việc cộng trú thường xuyên hay không? Bậc nắm giữ ngọn đuốc của loài người có được con tôn kính hay không?

Thế Tôn:

335. Thường chung sống người hiền,
Thầy có khinh miệt không?
Người cầm đuốc loài Người,
Được thầy tôn trọng không?

338. Nāhaṃ abhiṇhasaṃvāsā avajānāmi paṇḍitaṃ,
ukkādhāro manussānaṃ niccaṃ apacito mayā.

338. Con không coi thường bậc sáng suốt do việc cộng trú thường xuyên. Bậc nắm giữ ngọn đuốc của loài người luôn luôn được con tôn kính.

Ràhula:

336. Thường chung sống người hiền,
Con không có khinh miệt.
Người cầm đuốc loài Người,
Thường được con tôn trọng.

339. Pañca kāmaguṇe hitvā piyarūpe manorame,
saddhāya gharā nikkhamma dukkhassantakaro bhava.

339. Sau khi từ bỏ năm loại dục có h́nh thức đáng yêu, làm thích ư, sau khi rời căn nhà ra đi v́ niềm tin, con hăy thực hiện việc chấm dứt khổ đau.

Thế Tôn:

337. Bỏ năm dục trưởng dưỡng,
Khả ái và đẹp ư,
Với ḷng tin xuất gia,
Hăy trở thành con người,
Làm chấm dứt khổ đau.

340. Mitte bhajassu kalyāṇe pantañca sayanāsanaṃ,
vivittaṃ appanigghosaṃ mattaññū hohi bhojane.

340. Con hăy thân cận những người bạn tốt lành và chỗ nằm ngồi thanh vắng, cô quạnh, ít tiếng động. Con hăy biết chừng mực về vật thực.

338. Thân cận với bạn lành,
Sống trú xứ xa vắng,
Viễn ly không ồn ào,
Hăy tiết độ ăn uống.

341. Cīvare piṇḍapāte ca paccaye sayanāsane,
etesu taṇhaṃ mā kāsi mā lokaṃ punarāgami.

341. Con chớ tạo ra sự tham ái ở những vật này: ở y phục, ở đồ ăn khất thực, ở thuốc men chữa bệnh, ở chỗ nằm ngồi. Con chớ đi đến thế gian lần nữa.

339. Y áo, đồ khất thực,
Vật dụng và sàng tọa,
Chớ có tham ái chúng,
Chớ trở lui đời này.

342. Saṃvuto pātimokkhasmiṃ indriyesu ca pañcasu,
sati kāyagatātyatthu nibbidā bahulo bhava.

342. Con hăy thu thúc theo giới bổn Pātimokkha và ở năm giác quan. Con hăy có niệm đặt ở thân. Con hăy có nhiều nhàm chán (về thế gian).

340. Chế ngự trong giới bổn,
Pḥng hộ trong năm căn,
Hăy tu tập niệm thân,
Sống với nhiều nhàm chán.

343. Nimittaṃ parivajjehi subhaṃ rāgūpasaṃhitaṃ,
asubhāya cittaṃ bhāvehi ekaggaṃ susamāhitaṃ.

343. Con hăy xa lánh hiện tướng xinh đẹp, được gắn liền với luyến ái. Con hăy tu tập tâm về đề mục tử thi, có sự chuyên nhất, khéo định tĩnh.

341. Hăy từ bỏ tịnh tướng,
Hệ lụy với tham ái,
Tu tập tâm bất tịnh,
Nhất tâm, khéo định tĩnh.

344. Animittañca bhāvehi mānānusayamujjaha,
tato mānābhisamayā upasanto carissasīti.

344. Và con hăy tu tập về vô tướng. Con hăy nhổ bỏ sự tiềm ẩn của ngă mạn. Từ đó, nhờ vào sự lĩnh hội về ngă mạn, con sẽ sống được an tịnh.”

342. Hăy tu tập vô tướng,
Bỏ đi, mạn tùy miên,
Do nhiếp phục kiêu mạn,
Ngươi sẽ sống an tịnh
.

Itthaṃ sudaṃ bhagavā āyasmantaṃ rāhulaṃ imāhi gāthāhi abhiṇhaṃ ovadatīti.

Như thế, đức Thế Tôn thường xuyên giáo huấn đại đức Rāhula bằng những lời kệ này.

Như vậy, Thế Tôn thường giáo giới Tôn giả Ràhula với những bài kệ này.

 

 

Rāhulasuttaṃ niṭṭhitaṃ.

 

 

Dứt Kinh Rāhula.

 

 

 

12. NIGRODHAKAPPASUTTAṂ

 

 

12. KINH NIGRODHAKAPPA

 

 

12. KINH VANGĪSA

 

Evaṃ me sutaṃ: Ekaṃ samayaṃ bhagavā āḷaviyaṃ viharati aggāḷave cetiye. Tena kho pana samayena āyasmato vaṅgīsassa upajjhāyo nigrodhakappo nāma thero aggāḷave cetiye aciraparinibbuto hoti.

Tôi đă nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại Āḷavī, ở bảo tháp Aggāḷava. Vào lúc bấy giờ, thầy tế độ của đại đức Vaṅgīsa, vị trưởng lăo tên Nigrodhakappa, vửa viên tịch Niết Bàn không bao lâu tại bảo tháp Aggāḷava.

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế tôn sống ờ Alavi, tại điện Aggàlava. Lúc bấy giờ, giáo sư thọ sư của Tôn giả Vanǵsa, tên là Nigrodhakappa tại điện Aggalava, mệnh chung không bao lâu.

 

Atha kho āyasmato vaṅgīsassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ cetaso parivitakko udapādi: Parinibbuto nu kho me upajjhāyo udāhu no parinibbutoti.
 

Sau đó, đại đức Vaṅgīsa trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ư nghĩ suy tầm như vầy đă khởi lên: “Thầy tế độ của ta là viên tịch Niết Bàn hay là không phải viên tịch Niết Bàn?”

 

Rồi Tôn giả Vanǵsa, trong khi thiền định độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: "Không biết bậc giáo thọ sư của ta có hoàn toàn nhập Niết-bàn hay không hoàn toàn nhập Niết-bàn?".

Atha kho ayasvā vaṅgīso sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā vaṅgīso bhagavantaṃ etadavoca:

Sau đó vào buổi chiều, đại đức Vaṅgīsa, xuất khỏi thiền tịnh, đă đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đă đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đă ngồi xuống ở một bên, đại đức Vaṅgīsa đă nói với đức Thế Tôn điều này:

 

Rồi Tôn giả Vanǵsa vào buổi chiều, từ thiền tịnh đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Vanǵsa bạch Thế Tôn:

 

Idha mayhaṃ bhante rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ cetaso parivitakko udapādi: Parinibbuto nu kho me upajjhāyo udāhu no parinibbutoti.

“Bạch Ngài, ở đây trong lúc con thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ư nghĩ suy tầm như vầy đă khởi lên: ‘Thầy tế độ của ta là viên tịch Niết Bàn hay là không phải viên tịch Niết Bàn?’”

- Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi Thiền tịnh độc cư, con khởi lên tư tưởng như sau: "Không biết bậc giáo thọ sư của con có hoàn toàn nhập Niết Bàn hay không, hoàn toàn nhập Niết-bàn?"

 

Atha kho āyasmā vaṅgīso uṭṭhāyāsanā ekaṃsaṃ cīvaraṃ katvā yena bhagavā tenañjaliṃ paṇāmetvā bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi:
 

Sau đó, đại đức Vaṅgīsa đă từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y một bên vai, chắp tay hướng về đức Thế Tôn, và đă nói với đức Thế Tôn bằng lời kệ rằng:

Rồi Tôn giả Vanǵsa, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, chấp tay vái chào Thế Tôn và với bài kệ, nói lên với Thế Tôn:

 

345. Pucchāma satthāraṃ anomapaññaṃ
diṭṭheva dhamme yo vicikicchānaṃ chettā,
aggāḷave kālamakāsi bhikkhu
ñāto yasassī abhinibbutatto.

345. "Chúng con hỏi đấng Đạo Sư, bậc có trí tuệ tột đỉnh,

bậc đă cắt đứt các sự hoài nghi ở thế giới hiện hữu,

về vị tỳ khưu đă từ trần ở Aggāḷava,

được biết tiếng, có danh vọng, có bản thể đă được tịch tịnh.

 

Vanǵsa:

343. Con hỏi bậc Đạo Sư,
Bậc trí tuệ tối thượng,
Ai chặt đứt nghi hoặc,
Ngay trong đời hiện tại?
Tại Aggàlava,
Tỷ-kheo đă mệnh chung,
Có danh vọng danh xưng,
Nhập Niết bàn tịch tịnh.

346. Nigrodhakappo iti tassa nāmaṃ,
tayā kataṃ bhagavā brāhmaṇassa,
so taṃ namassaṃ acari mutyapekkho
āraddhaviriyo daḷhadhammadassī.

346. Bạch đức Thế Tôn, ‘Nigrodhakappa’ là tên đă được Ngài đặt cho vị Bà-la-môn ấy. Bạch đấng có sự nh́n thấy pháp vững chắc, vị ấy, mong mỏi sự giải thoát, trong lúc lễ bái Ngài, đă sống, có sự nỗ lực tinh tấn.

344. Nigrodhakappa,
Chính là tên vị ấy,
Chính Thế Tôn đặt tên,
Cho vị Phạm chí ấy,
Vị ấy đảnh lễ Ngài,
Sống tầm cầu giải thoát,
Tinh cần và tinh tấn,
Kiên cố thấy Chánh Pháp.

347. Taṃ sāvakaṃ sakka mayampi sabbe
aññātumicchāma samantacakkhu,
samavaṭṭhitā no savaṇāya sotā
tvaṃ no satthā tvaṃ anuttarosi.

347. Bạch ngài Sakya, bạch đấng Toàn Nhăn, tất cả chúng con cũng muốn được biết về vị Thinh Văn ấy; những lỗ tai của chúng con đă sẵn sàng cho việc nghe. Ngài là bậc Đạo Sư của chúng con. Ngài là bậc Vô Thượng.

 

345. Bạch Thích Ca, chúng con
Đệ tử Ngài, tất cả
Chúng con đều muốn biết
Bậc Pháp nhăn biến tri,
An trú tại chúng con,
Sẵn sàng để được nghe,
Ngài Đạo sư chúng con,
Ngài là bậc Vô thượng.

348. Chindeva no vicikicchaṃ brūhi metaṃ
parinibbutaṃ vedaya bhūripañña,
majjheva no bhāsa samantacakkhu
sakkova devānaṃ sahassanetto.

348. Xin Ngài hăy cắt đứt hẳn sự hoài nghi của chúng con, xin hăy nói cho con điều ấy. Bạch đấng có trí tuệ quảng đại, xin Ngài hăy cho biết về việc viên tịch Niết Bàn (của vị ấy). Bạch đấng Toàn Nhăn, xin Ngài hăy nói ở ngay giữa chúng con, tựa như vị Trời Sakka có ngàn mắt ở giữa chư Thiên.

346. Hăy đoạn nghi chúng con,
Cho con biết vị ấy,
Đă được tịch tịnh chưa
Bậc trí tuệ rộng lớn,
Hăy nói giữa chúng con,
Bậc có mặt cùng khắp,
Như Thiên chủ Đế Thích,
Lănh đạo ngàn chư Thiên.

349. Ye keci ganthā idha mohamaggā,
aññāṇapakkhā vicikicchaṭṭhānā,
tathāgataṃ patvā na te bhavanti
cakkhuṃ hi etaṃ paramaṃ narānaṃ.

349. Ở đây, bất cứ những mối buộc thắt nào, những con đường của si mê, những phe nhóm của vô trí, những chỗ đứng của hoài nghi, sau khi đạt đến đức Như Lai, chúng đều không tồn tại, bởi v́ con mắt ấy là tối thượng giữa những con người.

347. Phàm những cột gút ǵ,
Ở đây, đường si ám,
Dự phần với vô trí,
Trú xứ cho nghi hoặc;
Gặp được đức Như Lai,
Họ đều không c̣n nữa.
Mắt này mắt tối thắng,
Giữa cặp mắt loài Người.

350. No ce hi jātu puriso kilese
vāto yathā abbhaghanaṃ vihāne,
tamovassa nivuto sabbaloko
na jotimantopi narā tapeyyuṃ.

350. Bởi v́, nếu chắc chắn không có người tiêu diệt các phiền năo, giống như làn gió làm tiêu tan đám mây, th́ toàn bộ thế gian, bị bao trùm, sẽ vô cùng tối tăm, ngay cả những người có hào quang (trí tuệ) cũng không thể tỏa sáng.

348. Nếu không có người nào,
Đoạn trừ các phiền năo,
Như gió thổi tiêu tan
Các tầng mây dưới thấp,
Màn đen tức bao trùm,
Tất cả toàn thế giới,
Những bậc có hào quang,
Không có thể chói sáng.

351. Dhīrā ca pajjotakarā bhavanti
taṃ taṃ ahaṃ dhīra tatheva maññe,
vipassinaṃ jhānam upāgamamha
parisāsu no āvikarohi kappaṃ.

351. Và các bậc thông minh là những người tạo ra ánh sáng. V́ thế, bạch đấng Thông Minh, con nghĩ rằng Ngài là vị tương tự như thế ấy. Chúng con đă đi đến với bậc có sự minh sát và hiểu biết, xin Ngài hăy bày tỏ về vị Kappa cho chúng con ở các hội chúng.

 

349. Bậc trí là những vị
Tạo ra những ánh sáng,
Con xem Ngài như vậy.
Ôi! Bậc trí sáng suốt,
Chúng con đều cùng đến,
Bậc tu hành thiền quán,
Giữa hội chúng, chúng con,
Hăy nói về Kappa!

352. Khippaṃ giraṃ eraya vagguvagguṃ
haṃsova paggayha sanikaṃ nikūjaṃ,
bindussarena suvikappitena
sabbeva te ujjugatā suṇoma.
 

352. Hỡi bậc có sự thu hút, xin Ngài hăy mau mau thốt lên giọng nói có sự thu hút. Tựa như chim thiên nga vươn cao (cái cổ), xin Ngài hăy dịu dàng thốt lên bằng âm thanh trọn vẹn khéo được điều khiển; toàn bộ tất cả chúng con đều tập trung lắng nghe.

350. Hăy gấp phát tiếng lên,
Tiếng âm thanh vi diệu,
Như con chim thiên nga,
Giương cổ lên để hót,
Phát âm từng tiếng một,
Với giọng khéo ngân nga,
Tất cả bạn chúng con,
Trực tâm nghe lời Ngài.

353. Pahīnajātimaraṇaṃ asesaṃ
niggayha dhonaṃ vadessāmi dhammaṃ,
na kāmakāro hi puthujjanānaṃ
saṅkheyyakārova tathāgatānaṃ.

353. Sau khi thúc giục bậc có sự sanh tử đă được dứt bỏ không c̣n dư sót, con sẽ thỉnh bậc đă rũ sạch (phiền năo) thuyết Pháp; bởi v́ trong số các phàm nhân không có người có thể làm được điều mong muốn, và người hành động đúng theo dự tính chỉ có trong số các đức Như Lai.

351. Vị đoạn tận sanh tử,
Không c̣n chút dư tàn,
Vị tẩy sạch phiền năo,
Con cầu Ngài thuyết pháp,
Kẻ phàm phu không thể
Làm theo điều nó muốn.
Bậc Như Lai làm được,
Điều được ước định làm,

354. Sampannaveyyākaraṇaṃ tavedaṃ
samujjupaññassa samuggahītaṃ,
ayamañjalī pacchimo suppaṇāmito
mā mohayī jānamanomapañña.

354. Lời giải thích đầy đủ này của Ngài, bậc có trí tuệ ngay thẳng, đă được tiếp nhận. Sự chắp tay sau cùng này đă được cúi chào tốt đẹp. Hỡi bậc có trí tuệ tột đỉnh, trong khi Ngài biết, xin Ngài chớ làm mê mờ.

352. Câu trả lời của Ngài
Thật đầy đủ trọn vẹn,
Được chơn chánh nắm giữ,
Bậc chánh trực trí tuệ.
Đây chắp tay cuối cùng,
Con khéo vái chào Ngài,
Chớ làm con si ám,
Bậc trí tuệ tối cao.

355. Parovaraṃ ariyadhammaṃ viditvā
mā mohayī jānamanomavīra,
vāriṃ yathā ghammani ghammatatto
vācābhikaṅkhāmi sutaṃ pavassa.

355. Hỡi đấng Anh Hùng tột bực, Ngài đă hiểu biết về Giáo Pháp cao thượng từ thấp đến cao, trong khi Ngài biết, xin Ngài chớ làm mê mờ. Giống như người có bản thân bị nóng bức, trong lúc nóng nực mong mỏi nước, con mong mỏi lời nói (của Ngài); xin Ngài hăy đổ cơn mưa âm thanh.

353. Sau khi đă được biết
Thánh pháp thượng và hạ,
Chớ làm con si ám,
Bậc tinh tấn tối cao,
Như vào giữa mùa hè,
Nóng bức khát khao nước,
Chúng con ngóng trông lời,
Hăy mưa sự hiểu biết.

356. Yadatthikaṃ brahmacariyaṃ acāri
kappāyano kaccissa taṃ amoghaṃ,
nibbāyi so ādu upādiseso
yathā vimutto ahu naṃ suṇoma.

356. Vị Kappāyana đă sống Phạm hạnh với mục đích nào, phải chăng điều ấy không phải là rỗng không? Có phải vị ấy đă Niết Bàn (không c̣n dư sót), hay là vẫn c̣n dư sót? Vị ấy đă được giải thoát như thế nào, hăy cho chúng con được nghe điều ấy.”

354. Kappa, sống Phạm hạnh,
Nếp sống có mục đích,
Phải chăng sống như vậy
Là sống không uổng phí?
Vị ấy chứng tịch tịnh,
Hay c̣n dư tàn lại,
Được giải thoát thế nào,
Hăy nói chúng con nghe!

357. Acchecchi taṇhaṃ idha nāmarūpe (iti bhagavā)
kaṇhassa sotaṃ dīgharattānusayitaṃ,
atāri jātimaraṇaṃ asesaṃ
iccabravī bhagavā pañcaseṭṭho.

357. “Vị ấy đă cắt đứt tham ái ở danh và sắc ở nơi đây (lời của đức Thế Tôn), ḍng nước của Ma Vương đă được tiềm ẩn bấy lâu. Vị ấy đă vượt qua sự sanh và sự chết.” Đức Thế Tôn, bậc đứng đầu về năm pháp, đă nói như thế.

Thế Tôn:

355. Vị ấy trên danh sắc,
Đă đoạn tận tham ái,
Thế Tôn ở nơi đây
Đă trả lời như vậy,
Vượt qua được già chết,
Không c̣n có dư tàn,
Thế Tôn nói như vậy,
Bậc tối thắng thứ năm.

358. Esa sutvā pasīdāmi vaco te isisattama,
amoghaṃ kira me puṭṭhaṃ na maṃ vañcesi brāhmaṇo.

358. “Bạch bậc Ẩn Sĩ tối thượng, sau khi nghe điều ấy, con tin tưởng vào lời nói của Ngài. Thật vậy, điều đă được con hỏi là không vô ích, vị Bà-la-môn đă không dối gạt con.

Vanǵsa:

356. Nghe vậy, con tịnh tín,
Với lời nói của Ngài,
Bậc ẩn sĩ thứ bảy?
Và lời hỏi của con.
Không phải là vô ích!
Và vị Bà-la-môn
Không có lừa dối con.

359. Yathāvādī tathākārī ahu buddhassa sāvako,
acchidā maccuno jālaṃ tataṃ māyāvino daḷhaṃ.

359. Vị có lời nói như thế nào th́ có hành động như thế ấy đă là đệ tử của đức Phật. Vị ấy đă cắt đứt tấm lưới chắc chắn của Thần Chết xảo quyệt đă được giăng ra.

357. Nói ǵ thời làm vậy,
Thật xứng đệ tử Phật,
Chặt đứt lưới rộng chắc
Của thần chết xảo quyệt.

360. Addasa bhagavā ādiṃ upādānassa kappiyo,
accagā vata kappāyano maccudheyyaṃ suduttaranti.

360. Bạch đức Thế Tôn, vị Kappiya đă nh́n thấy sự khởi đầu của chấp thủ. Quả thật, vị Kappāyana đă băng qua lănh địa của Thần Chết, là nơi rất khó vượt qua.”

358. Ôi! Thế Tôn, Kappa
Thấy căn nguyên chấp thủ,
Thật sự đă vượt qua
Thế lực của Ma vương,
Thế lực thật khó vượt.
 


Nigrodhakappasuttaṃ niṭṭhitaṃ.
 

 

Dứt Kinh Nigrodhakappa.

 

 

13. SAMMĀPARIBBĀJANĪYASUTTAṂ

 

 

13. KINH DU HÀNH CHÂN CHÁNH

 

 

13. KINH CHÁNH XUẤT GIA

 

361. Pucchāmi muniṃ pahūtapaññaṃ
tiṇṇaṃ pāragataṃ parinibbutaṃ ṭhitattaṃ,
nikkhamma gharā panujja kāme
kathaṃ bhikkhu sammā so loke paribbajeyya.

361. “Con hỏi bậc hiền trí, bậc có tuệ bao la, bậc đă vượt qua, đă đi đến bờ kia, đă hữu dư Niết Bàn, có bản thân ổn định rằng: ‘Sau khi rời nhà ra đi, sau khi đă xua đuổi các dục, vị tỳ khưu ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian như thế nào?’”

Người hỏi:

359. Tôi hỏi bậc ẩn sĩ,
Có trí tuệ rộng lớn,
Đă vượt qua bờ kia,
Tịch tịnh, tự an trú.
Làm sao một Tỷ-kheo,
Bỏ nhà, bỏ các dục,
Lại có thể chơn chánh
Du hành ở trên đời?

362. Yassa maṅgalā samūhatā (iti bhagavā)
uppāta supinā ca lakkhaṇā ca,
so maṅgaladosavippahīno bhikkhu
sammā so loke paribbajeyya.

362. (Lời của đức Thế Tôn) “Đối với vị nào các điềm lành đă được bứng lên, các (hiện tượng) sao băng, các giấc chiêm bao, và các hiện tướng (cũng như vậy), vị tỳ khưu ấy đă dứt bỏ hẳn các điềm lành và điềm xấu, vị ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian.

Thế Tôn:

360. Ai nhổ lên điềm lành,
Như vậy, Thế Tôn đáp
Các sao băng mộng mị,
Và các tướng lành dữ,
Vị ấy đoạn trừ được,
Các lỗi lầm điềm lành;
Tỷ kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

363. Rāgaṃ vinayetha mānusesu
dibbesu kāmesu cāpi bhikkhu,
atikkamma bhavaṃ samecca dhammaṃ
sammā so loke paribbajeyya.

363. Vị tỳ khưu nên xua đi sự luyến ái ở các dục thuộc về nhân loại luôn cả thuộc về cơi trời. Sau khi vượt qua hữu, sau khi hiểu rơ Giáo Pháp (Tứ Diệu Đế), vị ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian.

361. Tỷ-kheo nhiếp phục tham,
Đối với các dục vọng,
Tại thiên giới, nhân giới,
Vượt hữu, chứng tri pháp;
Tỷ kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

364. Vipiṭṭhi katvāna pesunāni
kodhaṃ kadariyaṃ jaheyya bhikkhu,
anurodhavirodhavippahīno
sammā so loke paribbajeyya.

364. Sau khi đă bỏ lại sau lưng các việc nói đâm thọc,

vị tỳ khưu nên từ bỏ sự giận dữ và keo kiệt,

đă dứt bỏ hẳn sự tùy thuận và chống đối,

vị ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian.

362. Tỷ kheo bỏ hai lưỡi,
Bỏ phẩn nộ, xan tham,
Với tùy thuộc chống đối,
Đoạn tận thật hoàn toàn,
Tỷ kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

365. Hitvāna piyañca appiyañca
anupādāya anissito kuhiñci,
saṃyojaniyehi vippamutto
sammā so loke paribbajeyya.

365. Sau khi từ bỏ thương và ghét,

sau khi không c̣n chấp thủ, không bị lệ thuộc vào bất cứ nơi nào,

được hoàn toàn thoát khỏi các sự trói buộc,

vị ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian.

363. Sau khi đă từ bỏ,
Cả ái và phi ái,
Không chấp thủ một ai,
Không y chỉ chỗ nào,
Giải thoát được hoàn toàn
Các kiết sử trói buộc,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

366. Na so upadhīsu sārameti
ādānesu vineyya chandarāgaṃ,
so anissito anaññaneyyo
sammā so loke paribbajeyya.

366. Không có việc vị ấy đi đến cốt lơi ở các mầm tái sanh,

sau khi xua đi sự mong muốn và luyến ái ở các chấp thủ,

vị ấy không bị lệ thuộc, không bị dẫn dắt bởi kẻ khác,

vị ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian.

364. Ai không t́m lơi cây,
Đối với các sanh y,
Có thể nhiếp phục tham,
Đối với các chấp thủ,
Vị ấy không y chỉ,
Không để ai dắt dẫn,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

367. Vacasā manasā ca kammanā ca
aviruddho sammā viditvā dhammaṃ,
nibbānapadābhipatthayāno
sammā so loke paribbajeyya.

367. Không chống đối bằng lời nói, bằng ư nghĩ, và bằng hành động, sau khi hiểu biết Giáo Pháp một cách đúng đắn, trong khi ước nguyện trạng thái Niết Bàn, vị ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian.

 

365. Với lời và với ư,
Và với cả nghiệp làm,
Không chống đối một ai,
Chơn chánh biết diệu pháp,
Thường cố gắng hướng đến,
Đường Niết bàn tịch tịnh,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

368. Yo vandati maṃ na uṇṇameyya
akkuṭṭhopi na sandhiyetha bhikkhu,
laddhā parabhojanaṃ na majje,
sammā so loke paribbajeyya.

368. Vị nào không kiêu hănh (nghĩ rằng) ‘Họ đảnh lễ ta,’

ngay cả khi bị sỉ vả, vị tỳ khưu cũng không kết nối (thù hận),

sau khi thọ lănh vật thực của người khác, không đắc chí (tự măn),

vị ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian.

366. Tỷ-kheo không tự cao,
Khi người đảnh lễ ḿnh,
Dầu có bị nhiếc mắng,
Không khởi tâm tức tối,
Được đồ ăn của người,
Không có sự tham đắm,
Tỷ kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

369. Lobhañca bhavañca vippahāya
virato chedanabandhanāto bhikkhu,
so tiṇṇakathaṃkatho visallo
sammā so loke paribbajeyya.

369. Sau khi dứt bỏ hẳn tham và hữu,

vị tỳ khưu lánh xa việc hăm hại và trói buộc (các chúng sanh khác),

vị ấy đă vượt qua sự nghi ngờ, không c̣n mũi tên,

vị ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian.

367. Tỷ-kheo sau khi đoạn,
Tham dục và sanh hữu,
Từ bỏ, không làm hại,
Không trói buộc một ai,
Vị ấy vượt nghi hoặc,
Đă rút ra mũi tên,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

370. Sāruppamattano viditvā
na ca bhikkhu hiṃseyya kañci loke,
yathātathiyaṃ viditvā dhammaṃ
sammā so loke paribbajeyya.

370. Sau khi biết được điều thích hợp cho bản thân,

vị tỳ khưu không hăm hại bất cứ ai ở thế gian,

sau khi biết được Giáo Pháp đúng theo bản thể,

vị ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian.

368. Tỷ-kheo sau khi biết,
Điều thích đáng cho ḿnh,
Không làm hại một ai,
Có mặt ở trên đời,
Sau khi đă biết pháp
Như thật, như thế nào,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

371. Yassānusayā na santi keci
mūlā akusalā samūhatā se,
so nirāsayo anāsayāno
sammā so loke paribbajeyya.

371. Đối với vị nào, không c̣n có bất cứ các pháp tiềm ẩn nào,

các gốc rễ bất thiện đă được nhổ lên,

vị ấy không c̣n ước ao (tham vọng), không có khao khát,

vị ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian.

369. Với ai, các tuỳ miên,
Không c̣n có tồn tại,
Và cội gốc bất thiện,
Được nhổ lên tận trừ,
Vị ấy không tham dục,
Không có hy cầu ǵ.
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

372. Āsavakhīṇo pahīnamāno
sabbaṃ rāgapathaṃ upātivatto,
danto parinibbuto ṭhitatto
sammā so loke paribbajeyya.

372. Có lậu hoặc đă được cạn kiệt, đă dứt bỏ ngă mạn,

đă vượt lên trên tất cả lộ tŕnh của luyến ái,

đă được huấn luyện, đă hữu dư Niết Bàn, có bản thân ổn định

vị ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian.

370. Ai đoạn tận lậu hoặc,
Đoạn trừ cả kiêu mạn,
Mọi con đường tham dục,
Được chế ngự nhiếp phục,
Được nhiếp phục tịch tịnh,
Tự ngă được an lập,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

373. Saddho sutavā niyāmadassī
vaggagatesu na vaggasāri dhīro,
lobhaṃ dosaṃ vineyya paṭighaṃ
sammā so loke paribbajeyya.

373. Có đức tin, có sự lắng nghe, có sự nh́n thấy quy luật,

vị sáng trí không xuôi theo bè phái giữa những kẻ đi theo bè phái,

sau khi xua đi tham lam, sân hận, bất b́nh,

vị ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian.

371. Có ḷng tin, nghe pháp,
Thấy được quyết định tánh,
Bậc hiền không phe phái,
Giữa rất nhiều phe phái,
Có thể nhiếp phục được,
Tham, sân và hận thù,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

374. Saṃsuddhajino vivattacchaddo
dhammesu vasī pāragū anejo,
saṅkhāranirodhañāṇakusalo
sammā so loke paribbajeyya.

374. Vị chiến thắng thanh tịnh, có màn che đă được cuốn lên,

có năng lực ở các pháp, đă đi đến bờ kia, không dục vọng,

được thiện xảo ở trí về sự tịch diệt của các hành,

vị ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian.

372. Thanh tịnh và chiến thắng,
Kéo lên màn che kín,
Tự tại trong các pháp,
Đến bờ kia, bất động,
Đoạn diệt các sở hành,
Thiện xảo trong chánh trí,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

375. Atītesu anāgatesu cāpi
kappātīto aticca suddhipañño,
sabbāyatanehi vippamutto
sammā so loke paribbajeyya.

375. Vị đă vượt qua suy tưởng (về tham ái và tà kiến) ở các thời quá khứ và c̣n ở các thời vị lai nữa, sau khi đă vượt qua, có tuệ trong sạch, được hoàn toàn thoát khỏi tất cả các xứ (sáu nội xứ và sáu ngoại xứ), vị ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian.

373. Trong những thời quá khứ,
Trong những thời vị lai,
Vượt qua các chủ thuyết,
Trí tuệ thật thanh tịnh,
Với tất cả mọi xứ,
Được hoàn toàn giải thoát.
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

376. Aññāya padaṃ samecca dhammaṃ
vivaṭaṃ disvāna pahānamāsavānaṃ,
sabbūpadhinaṃ parikkhayāno
sammā so loke paribbajeyya.

376. Sau khi hiểu biết nền tảng (Tứ Đế), sau khi hiểu rơ Giáo Pháp,

sau khi nh́n thấy sự dứt bỏ của các lậu hoặc một cách rơ rệt,

nhờ vào sự diệt tận của tất cả các mầm tái sanh,

vị ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian.

 

374. Rơ biết được Pháp cú,
Chứng tri được Chánh pháp,
Thấy được sự mở rộng,
Đoạn tận các lậu hoặc,
Đối tất cả sanh y,
Được trừ diệt hoàn toàn,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời
.

377. Addhā hi bhagavā tatheva etaṃ
yo so evaṃ vihāri danto bhikkhu,
sabbasaṃyojaniye ca vītivatto
sammā so loke paribbajeyyāti.

377. “Bạch đức Thế Tôn, thật vậy, bởi v́ điều ấy đúng y như thế,

vị tỳ khưu ấy đă sống như vậy, đă được huấn luyện

và đă vượt qua khỏi tất cả các sự trói buộc,

vị ấy có thể du hành chân chánh ở thế gian.”

 

Người hỏi:

375. Bạch Thế Tôn, chắc chắn,
Thực sự là như vậy,
Tỷ-kheo được chế ngự,
Đă an trú như vậy,
Đă nhiếp phục hoàn toàn,
Tất cả các kiết sử,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

 

Sammāparibbājanīyasuttaṃ niṭṭhitaṃ.
 

 

Dứt Kinh Du Hành Chân Chánh.

 

 

 

14. DHAMMIKASUTTAṂ

 

 

14. KINH DHAMMIKA

 

 

14. KINH DHAMMIKA

 

Evaṃ me sutaṃ: Ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho dhammiko upāsako pañcahi upāsakasatehi saddhiṃ yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho dhammiko upāsako bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi:

Tôi đă nghe như vầy: Một thời đức Thế Tôn ngự tại Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Khi ấy, cư sĩ Dhammika cùng với năm trăm cư sĩ đă đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đă đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đă ngồi xuống ở một bên, cư sĩ Dhammika đă nói với đức Thế Tôn bằng lời kệ rằng:

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong khu vườn ông Anàthapindika. Rồi nam cư sĩ Dhammika đi đến Thế Tôn với năm trăm nam cư sĩ, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, nam cư sĩ Dhammika nói lên những bài kệ với Thế Tôn:

 

378. Pucchāmi taṃ gotama bhūripañña
kathaṃkaro sāvako sādhu hoti,
yo vā agārā anagārameti
agārino vā panupāsakāse.

378. “Bạch ngài Gotama, bạch đấng có trí tuệ quảng đại, con xin hỏi Ngài: Người đệ tử tốt lành là người có hành động như thế nào, người (đệ tử) này hoặc là vị (xuất gia) rời nhà đi đến đời sống không nhà, hoặc là những vị cư sĩ có sở hữu căn nhà?

Dhammika:

376. Kính thưa Gotama,
Bậc trí tuệ rộng lớn,
Con xin kính hỏi Ngài,
Vấn đề đặc biệt này:
Với vị đệ tử Ngài,
Làm thế nào là thiện?
Nếu là vị xuất gia,
Bỏ nhà, sống không nhà,
Hay là vị có nhà,
Sống đời nam cư sĩ?

379. Tuvaṃ hi lokassa sadevakassa
gatiṃ pajānāsi parāyanañca,
na catthi tulyo nipuṇatthadassī
tuvaṃ hi buddhaṃ pavaraṃ vadanti.

379. Bởi v́ Ngài nhận biết cảnh giới tái sanh và việc đi đến bờ kia của thế gian luôn cả chư Thiên, và người có sự nh́n thấy ư nghĩa vi tế có thể sánh bằng (với Ngài) là không có, bởi v́ người ta nói Ngài là đức Phật quư cao.

377. Ngài rơ biết đường đi,
Cùng mục đích tối hậu,
Của Thế Tôn đời này,
Và thế giới chư Thiên.
Không ai so sánh Ngài,
Bậc thấy nghĩa thù diệu,
Chính Ngài được tôn xưng,
Là đức Phật thù thắng.

380. Sabbaṃ tuvaṃ ñāṇamavecca dhammaṃ
pakāsesi satte anukampamāno,
vivattacchaddosi samantacakkhu
virocasi vimalo sabbaloke.
 

380. Sau khi biết mọi loại trí tuệ, trong lúc thương tưởng đến chúng sanh, Ngài (đă) giảng giải Giáo Pháp. Bạch đấng Toàn Nhăn, Ngài có màn che đă được cuốn lên. Không bị vết nhơ, Ngài chiếu sáng tất cả thế gian.

378. Ngài biết tất cả trí,
Ngài tŕnh bày Chánh pháp,
V́ ḷng thương, từ mẫn,
Đối với mọi chúng sanh,
Ngài mở rộng bức màn,
Bậc có mắt mọi nơi
Không cấu uế, thanh tịnh,
Ngài chói toàn thế giới.

381. Āgañchi te santike nāgarājā
erāvaṇo nāma jinoti sutvā,
so pi tayā mantayitvā ajjhagamā
sādhūti sutvāna patītarūpo.
 

381. Vị vua của loài voi tên là Erāvaṇa đă đi đến gặp Ngài. Sau khi nghe rằng: ‘Đấng Chiến Thắng,’ vị ấy cũng đă thảo luận với Ngài, đă lắng nghe và (đă nói) rằng: ‘Lành thay,’ rồi đă ra đi với dáng vẻ hân hoan.

379. Vị vua loài Nàgà
Tên Eràvano,
Đă đến gần bên Ngài,
Được nghe: Ngài chiến thắng.
Vị ấy t́m đến Ngài,
Để nghe lời khuyên nhủ,
Sau khi nghe, thích thú
Nói lên lời: Lành thay!.

382. Rājāpi taṃ vessavaṇo kuvero
upeti dhammaṃ paripucchamāno,
tassāpi tvaṃ pucchito brūsi dhīra
so cāpi sutvāna patītarūpo.

382. Vị vua Vessavaṇa Kuvera cũng đă đi đến gặp Ngài hỏi han về Giáo Pháp. Bạch bậc Sáng Trí, ngay cả đối với vị ấy, Ngài đă trả lời khi được hỏi. Và vị ấy nữa, sau khi lắng nghe cũng có dáng vẻ hân hoan.

380. Vua Vessavana,
Kuvera đến Ngài,
T́m hiểu hỏi han Ngài
Về vấn đề diệu pháp,
Được hỏi, ôi bậc trí,
Hăy nói lên cho vua!
Sau khi nghe, vị ấy,
Cũng thích thú, ưa thích.

383. Ye kecime titthiyā vādasīlā
ājīvakā vā yadi vā nigaṇṭhā,
paññāya taṃ nātitaranti sabbe
ṭhito vajantaṃ viya sīghagāmiṃ.
 

383. Những ngoại đạo này, bất cứ những vị nào có bản tánh tranh luận, dầu là các đạo sĩ khổ hạnh hay là các đạo sĩ lơa thể, tất cả không vượt qua được Ngài về tuệ, tựa như kẻ đứng lại không vượt qua được người đi nhanh đang tiến bước.

 

 

381. Các bậc ngoại đạo này
Ưa luận tranh khẩu chiến,
Các tà mạng ngoại đạo,
Hay các Ni-kiền Tử,
Tất cả không vượt qua,
Hơn thắng trí của Ngài,
Như người đang đứng lại,
Không thắng kẻ đi mau.

384. Ye kecime brāhmaṇā vādasīlā
vuddhā cāpi brāhmaṇā santi keci,
sabbe tayi atthabaddhā bhavanti
ye cāpi caññe vādino maññamānā.
 

384. Những Bà-la-môn này, bất cứ những vị nào có bản tánh tranh luận, và có cả những vị Bà-la-môn trưởng thượng nào đó nữa, luôn cả những kẻ khác đang nghĩ họ là những người tranh luận, tất cả đều bám vào ư nghĩa (của lời giải đáp) ở nơi Ngài.

382. Các Bà-la-môn này,
Ưa luận tranh khẩu chiến,
Có những bậc Phạm-chí,
Đă đến tuổi trưởng thượng,
Tất cả đều trói buộc,
Bởi tư tưởng của Ngài,
Kể cả những hạng người,
Tự phụ nói khoe khoang.

385. Ayaṃ hi dhammo nipuṇo sukho ca
yoyaṃ tayā bhagavā suppavutto,
tameva sabbe sussūsamānā
taṃ no vada pucchito buddhaseṭṭha.

385. Bạch đức Thế Tôn, bởi v́ Giáo Pháp này là vi tế và (đem lại) an lạc, đă khéo được tuyên thuyết bởi Ngài. Tất cả đang mong muốn lắng nghe chính điều ấy. Bạch đức Phật tối thượng, đă được hỏi, xin Ngài hăy nói cho chúng con điều ấy.

383. Pháp này là tế nhị,
Đem lại nguồn an lạc,
Đă được bậc Thế Tôn
Khéo nói, khéo thuyết giảng,
Tất cả mọi hạng người,
Đều thích thú ưa nghe,
Được hỏi, hăy nói lên,
Ôi đức Phật tối thượng.

386. Sabbepime bhikkhavo sannisinnā
upāsakā cāpi tatheva sotuṃ,
suṇantu dhammaṃ vimalenānubuddhaṃ
subhāsitaṃ vāsavasseva devā.

 

386. Tất cả các vị tỳ khưu này cũng đă cùng nhau ngồi xuống để lắng nghe, các cư sĩ cũng tương tự y như thế. Hăy để họ lắng nghe Giáo Pháp đă được giác ngộ bởi bậc Vô Nhiễm, tựa như chư Thiên lắng nghe lời khéo nói của (Thiên Vương) Vāsava.

384. Các vị Tỷ-kheo này,
Đang ngồi đây tất cả,
Kể cả nam cư sĩ,
Tất cả đều chờ nghe,
Hăy để họ nghe pháp,
Bậc Vô uế Giác ngộ,
Như chư Thiên nghe lời,
Vàsava khéo nói!

387. Suṇātha me bhikkhavo sāvayāmi vo
dhammaṃ dhutaṃ tañca dharātha sabbe,
iriyāpathaṃ pabbajitānulomikaṃ
sevetha naṃ atthadassī mutīmā.

387. “Này các tỳ khưu, các ngươi hăy lắng nghe Ta. Ta nói cho các ngươi nghe về pháp từ khước; và tất cả hăy ghi nhớ điều ấy. Vị có sự nh́n thấy điều lợi ích, có niệm, nên thực hành (bốn) oai nghi phù hợp đối với các bậc xuất gia.

Thế Tôn:

385. Tỷ-kheo, hăy nghe Ta,
Ta khiến các Thầy nghe,
Pháp đoạn trừ điều ác,
Tất cả hăy trọ tŕ,
Với ai thấy ư nghĩa,
Nghĩ ngợi có suy tư,
Hăy sống theo chánh hạnh,
Thích hợp với xuất gia.

388. Na ve vikāle vicareyya bhikkhu
gāmañca piṇḍāya careyya kāle,
akālacāriṃ hi sajanti saṅgā
tasmā vikāle na caranti buddhā.

 

388. Thật vậy, vị tỳ khưu không nên đi đâu vào lúc không đúng thời,

và nên đi vào làng để khất thực lúc đúng thời.

Bởi v́, sự quyến luyến bám vào kẻ du hành không đúng thời.

V́ thế, chư Phật không đi vào lúc không đúng thời.

 

386. Tỷ-kheo chớ ra ngoài,
Trong thời gian phi thời,
Hăy vào làng khất thực,
Đúng thời, th́ hăy đi,
Ai đi đứng phi thời,
Bị bẫy sập trói buộc.
Do vậy các đức Phật,
Không có đi phi thời.

389. Rūpā ca saddā ca rasā ca gandhā
phassā ca ye sammadayanti satte,
etesu dhammesu vineyya chandaṃ
kālena so pavise pātarāsaṃ.
 

389. Các sắc, các thinh, các vị, các hương,

và các xúc, chúng làm say đắm các chúng sanh.

Sau khi xua đi sự mong muốn ở các pháp ấy,

vị ấy vào lúc đúng thời có thể đi vào (làng để khất thực) cho buổi ăn sáng.

 

387. Các sắc và các tiếng,
Các vị, hương và xúc,
Chính những loại pháp ấy
Làm mê hoặc chúng sanh.
Hăy nhiếp phục, ḷng dục,
Đối với các pháp ấy,
Hăy vào cho đúng thời,
Để dùng buổi ăn sáng.

390. Piṇḍañca bhikkhu samayena laddhā
eko paṭikkamma raho nisīde,
ajjhattacintī na mano bahiddhā
nicchāraye saṅgahitattabhāvo.
 

390. Và sau khi đă nhận được vật thực hợp thời, vị tỳ khưu, một ḿnh, sau khi quay trở về nên ngồi xuống ở nơi vắng vẻ, có tâm hướng nội phần, có bản ngă đă được nắm giữ tốt đẹp, không để cho ư buông lung ở ngoại cảnh.

388. Tỷ-kheo được đúng thời,
Các đồ ăn khất thực,
Hăy đi về một ḿnh,
Ngồi tại chỗ an tịnh,
Suy tư hướng nội tâm,
Ư không chạy ra ngoài,
Làm cho thoát ra khỏi,
Mọi chấp thủ tự ngă.

391. Sace pi so sallape sāvakena
aññena vā kenaci bhikkhunā vā,
dhammaṃ paṇītaṃ tamudāhareyya
na pesunaṃ nopi parūpavādaṃ.
 

391. Thậm chí, nếu vị ấy phải chuyện tṛ với người đệ tử,

hoặc với kẻ khác, hoặc với bất cứ vị tỳ khưu nào,

th́ nên đề cập đến Giáo Pháp hảo hạng ấy,

không nói đâm thọc, cũng không nói chỉ trích kẻ khác.

 

389. Nếu vị ấy có nói,
Với một vị đệ tử,
Hay nói với một vị
Một Tỷ-kheo nào khác,
Hăy nói cho vị ấy,
Sự thù diệu Chánh pháp,
Không có nói hai lưỡi,
Không bài xích một ai,

392. Vādaṃ hi eke paṭiseniyanti
na te pasaṃsāma parittapaññe,
tato tato ne pasajanti saṅgā
cittaṃ hi te tattha gamenti dūre.
 

392. Bởi v́ một số người phản kháng lại lời nói,

chúng ta không ca ngợi những kẻ có tuệ nhỏ nhoi ấy.

Các sự quyến luyến từ nơi này nơi khác đeo bám những kẻ ấy,

bởi v́ những kẻ ấy để cho tâm đi xa khỏi nơi ấy.

 

390. Nhưng có những hạng người,
Dùng khẩu chiến bằng lời,
Những hạng người tuệ nhỏ,
Chúng ta không tán thán,
Triền phược trói buộc họ,
Từ chỗ này chỗ kia,
Ở đây họ dẫn tâm,
Đưa tâm đi quá xa.

393. Piṇḍaṃ vihāraṃ sayanāsanañca
āpañca saṅghāṭirajūpavāhanaṃ,
sutvāna dhammaṃ sugatena desitaṃ
saṅkhāya seve varapaññasāvako.
 

393. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp được thuyết giảng bởi bậc Thiện Thệ, vị đệ tử có tuệ cao quư suy xét rồi thọ dụng đồ ăn khất thực, trú xá, chỗ nằm ngồi (giường ghế), và nước gột sạch bụi bám ở y hai lớp.

391. Đồ khất thực, tinh xá,
Cùng sàng tọa trú xứ,
Nước để trừ bụi nhớp,
Y áo Tăng-già-lê,
Sau khi nghe Chánh pháp,
Do Thiện Thệ thuyết giảng,
Bậc đệ tử thắng tuệ,
Quán sát, hăy dùng chúng.

394. Tasmā hi piṇḍe sayanāsane ca
āpe ca saṅghāṭirajūpavāhane,
etesu dhammesu anūpalitto
bhikkhu yathā pokkhare vāribindū.

394. Chính v́ thế, về đồ ăn khất thực, về chỗ nằm ngồi (giường ghế), và về nước gột sạch bụi bám ở y hai lớp, vị tỳ khưu không bám víu vào những pháp này, giống như những giọt nước ở lá sen.

392. Do vậy đồ khất thực,
Sàng tọa và trú xứ,
Nước để trừ bụi nhớp,
Y áo Tăng-già-lê,
Đối với những pháp ấy,
Đừng để cho dính nhiễm.
Tỷ-kheo như giọt nước,
Không dính trên lá sen.

395. Gahaṭṭhavattaṃ pana vo vadāmi
yathākaro sāvako sādhu hoti,
na hesa labbhā sapariggahena
phassetuṃ so kevalo bhikkhudhammo.
 

395. Giờ đây, Ta nói về phận sự của người tại gia cho các ngươi. Có hành động như thế nào th́ trở nên người đệ tử tốt lành. Bởi v́ toàn bộ pháp hành ấy của tỳ khưu, người có vật sở hữu th́ không thể nào đạt đến.

393. Trách nhiệm của gia chủ,
Ta cũng nói các Ông,
Làm theo đúng như vậy,
Đệ tử là tốt lành.
Pháp Tỷ-kheo toàn diện,
Khó thành tựu đầy đủ,
V́ là người gia chủ,
Phải làm nhiều việc đời.

396. Pāṇaṃ na hāne na ca ghātayeyya
na cānujaññā hanataṃ paresaṃ,
sabbesu bhūtesu nidhāya daṇḍaṃ
ye thāvarā ye ca tasā santi loke.

 

396. Không nên giết hại mạng sống và không nên bảo (kẻ khác) giết hại,

không nên chấp thuận cho những kẻ khác đang giết hại.

Sau khi bỏ xuống gậy gộc đối với tất cả chúng sanh,

những loài không di động và những loài di động hiện hữu ở thế gian.

394. Chớ giết loài hữu t́nh,
Chớ bảo người giết hại,
Hay chấp nhận kẻ khác,
Giết hại các người khác,
Đối với mọi sanh loại,
Từ bỏ các h́nh phạt,
Đối với kẻ mạnh bạo,
Như đối kẻ run sợ.

397. Tato adinnaṃ parivajjayeyya
kiñci kvaci sāvako bujjhamāso,
na hāraye harataṃ nānujaññā
sabbaṃ adinnaṃ parivajjayeyya.
 

397. Kế đến, người đệ tử sáng suốt nên xa lánh bất cứ vật ǵ không được cho, ở bất cứ nơi đâu. Không nên bảo (kẻ khác) lấy trộm, không nên chấp nhận những kẻ đang lấy trộm, nên xa lánh mọi vật không được cho.

385. Rồi hăy quyết từ bỏ,
Lấy của không được cho,
Đệ tử khéo sáng suốt,
Vật ǵ, vật của ai,
Chớ khiến người khác lấy,
Chớ chấp nhận lấy trộm.
Hăy từ bỏ, chấm dứt,
Mọi của cải không cho.

398. Abrahmacariyaṃ parivajjayeyya
aṅgārakāsuṃ jalitaṃ va viññū,
asambhuṇanto pana brahmacariyaṃ
parassa dāraṃ nātikkameyya.
 

398. Người có sự hiểu biết nên xa lánh việc phi Phạm hạnh, tựa như (xa lánh) đống than hừng đang cháy rực. Hơn nữa, trong khi không đủ khả năng (sống) Phạm hạnh, không nên xâm phạm vợ của người khác.

396. Hăy từ bỏ, tránh xa
Đời sống phi Phạm hạnh,
Như bậc trí tránh né,
Lửa cháy hố than hừng.
Nếu tự ḿnh bất lực,
Không thể sống Phạm hạnh,
Thời chớ có xâm phạm
Vợ của các người khác.

399. Sabhaggato vā parisaggato vā
ekassa ceko na musā bhaṇeyya,
na bhāṇaye bhaṇataṃ nānujaññā
sabbaṃ abhūtaṃ parivajjayeyya.
 

399. Một người đi đến cuộc hội họp hoặc đi đến hội chúng không nên nói lời dối trá đối với người khác, không nên bảo (kẻ khác) nói (dối), không nên chấp nhận những kẻ đang nói (dối), nên xa lánh mọi điều không phải sự thật.

397. Khi đi đến hội chúng,
Hay đi đến đoàn chúng,
Hay một ḿnh một người,
Chớ nói lời nói láo,
Chớ khiến người nói láo,
Chớ chấp nhận nói láo,
Tất cả điều không thật,
Hăy tránh xa từ bỏ.

400. Majjañca pānaṃ na samācareyya
dhammaṃ imaṃ rocaye yo gahaṭṭho,
na pāyaye pibataṃ nānujaññā
ummādanantaṃ iti naṃ viditvā.
 

400. Người tại gia nào thích thú với Giáo Pháp này không nên thực hành việc uống chất say, không nên bảo (kẻ khác) uống (chất say), không nên chấp nhận những kẻ đang uống (chất say), sau khi biết rằng việc (uống chất say) ấy có sự điên cuồng là kết cuộc.

398. Chớ sống theo nếp sống,
Uống rượu và say rượu,
Với vị là cư sĩ,
Đă chấp nhận pháp này,
Chớ khiến nguời uống rượu,
Chớ chấp thuận uống rượu
Sau khi biết uống rượu,
Cuối đường là điên cuồng.

401. Madā hi pāpāni karonti bālā
karonti caññepi jane pamatte,
Etaṃ apuññāyatanaṃ vivajjaye
ummādanaṃ mohanaṃ bālakantaṃ.

401. Bởi v́ do say sưa, những kẻ ngu làm những việc xấu xa

và c̣n làm cho những người khác cũng bị xao lăng.

Nên xa lánh hẳn việc này, lănh vực không có phước báu,

sự điên cuồng, sự đần độn, được ưa thích bởi kẻ ngu.

399. Chỉ kẻ ngu say rượu,
Mới làm các điều ác,
Và khiến các người khác,
Sống buông lung phóng dật,
Hăy từ bỏ, tránh xa
Xứ phi công đức này,
Khiến điên cuồng si mê,
Làm kẻ ngu thỏa thích.

402. Pāṇaṃ na hāne na cadinnamādiye
musā na bhāse na ca majjapo siyā,
abrahmacariyā virameyya methunā
rattiṃ na bhuñjeyya vikālabhojanaṃ.

 

402. Không nên giết hại sinh mạng, và không nên lấy vật không được cho,

không nên nói lời dối trá, và không nên uống chất say,

nên kiêng cử việc đôi lứa, việc phi Phạm hạnh,

không nên ăn vật thực lúc phi thời, vào ban đêm.

 

400. Chớ có giết hữu t́nh,
Chớ lấy của không cho,
Chớ nói láo không thật,
Chớ uống rượu say mê,
Từ bỏ phi Phạm hạnh,
Không hành tŕ dâm dục
Không có ăn ban đêm,
Không ăn lúc phi thời.

403. Mālaṃ na dhāre na ca gandhamācare
mañce chamāyaṃ va sayetha santhate,
etaṃ hi aṭṭhaṅgikamāhuposathaṃ
buddhena dukkhantagunā pakāsitaṃ.
 

403. Không nên đeo tràng hoa, và không nên sử dụng chất thơm,

nên nằm ở chiếc giường, hoặc ở mặt đất đă được trải lót.

Bởi v́ việc ấy được gọi là là hạnh trai giới gồm có tám chi phần,

đă được giảng giải bởi đức Phật, bậc đă đi đến sự chấm dứt của khổ đau.

 

401. Chớ mang các ṿng hoa,
Chớ dùng các nước thơm,
Hăy nằm trên mặt đất,
Trên thảm chiếu trải dài,
Tám hạnh này được gọi
Là hạnh ngày trai giới,
Do đức Phật giảng dạy,
Để chấm dứt khổ đau.

404. Tato ca pakkhassupavassuposathaṃ
cātuddasiṃ pañcadasiñca aṭṭhamiṃ,
pāṭihāriyapakkhañca pasannamānaso
aṭṭhaṅgupetaṃ susamattarūpaṃ.
 

404. Và kế đó, sau khi hành tŕ ngày trai giới hội đủ tám chi phần, có h́nh thức được hoàn toàn đầy đủ, với tâm tịnh tín, vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, ngày thứ tám của nửa tháng, và (các) ngày phụ trội của nửa tháng,[1] ...

402. Từ nay ngày trai giới,
Chia nửa tháng hai phần,
Ngày mười bốn, mười lăm,
Hay ngày tám mỗi tháng,
Với tâm ư hoan hỷ,
Thực hành thần thông pháp
Gồm có đủ tám phần,
Khéo đầy đủ vẹn toàn.

[1] Vào mỗi nửa tháng, ba ngày trai giới mồng tám, mười bốn, mười lăm, cộng thêm ngày rước và ngày đưa là các ngày bảy, ngày chín, ngày mười ba, và mồng một (ND).

405. Tato ca pāto upavutthuposatho
annena pānena ca bhikkhusaṅghaṃ,
pasannacitto anumodamāno
yathārahaṃ saṃvibhajetha viññū.
 

405. ... và sau đó vào buổi sáng, khi ngày trai giới đă được hành tŕ xong, người có sự hiểu biết, với tâm tịnh tín, trong khi đang hoan hỷ, nên dâng cúng cơm nước phù hợp với khả năng đến hội chúng tỳ khưu.

403. Do vậy, vào buổi sáng,
Thực hành ngày trai giới,
Bậc có trí sáng suốt,
Với tâm tư tín thành,
Với tâm ư tùy hỷ,
Cúng dường Tỷ-kheo Tăng,
Với món ăn đồ uống,
Hợp với khả năng ḿnh.

406. Dhammena mātāpitaro bhareyya
payojaye dhammikaṃ so vaṇijjaṃ,
etaṃ gihī vattayaṃ appamatto
sayaṃpabhe nāma upeti deveti.

 

406. Người ấy nên phụng dưỡng mẹ cha đúng theo bổn phận, nên áp dụng việc buôn bán một cách đúng pháp. Người tại gia này, trong lúc duy tŕ cuộc sống (như vậy), không xao lăng, (sẽ) đi đến với chư Thiên có tên là ‘Sayaṃpabhā’ (tự ḿnh có hào quang).

404. Hăy nuôi dưỡng mẹ cha,
Hợp pháp và đúng pháp,
Và cũng đúng với pháp,
Hăy làm nghề buôn bán,
Người gia chủ như vậy,
Sở hành không phóng dật,
Được sanh làm Thiên nhân,
Tên là: "Tự chói sáng".

 

Dhammikasuttaṃ niṭṭhitaṃ.


Cullavaggo dutiyo.
 

 

Dứt Kinh Dhammika.

 

Tiểu Phẩm là thứ nh́.

 

 

 

TASSUDDĀNAṂ
 

 

TÓM LƯỢC PHẨM NÀY

 

 

Ratanaṃ āmagandhañca hiriṃ maṅgalamuttamaṃ,
sūcilomo kapilaṃ ca puna brāhmaṇadhammikaṃ.
Dhammasuttaṃ kiṃsīlaṃ uṭṭhānaṃ atha rāhulo,
kappo ca paribbājañca dhammiko ca punāparaṃ,
cuddasetāni suttāni cullavaggoti vuccati.

 

Kinh châu báu, và kinh mùi tanh hôi, kinh hổ thẹn, kinh điềm lành tối thượng, kinh Sūciloma, kinh Kapila, và kinh truyền thống Bà-la-môn nữa, kinh Giáo Pháp, kinh với giới ǵ, kinh đứng lên, và kinh Rāhula, kinh Kappa, kinh du hành (chân chánh), và c̣n có kinh Dhammika khác nữa; mười bốn bài kinh này gọi là Tiểu Phẩm.

 

<Trang Trước>

<Mục Lục><Đầu Trang>

<Trang Kế>