Trang Chính

TTPV 29: Suttanipātapāḷi - Kinh Tập

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

KHUDDAKANIKĀYA - TIỂU BỘ

SUTTANIPĀTAPĀḶI - KINH TẬP

* TTPV tập 29 *

(Đọc với font VU- Times và Acrobat Reader)

Cập Nhật: Sunday, April 20, 2014

 

IV. AṬṬHAKAVAGGO - PHẨM NHÓM TÁM

 

 

Buddha Jayanti Tripitaka Series (BJTS) - Tạng Sri Lanka

 

 

Lời tiếng Việt: (văn xuôi) Tỳ khưu Indacanda

 

 

Lời tiếng Việt: (văn vần) HT. Thích Minh Châu

 

 

1. KĀMASUTTAṂ

 

 

1. KINH GIẢNG VỀ DỤC

 

 

1. KINH VỀ DỤC

 

770. Kāmaṃ kāmayamānassa tassa ce taṃ samijjhati,
addhā pītimano hoti laddhā macco yadicchati.

770. Đối với người ham muốn về dục, nếu điều ấy thành tựu đến người ấy, đương nhiên (người ấy) có ư vui mừng sau khi đă đạt được điều con người ước muốn.

766. Ai ao ước được dục,
Nếu dục được thành tựu,
Chắc tâm ư hoan hỷ,
Được điều con người muốn.

771. Tassa ce kāmayānassa chandajātassa jantuno,
te kāmā parihāyanti sallaviddhova ruppati.
 

771. Nếu đối với người ấy, --(tức là) đối với người đang ham muốn, đối với con người có sự mong muốn đă sanh khởi,-- các dục ấy bị suy giảm, th́ (người ấy) bị khổ sở như là bị đâm xuyên bởi mũi tên.

767. Nếu người có dục ấy,
Ước muốn được sanh khởi,
Các dục ấy bị diệt,
Bị khổ như tên đâm.

772. Yo kāme parivajjeti sappasseva padā siro,
so ’maṃ visattikaṃ loke sato samativattati.

772. Người nào xa lánh các dục tựa như các bàn chân (xa lánh) đầu của con rắn, người ấy, có niệm, vượt qua sự vướng mắc này ở thế gian.

768. Ai tránh né các dục
Như chân tránh đầu rắn,
Chánh niệm vượt thoát được,
Ái triền này ở đời.

773. Khettaṃ vatthuṃ hiraññaṃ vā gavāssaṃ dāsaporisaṃ,
thiyo bandhū puthukāme yo naro anugijjhati.
 

773. Người nam nào thèm muốn ruộng, đất, hoặc vàng, gia súc, ngựa, tôi tớ, người hầu, người nữ, thân quyến, vô số các dục, ...

769. Người nào tham đắm dục,
Ruộng đất, vàng, ḅ, ngựa,
Người nô tỳ, phục vụ,
Nữ nhân và bà con.

774. Abalā naṃ balīyanti maddante naṃ parissayā,
tato naṃ dukkhamanveti nāvaṃ bhinnamivodakaṃ.

774. ... các (ô nhiễm) yếu ớt thống trị người ấy, các hiểm họa chà đạp người ấy; do việc ấy khổ đau đi theo người ấy tựa như nước (tràn vào) chiếc thuyền đă bị vỡ.

770. Như người không sức lực,
Bị các dục chinh phục,
Tai họa dẫm đạp nó,
Khổ đau bước theo nó,
Như nước ùa tràn vào,
Chiếc thuyền bị vỡ nát.

775. Tasmā jantu sadā sato kāmāni parivajjaye,
te pahāya tare oghaṃ nāvaṃ sitvāva pāragūti.
 

775. Do đó, người luôn luôn có niệm có thể xa lánh các dục, sau khi dứt bỏ chúng th́ có thể vượt ḍng nước lũ, tựa như sau khi tát cạn chiếc thuyền, là người đi đến bờ kia.

771. Do vậy người thường niệm,
Từ bỏ các loài dục,
Bỏ dục, vượt bộc lưu,
Tát thuyền đến bờ kia.

 

Kāmasuttaṃ niṭṭhitaṃ.

 

 

Dứt Kinh Giảng về Dục.

 

 
     

 

2. GUHAṬṬHAKASUTTAṂ

 

 

2. KINH NHÓM TÁM VỀ HANG

 

 

2. KINH HANG ĐỘNG TÁM KỆ

 

776. Satto guhāyaṃ bahunābhichanno
tiṭṭhaṃ naro mohanasmiṃ pagāḷho,
dūre vivekā hi tathāvidho so
kāmā hi loke na hi suppahāyā.

776. Bị dính mắc ở hang (thân xác), bị che đậy bởi nhiều (ô nhiễm), trong khi tồn tại, con người bị đắm ch́m trong sự say mê (ngũ dục). Người thuộc hạng như thế ấy quả thật cách xa sự viễn ly, bởi v́ các dục ở thế gian thật không dễ ǵ dứt bỏ.

772. Chúng sanh vào trong hang,
Chấp chặt bị bao trùm,
Người có thái độ vậy,
Ch́m sâu trong si mê.
Hạnh viễn ly với nó,
Như vậy thật xa vời,
Các dục ở trong đời,
Không dễ ǵ đoạn tận.

777. Icchānidānā bhavasātabaddhā
te duppamuñcā na hi aññamokkhā,
pacchā pure vāpi apekkhamānā
ime va kāme purime va jappaṃ.

777. Có ước muốn là căn nguyên, bị trói buộc vào lạc thú ở hiện hữu, đang trông mong về sau này hoặc luôn cả trước đây, đang tham muốn các dục này hoặc các dục trước đây, những kẻ ấy là khó giải thoát, đương nhiên không thể giúp cho những người khác giải thoát.

773. Dục cầu làm nhân duyên,
Bị lạc hữu trói buộc,
Họ rất khó giải thoát,
Không thể có người khác,
Đến giải thoát cho ḿnh,
Họ cầu việc đă qua,
Họ mong việc chưa lại;
Họ tham đắm các dục,
Những dục này hiện tại,
Và những dục quá khứ.

778. Kāmesu giddhā pasutā pamūḷhā
avadāniyā te visame niviṭṭhā,
dukkhūpanītā paridevayanti
kiṃ su bhavissāma ito cutāse.

778. Bị thèm khát ở các dục, bị đeo níu, bị mê đắm, là những người thấp kém, họ đă đi theo lối sai trái. Bị dẫn đến khổ đau, họ than văn: ‘Vậy chúng ta sẽ trở thành cái ǵ sau khi đă chết từ nơi đây?’

774. Ai tham đắm các dục,
Bị trí buộc si mê,
Họ xan tham keo kiết.
An trú trên bất chánh,
Khi rơi vào đau khổ,
Họ sầu muộn than khóc,
Ở đây sau khi chết,
Tương lai sẽ thế nào?

779. Tasmā hi sikkhetha idheva jantu
yaṃ kiñci jaññā visamanti loke,
na tassa hetu visamaṃ careyya
appaṃ hidaṃ jīvitaṃ āhu dhīrā.

779. Chính v́ điều ấy, con người ở ngay tại đây (trong Giáo Pháp này) nên học tập, nên biết bất cứ điều ǵ là ‘sai trái’ ở thế gian, không nên làm điều sai trái do nhân của điều ấy, bởi v́ các bậc sáng trí đă nói mạng sống này là ít ỏi.

775. Do vậy ở tại đây,
Con người cần học tập,
Những ǵ ḿnh biết được,
Là bất chánh ở đời.
Do nhân duyên như vậy,
Mà sống không bất chánh,
V́ rằng bậc Thánh nói:
Ngắn thay, sanh mạng này.

780. Passāmi loke pariphandamānaṃ
pajaṃ imaṃ taṇhāgataṃ bhavesu,
hīnā narā maccumukhe lapanti
avītataṇhā se bhavābhavesu.

780. Ta nh́n thấy con người này, bị nhiễm tham ái trong các cơi, đang chao đảo ở thế gian. Những người thấp hèn, chưa xa ĺa tham ái ở hữu và phi hữu, rên rỉ ở cửa miệng Tử Thần.

776. Ta thấy ở trên đời,
Loài Người run, sợ hăi,
Đi đến khát ái này,
Trong những loại sanh hữu.
Phàm những người thấp kém,
Than van trước miệng chết,
Chưa viễn ly khát ái,
Đối với hữu, phi hữu.

781. Mamāyite passatha phandamāne
maccheva appodake khīṇasote,
etampi disvā amamo careyya
bhavesu āsattimakubbamāno.
 

781. Hăy nh́n xem những kẻ đang chao động về vật đă được chấp là của tôi tựa như những con cá ở chỗ ít nước, ở ḍng chảy bị cạn kiệt. Và sau khi nh́n thấy điều ấy, nên sống không chấp là của tôi, không tạo nên sự vướng bận ở các hữu.

777. Hăy nh́n những người ấy,
Run sợ trong tự ngă,
Như cá chỗ ít nước,
Trong ḍng sông khô cạn,
Thấy được sự kiện này,
Hăy sống không của ta,
Không làm sự việc ǵ,
Khiến tham đắm các hữu.

782. Ubhosu antesu vineyya chandaṃ
phassaṃ pariññāya anānugiddho,
yadattagarahī tadakubbamāno
na lippati diṭṭhasutesu dhīro.

782. Nên dẹp bỏ sự mong muốn ở cả hai thái cực, sau khi biết toàn diện về xúc th́ không c̣n thèm muốn, bản thân chê trách điều nào th́ không làm điều ấy, người sáng trí không nhơ bẩn ở những điều đă được thấy đă được nghe.

778. Hăy nhiếp phục ước muốn,
Đối với hai cực đoan,
Nhờ liễu tri các xúc,
Không c̣n có tham đắm,
Cái ǵ tự ngă trách,
Cái ấy không có làm,
Bậc trí không bị nhớp,
Bởi những ǵ thấy nghe.

783. Saññaṃ pariññā vitareyya oghaṃ
pariggahesu muni nopalitto,
abbūḷhasallo caraṃ appamatto
nāsiṃsatī lokamimaṃ parañcāti.

783. Sau khi biết toàn diện về tưởng, có thể băng qua ḍng lũ, bậc hiền trí không bị vấy bẩn ở các sự bám giữ, có mũi tên đă được lấy ra, không bị xao lăng trong khi sinh hoạt, không mong ước đời này và đời khác.

779. Do liễu tri các tưởng,
Vượt qua khỏi bộc lưu,
Bậc Mâu-ni không nhiễm,
Đối với mọi chấp thủ,
Với mũi tên rút ra,
Sở hành không phóng dật,
Không cầu mong đời này,
Không mong ước đời sau.

 

Guhaṭṭhakasuttaṃ niṭṭhitaṃ.

 

 

Dứt Kinh Nhóm Tám về Hang.

 

 

     

 

3. DUṬṬHAṬṬHAKASUTTAṂ

 

 

3. KINH NHÓM TÁM VỀ XẤU XA

 

 

3. KINH SÂN HẬN TÁM KỆ

 

784. Vadanti ve duṭṭhamanāpi eke
athopi ve saccamanā vadanti,
vādañca jātaṃ muni no upeti
tasmā muni natthi khilo kuhiñci.
 

784. Thật vậy, một số người nói (bôi nhọ) với tâm ư xấu xa. Quả vậy, một số người có tâm ư chân thật cũng nói (bôi nhọ). Bậc hiền trí không tiếp cận lời nói (bôi nhọ) đă khởi lên, bởi vậy bậc hiền trí không có rác rưởi ở bất cứ đâu.

780. Thật có một số người
Nói lên với ác ư,
Và thật cũng có người,
Nói lên ư chân thật.
Dầu có lời nói ǵ,
ẩn sĩ không liên hệ,
Do vậy bậc Mâu-ni,
Không chỗ nào hoang vu.

785. Sakaṃ hi diṭṭhiṃ kathamaccayeyya
chandānunīto ruciyā niviṭṭho,
sayaṃ samattāni pakubbamāno
yathā hi jāneyya tathā vadeyya.

785. Bị dẫn dắt bởi ḷng mong muốn, đă đi theo sự ưa thích, trong khi tự ḿnh làm cho (các quan điểm trở nên) đầy đủ, làm thế nào có thể vượt qua quan điểm của chính ḿnh? Bởi v́ người biết như thế nào th́ sẽ nói như thế ấy.

781. Người ước muốn dắt dẫn,
Thiên trú điều sở thích,
Làm sao từ bỏ được,
Điều tà kiến của ḿnh,
Khi tự ḿnh tác thành,
Quan điểm riêng của ḿnh,
Như điều nọ được biết,
Hăy để nó nói vậy.

786. Yo attano sīlavatāni jantu
anānupuṭṭho ca paresa pāvā,
anariyadhammaṃ kusalā tamāhu
yo ātumānaṃ sayameva pāvā.

786. Người nào, dầu không được hỏi đến, mà nói với những người khác về giới và phận sự của bản thân, người nào tự chính ḿnh nói về bản thân, các bậc thiện xảo đă nói kẻ ấy là không có Thánh pháp.

782. Người không có ai hỏi,
Lại nói cho người khác,
Biết đến những giới cấm,
Của tự cá nhân ḿnh.
Bậc thiện xảo nói rằng,
Như vậy không Thánh pháp,
Nếu ai tự nói lên
Lời tán thán tự ngă.

787. Santo ca bhikkhu abhinibbutatto
iti ’hanti sīlesu akatthamāno,
tamariyadhammaṃ kusalā vadanti
yassussadā natthi kuhiñci loke.
 

787. Và vị tỳ khưu an tịnh, có trạng thái đă được hoàn toàn diệt tắt, không khoe khoang về các giới rằng: ‘Tôi là thế này,’ đối với vị nào không có sự kiêu ngạo ở bất cứ đâu ở thế gian, các bậc thiện xảo nói vị ấy là có Thánh pháp.

783. Vị Tỷ-kheo an tịnh,
Sống hết sức tịch tịnh,
Khi tán thán giới đức,
Không nói "Tôi là vậy".
Bậc thiện xảo nói rằng
Như vậy là Thánh pháp
Với vị ấy đề cao,
Ở đời, không khởi lên.

788. Pakappitā saṅkhatā yassa dhammā
purakkhatā santi avīvadātā,
yadattanī passati ānisaṃsaṃ
taṃ nissito kuppapaṭiccasantiṃ,

788. Các pháp (quan điểm) của người nào được xếp đặt, được tạo tác, được chú trọng, là không trong sạch, (người ấy) nh́n thấy điều nào là việc lợi ích cho bản thân, rồi đă nương vào điều ấy, vào sự an tịnh bị thay đổi, thuận theo điều kiện.

784. Với những ai các pháp,
Được sửa soạn tác thành,
Được đặt ra phía trước,
Không phải không tranh luận,
Khi đă thấy lợi ích,
Trên tự thân của ḿnh,
Y đấy, duyên dao động,
Đạt được sự tịch tịnh.

789. Diṭṭhi nivesā na hi svātivattā
dhammesu niccheyya samuggahītaṃ,
tasmā naro tesu nivesanesu
nirassati ādisaticca dhammaṃ.

789. Các sự chấp chặt vào tà kiến quả thật không dễ vượt qua sau khi đă suy xét điều đă được ôm giữ trong số các pháp (tà kiến). V́ thế, trong số các sự chấp chặt ấy, loài người rời bỏ và nắm giữ tà kiến (này đến tà kiến khác).

785. Đối với các thiên kiến,
Không dễ ǵ vượt qua,
Thẩm sát các pháp xong,
Mới tác thành chấp trước.
Do vậy là con người,
Đối với trú xứ ấy,
Có khi quyết từ bỏ,
Có khi chấp nhận Pháp.

790. Dhonassa hi natthi kuhiñci loke
pakappitā diṭṭhi bhavābhavesu,
māyañca mānañca pahāya dhono
sa kena gaccheyya anūpayo so.

790. Quả thật, đối với vị đă rũ sạch th́ không có quan điểm được xếp đặt liên quan đến hữu và phi hữu ở bất cứ đâu ở thế gian. Vị đă rũ sạch sau khi dứt bỏ xảo quyệt và ngă mạn, th́ bởi điều ǵ mà vị ấy có thể đi (tái sanh) khi vị ấy không có sự vướng bận?

786. Vị tẩy sạch loại bỏ,
Không t́m được ở đời,
Các kiến được sửa soạn,
Đối với hữu, phi hữu.
Bỏ man trá, kiêu mạn,
Vị tẩy sạch loại bỏ,
Vị ấy đi với ǵ,
Vị ấy không chấp thủ.

791. Upayo hi dhammesu upeti vādaṃ
anūpayaṃ kena kathaṃ vadeyya,
attaṃ nirattaṃ na hi tassa atthi
adhosi so diṭṭhimidheva sabbanti.
 

791. Quả thật, người vướng bận tiếp cận sự tranh luận về các pháp. Với điều ǵ, bằng cách nào có thể nói về người không vướng bận? Bởi v́ điều được nắm lấy và được rời bỏ là không có đối với vị ấy; vị ấy đă rũ bỏ mọi tà kiến ở ngay tại nơi đây.

787. Với ai có chấp thủ,
Bị chỉ trích trong Pháp,
Với ai không chấp thủ,
Lấy ǵ có thể nói?
Chính đối với vị ấy,
Ngă, phi ngă đều không,
Vị ấy đă tẩy sạch,
Mọi tà kiến ở đời.

 

Duṭṭhaṭṭhakasuttaṃ niṭṭhitaṃ.

 

 

Dứt Kinh Nhóm Tám về Xấu Xa.

 

 

     

 

4. SUDDHAṬṬHAKASUTTAṂ

 
 

4. KINH NHÓM TÁM VỀ TRONG SẠCH

 

4. KINH THANH TỊNH TÁM KỆ

792. Passāmi suddhaṃ paramaṃ arogaṃ
diṭṭhena saṃsuddhi narassa hoti,
etābhijānaṃ paramanti ñatvā
suddhānupassīti pacceti ñāṇaṃ.

792. ‘Tôi nh́n thấy đối tượng trong sạch, tối thắng, không bệnh. Do việc nh́n thấy, con người có được sự thank khiết,’ trong khi biết rơ như thế, người đă biết (việc ấy) là ‘tối thắng,’ có sự quan sát đối tượng trong sạch, tin tưởng rằng (điều ấy) là trí tuệ.

788. Ta thấy vị thanh tịnh,
Vị tối thượng, không bệnh,
Sự thanh tịnh con người,
Với tri kiến, đạt được.
Nắm giữ quan điểm này.
Xem đấy là tối thượng,
Vị này sẽ xem trí,
Là tùy quán thanh tịnh.

793. Diṭṭhena ce suddhi narassa hoti
ñāṇena vā so pajahāti dukkhaṃ,
aññena so sujjhati sopadhīko
diṭṭhi hi naṃ pāva tathā vadānaṃ.

793. Nếu do nh́n thấy mà con người có được sự trong sạch, hoặc do nhận biết mà người ấy dứt bỏ khổ đau, th́ người ấy--người c̣n mầm mống tái sanh--được trong sạch do (đạo lộ) khác (so với Thánh Đạo), chính tà kiến (thế ấy) đă mớm lời cho người ấy trong khi nói như thế.

789. Nếu thanh tịnh con người,
Do tri kiến đạt được,
Hay với trí vị ấy,
Từ bỏ sự đau khổ
Vị ấy có sanh y,
Ngoài Thánh đạo được tịnh,
Vị ấy nói như vậy,
Do tri kiến cá nhân.

794. Na brāhmaṇo aññato suddhimāha
diṭṭhe sute sīlavate mute vā,
puññe ca pāpe ca anūpalitto
attañjaho nayidha pakubbamāno.

794. Vị Bà-la-môn đă nói rằng sự trong sạch là không do (đạo lộ) khác, không liên quan đến điều đă được thấy, đến điều đă được nghe, đến giới và phận sự, hoặc đến điều đă được cảm giác, là người không bị vấy bẩn bởi phước và tội, buông bỏ điều đă được chấp giữ, không tạo ra (nghiệp ǵ) ở nơi đây.

790. Bà-la-môn không nói,
Ngoài Thánh đạo được tịnh,
Với điều được thấy nghe,
Giới đức, được thọ tưởng;
Với công đức, ác đức,
Vị ấy không nhiễm trước,
Từ bỏ mọi chấp ngă,
Không làm ǵ ở đời.

795. Purimaṃ pahāya aparaṃ sitāse
ejānugā te na taranti saṅgaṃ,
te uggahāyanti nirassajanti
kapīva sākhaṃ pamukhaṃ gahāya.

795. Buông bỏ cái trước rồi nương vào cái khác, đeo đuổi dục vọng, những người ấy không vượt qua sự quyến luyến. Họ nắm bắt rồi rời bỏ, tựa như con khỉ với việc nắm lấy cành cây trước mặt.

791. Từ bỏ tri kiến cũ,
Y chỉ tri kiến mới,
Đi đến sự tham đắm,
Không vượt qua ái dục;
Họ nắm giữ chấp trước,
Họ từ bỏ xa lánh,
Như khỉ thả cành này,
Rồi lại nắm cành khác,

796. Sayaṃ samādāya vatāni jantu
uccāvacaṃ gacchati saññasatto,
vidvā ca vedehi samecca dhammaṃ
na uccāvacaṃ gacchati bhūripañño.

796. Sau khi tự ḿnh thọ tŕ các phận sự, con người đi đến chỗ cao chỗ thấp, bị dính mắc vào tưởng; c̣n người có sự hiểu biết, nhờ các sự hiểu biết sau khi thông hiểu pháp không đi đến chỗ cao chỗ thấp, là người có tuệ bao la.

792. Người tự ḿnh chấp nhận,
Các chủng loại giới cấm,
Đi chỗ cao chỗ thấp,
Sống bị tưởng chi phối;
Người có trí rộng lớn,
Nhờ trí tuệ, quán pháp,
Có trí, không đi đến
Các pháp cao và thấp.

797. Sa sabbadhammesu visenibhūto
yaṃ kiñci diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā,
tameva dassiṃ vivaṭaṃ carantaṃ
kenīdha lokasmiṃ vikappayeyya.

797. Vị ấy, người diệt đạo binh ở tất cả các pháp, về bất cứ điều ǵ đă được thấy, đă được nghe, hoặc đă được cảm giác. Vị ấy, người có nhăn quan như thế, đang hành xử rơ ràng, với cái ǵ ở thế gian này có thể chi phối được vị ấy?

793. Vị ấy đạt thù thắng,
Trong tất cả các pháp,
Phàm có điều thấy, nghe,
Hay cảm thọ, tưởng đến;
Với vị tri kiến vậy,
Sống đời sống rộng mở,
Không bị ai ở đời,
Có thể chi phối được.

798. Na kappayanti na purekkharonti
accantasuddhīti na te vadanti,
adānaganthaṃ gathitaṃ visajja
āsaṃ na kubbanti kuhiñci loke.

798. Các vị ấy không sắp đặt, không chú trọng, không nói về ‘sự trong sạch tột cùng.’ Sau khi tháo gỡ sự trói buộc vào chấp thủ đă bị buộc trói, các vị không tạo lập sự mong mỏi ở bất cứ đâu ở thế gian.

794. Họ không tác thành ǵ,
Họ không đề cao ǵ,
Họ không có nói lên,
Đây tối thắng thanh tịnh,
Không dính líu tham đắm,
Mọi chấp trước triền phược,
Họ không tạo tham vọng,
Bất cứ đâu ở đời.

799. Sīmātigo brāhmaṇo tassa natthi
ñatvā va disvā va samuggahītaṃ,
na rāgarāgī na virāgaratto
tassīdha natthi paramuggahītanti.
 

799. Vị Bà-la-môn, có sự vượt quá ranh giới, đối với vị ấy không có điều ǵ được ôm giữ sau khi đă biết và sau khi đă thấy, không có sự luyến ái với ái dục, không bị luyến ái ở pháp ly ái dục; đối với vị ấy, điều tối thắng được ôm giữ là không có ở nơi đây.

795. Với vị Bà-la-môn
Đă vượt khỏi biên giới,
Sau khi biết và thấy,
Không có kiến chấp trước.
Tham ái không chi phối,
Cũng không tham, ly tham,
Vị ấy ở đời này,
Không chấp thủ ǵ khác.

 

Suddhaṭṭhakasuttaṃ niṭṭhitaṃ.

 

 

Dứt Kinh Nhóm Tám về Trong Sạch.

 

 

     

 

5. PARAMAṬṬHAKASUTTAṂ

 

 

5. KINH NHÓM TÁM VỀ TỐI THẮNG

 

5. KINH TỐI THẮNG TÁM KỆ

800. Paramanti diṭṭhīsu paribbasāno
yaduttariṃ kurute jantu loke,
hīnāti aññe tato sabbamāha
tasmā vivādāni avītivatto.

800. Trong khi sống trong các tà kiến, (nghĩ rằng) ‘(Điều này) là tối thắng,’ con người làm nổi trội điều ấy ở thế gian, rồi đă nói tất cả những điều khác là ‘thấp hèn’ so với điều ấy, v́ thế không vượt lên trên các sự tranh căi.

796. Ai thiên trú trong kiến,
Xem kiến ấy tối thắng,
Ở đời đặt kiến ấy,
Vào địa vị tối thượng.
Người ấy nói tất cả,
Người khác là hạ liệt,
Do vậy không vượt khỏi,
Sự tranh luận ở đời.

801. Yadattanī passati ānisaṃsaṃ
diṭṭhe sute sīlavate mute vā,
tadeva so tattha samuggahāya
nihīnato passati sabbamaññaṃ.

801. Người nh́n thấy cái ǵ đó ở điều đă được thấy, ở điều đă được nghe, ở giới và phận sự, hoặc ở điều đă được cảm giác là sự lợi ích cho bản thân, sau khi ôm giữ chính cái (tà kiến) ấy về điều ấy, người ấy nh́n thấy mọi cái khác đều là hèn kém.

797. Khi nó thấy lợi ích,
Đến với tự ngă nó,
Đối với vật thấy nghe,
Giới đức hay thọ tưởng;
Vị ấy ở tại đấy,
Liền chấp trước nắm giữ,
Nó thấy mọi người khác,
Là hạ liệt thấp kém.

802. Taṃ vāpi ganthaṃ kusalā vadanti
yaṃ nissito passati hīnamaññaṃ,
tasmā hi diṭṭhaṃ va sutaṃ mutaṃ vā
sīlabbataṃ bhikkhu na nissayeyya.

802. Hơn nữa, các bậc thiện xảo gọi điều ấy là sự trói buộc, người bị nương tựa vào điều ấy nh́n thấy cái khác là thấp hèn. Chính v́ thế, vị tỳ khưu không nên nương tựa vào điều đă được thấy, điều đă được nghe, điều đă được cảm giác, hoặc vào giới và phận sự.

798. Người y chỉ kiến ấy,
Thấy người khác hạ liệt,
Bậc thiện nói như vậy,
Đấy là sự trói buộc;
Do vậy đối thấy nghe,
Thọ, tưởng hay giới cấm,
Bậc Tỷ-kheo không có
Y chỉ, nương tựa vào.

803. Diṭṭhimpi lokasmiṃ na kappayeyya
ñāṇena vā sīlavatena vāpi,
samoti attānamanūpaneyya
hīno na maññetha visesi vāpi.
 

803. Cũng không nên h́nh thành quan điểm (nào nữa) ở thế gian dựa vào trí (chứng đắc) hoặc dựa vào giới và phận sự. Không nên tự nhủ bản thân là ‘ngang bằng,’ không nên nghĩ ḿnh là thấp hèn hoặc là có sự đặc biệt.

799. Chớ có tác thành ra
Tri kiến ở trên đời,
Từ ở nơi chánh trí,
Hay từ nơi giới đức,
Không bận tâm so sánh,
Tự ngă bằng người khác,
Không có suy nghĩ đến,
Đây "liệt " hay đây "thắng".

804. Attaṃ pahāya anupādiyāno
ñāṇepi so nissayaṃ no karoti,
sa ve viyattesu na vaggasārī
diṭṭhimpi so na pacceti kiñci.

804. Sau khi dứt bỏ điều đă được chấp giữ, không c̣n chấp thủ, vị ấy không tạo lập sự nương tựa dầu là ở trí. Quả vậy, giữa những người đă bị phân ly, vị ấy không theo phe nhóm, vị ấy không quay trở lại bất cứ tà kiến nào nữa.

800. Đoạn tận, từ bỏ ngă,
Không chấp thủ sự ǵ,
Không tác thành, dựng nên,
Nương tựa ở nơi trí,
Chân thật giữa tranh chấp
Không theo phe phái nào,
Vị ấy không đi theo
Một loại tri kiến nào.

805. Yassūbhayante paṇidhīdha natthi
bhavābhavāya idha vā huraṃ vā,
nivesanā tassa na santi keci
dhammesu niccheyya samuggahītaṃ.

805. Đối với vị nào, ở đây, không có ước vọng về cả hai thái cực, về hữu và phi hữu, về đời này hay đời sau, đối với vị ấy, không có bất cứ các sự chấp chặt nào sau khi đă suy xét điều đă được ôm giữ trong số các pháp (tà kiến).

801. Với ai, hay cực đoan,
Không có hướng nguyện ǵ,
Với hữu và phi hữu,
Hay đời này đời sau,
Vị ấy không an trú,
Tại một trú xứ nào,
Từ bỏ mọi chấp thủ,
Đối với tất cả pháp.

806. Tassīdha diṭṭhe va sute mute vā
pakappitā natthi aṇūpi saññā,
taṃ brāhmaṇaṃ diṭṭhimanādiyānaṃ
kenīdha lokasmiṃ vikappayeyya.

806. Sự nhận thức được xếp đặt liên quan đến điều đă được thấy, đă được nghe, hoặc đă được cảm giác ở nơi đây, dầu là nhỏ nhoi, cũng không có đối với vị ấy; vị Bà-la-môn ấy không chấp thủ tà kiến, ở thế gian này đây với cái ǵ có thể chi phối được vị ấy?

802. Đối vị ấy ở đây,
Những ǵ được thấy nghe,
Được cảm thọ tưởng đến,
Chút suy tưởng cũng không;
Vị Bà-la-môn ấy
Không chấp thủ tri kiến,
Không ai ở đời này
Có thể chi phối được.

807. Na kappyanti na purekkharonti
dhammāpi tesaṃ na paṭicchitāse,
na brāhmaṇo sīlavatena neyyo
pāraṃgato na pacceti tādīti.
 

807. (Các bậc A-la-hán) không sắp đặt, không chú trọng, luôn cả các pháp (tà kiến), đối với các vị ấy, đều không được chấp nhận. Vị Bà-la- môn không bị dẫn dắt đi bởi giới và phận sự, là bậc tự tại, đă đi đến bờ kia, không quay trở lại.

803. Họ không tác thành ǵ,
Họ không đề cao ǵ,
Các pháp không được họ,
Chấp trước nắm giữ ǵ
Không một Phạm chí nào,
Bị giới cấm dắt dẫn,
Đi đến bờ bên kia,
Vị ấy không trở lui.

 

Paramaṭṭhakasuttaṃ niṭṭhitaṃ. 

 

 

Kinh Nhóm Tám về Tối Thắng. 

 
     

 

6. JARĀSUTTAṂ

 

 

6. KINH VỀ SỰ GIÀ

 

 

6. KINH GIÀ

 

808. Appaṃ vata jīvitaṃ idaṃ
oraṃ vassasatāpi mīyati,
yo cepi aticca jīvati
atha kho so jarasāpi mīyati.

 

808. Quả thật, mạng sống này là ít ỏi, thậm chí kém hơn trăm tuổi cũng chết rồi. Nếu người nào vượt qua (hạn tuổi ấy) vẫn c̣n sống, người ấy rồi cũng chết v́ già.

804. Sinh mạng này ngắn thay,
Trong trăm năm, rồi chết,
Nếu ai sống hơn nữa,
Rồi cũng chết v́ già.

809. Socanti janā mamāyite
na hi santā niccā pariggahā,
vinābhāvaṃ santamevidaṃ
iti disvā nāgāramāvase.
 

809. Loài người sầu muộn về vật đă được chấp là của ta, bởi v́ các sự bám giữ được trường tồn là không có. Sự chia ĺa này thật sự đang hiện diện, sau khi nh́n thấy như thế th́ không nên sống đời tại gia.

805. Loài Người sầu v́ ngă,
Mọi chấp thủ vô thường,
Trống không là đời này,
Thấy vậy sống không nhà.

810. Maraṇenapi taṃ pahīyati
yaṃ puriso mamidanti maññati,
etaṃ disvāna paṇḍito
na mamattāya nametha māmako.
 

810. Cái nào mà người suy nghĩ rằng: ‘Cái này là của tôi,’ cái ấy bị dứt bỏ cũng bởi sự chết. Sau khi nh́n thấy điều này, vị sáng suốt, là người thành tín, không nên thiên về trạng thái chấp là của tôi.

806. V́ loài Người nghĩ rằng
Cái này là của tôi,
Cái ấy bị sự chết,
Làm hoại diệt hư tàn.
Biết vậy, bậc Hiền trí,
Không gọi, không hướng đến,
Cái này ngă của ta,
Cái này là của ta.

811. Supinena yathāpi saṅgataṃ
paṭibuddho puriso na passati,
evampi piyāyitaṃ janaṃ
petaṃ kālakataṃ na passati.
 

811. Cũng giống như sự việc đă được gặp gỡ qua giấc chiêm bao, khi thức giấc, người không c̣n nh́n thấy, tương tự như thế, với người được yêu mến đă từ trần, đă quá văng, th́ không nh́n thấy nữa.

807. Như những ǵ hiện lên,
Trong giấc ngủ mộng mị,
Con người khi tỉnh dậy,
Không c̣n thấy được ǵ.
Cũng vậy ở đời này,
Người được ưa, ái luyến,
Rồi sẽ chết mất đi,
Không ai c̣n thấy được.

812. Diṭṭhāpi sutāpi te janā
yesaṃ nāmamidaṃ pavuccati,
nāmamevāvasissati
akkheyyaṃ petassa jantuno.

812. Những người ấy dầu đă được thấy, dầu đă được nghe, đề cập đến họ, tên gọi này được nói ra. Chỉ mỗi tên gọi sẽ c̣n ở lại, sẽ được nhắc đến đối với người đă từ trần.

808. Các loại hạng người ấy
Được thấy và được nghe,
Nên họ được gọi tên,
Tên này hay tên khác.
Với người đă chết đi,
Chỉ được gọi tên không,
V́ chỉ có tên suông,
Sẽ được c̣n tồn tại.

813. Sokaparidevamaccharaṃ
na jahanti giddhā mamāyite,
tasmā munayo pariggahaṃ
hitvā acariṃsu khemadassino.
 

813. Những người bị thèm khát ở vật đă được chấp là của ta không buông bỏ sầu muộn, than văn, và bỏn xẻn. Do đó, các bậc hiền trí, với việc nh́n thấy sự an toàn, sau khi từ bỏ sự bám giữ, đă du hành.

809. Tham đắm cái của ta,
Họ không có từ bỏ,
Sầu khổ và than van,
Cùng xan tham keo kiết.
Do vậy bậc ẩn sĩ,
Sau khi bỏ chấp thủ,
Đă sống một đời sống,
Thấy được sự an ổn.

814. Patilīnacarassa bhikkhuno
bhajamānassa vivittamāsanaṃ,
sāmaggiyamāhu tassa taṃ
yo attānaṃ bhavane na dassaye.

814. Đối với vị tỳ khưu có hạnh sống tách ly, đang thân cận chỗ ngồi vắng vẻ, các vị đă nói rằng điều này là hợp nhất đối với vị ấy, vị ấy sẽ không thị hiện bản thân ở cảnh giới (tái sanh nào nữa).

810. Đối với vị Tỷ-kheo
Sống thanh vắng một ḿnh,
Sống tu tập tâm ư,
Hướng đến hạnh viễn ly,
Nếp sống vậy được nói,
Ḥa hợp với vị ấy,
Và không nêu tự ngă,
Trong hiện hữu của ḿnh.

815. Sabbattha munī anissito
na piyaṃ kubbati nopi appiyaṃ,
tasmiṃ paradevamaccharaṃ
paṇṇe vāri yathā na lippati.
 

815. Bậc hiền trí, không bị lệ thuộc vào tất cả các nơi, không tạo ra vật yêu mến cũng không tạo ra vật không yêu mến, than văn và bỏn xẻn không gây bẩn ở vị ấy, giống như nước không gây bẩn ở lá sen.

811. Vị ẩn sĩ không tựa,
Không y chỉ một ai,
Không làm thành thương yêu,
Không tác thành ghét bỏ.
Do vậy trong sầu than,
Trong xan tham keo kiết,
Như nước trên lá cây,
Không dính ướt làm nhơ.

816. Udabindu yathāpi pokkhare
padume vāri yathā na lippati,
evaṃ muni no palippati
yadidaṃ diṭṭhasutaṃ mutesu vā.

816. Cũng giống như giọt nước ở lá sen, giống như nước không gây bẩn ở hoa sen, tương tự như thế bậc hiền trí không vấy bẩn ở những điều đă được thấy, đă được nghe, hoặc đă được cảm giác.

812. Giống như một giọt nước,
Không dính ướt hoa sen,
Như nước trên bông sen,
Khôn dính ướt làm nhơ.
Đối với vật thấy nghe,
Được cảm thọ tưởng đến,
Cũng vậy bậc ẩn sĩ
Không dính ướt tham đắm.

817. Dhono na hi tena maññati
yadidaṃ diṭṭhasutaṃ mutesu vā,
nāññena visuddhimicchati
na hi so rajjati no virajjatī ”ti.
 

817. Thật vậy, vị đă rũ sạch không suy nghĩ theo lối ấy, tức là về những điều đă được thấy, đă được nghe, hoặc đă được cảm giác, (cũng) không ước muốn sự thanh tịnh theo cách nào khác, bởi v́ vị ấy không luyến ái, (cũng) không ĺa luyến ái.

813. Do vậy bậc tẩy sạch,
Không có suy tư đến,
Điều được thấy được nghe,
Được cảm thọ tưởng đến.
Vị ấy muốn thanh tịnh,
Không có dựa ǵ khác,
Vị ấy không tham đắm,
Cũng không có ly tham.

 

Jarāsuttaṃ niṭṭhitaṃ. 

 

 

Dứt Kinh về Sự Già. 

 
     

 

7. TISSAMETTEYYASUTTAṂ

 

 

7. KINH VỀ TISSAMETTEYYA

 

7. KINH TISSAMETTEYYA

818. Methunamanuyuttassa (iccāyasmā tisso metteyyo)
vighātaṃ brūhi mārisa,
sutvāna tava sāsanaṃ
viveke sikkhissāma se.

818. “Thưa Ngài, xin Ngài hăy nói về sự tàn hại dành cho kẻ đeo bám việc đôi lứa. Sau khi lắng nghe lời dạy của Ngài, chúng con sẽ học tập về hạnh viễn ly,” (Đại đức Tissa Metteyya đă nói thế ấy).

814. Tissa Metteyya,
Tôn giả nói như sau:
Thế Tôn hăy nói lên,
Sự tai hại của người,
Đắm say về dâm dục,
Sau khi nghe, chúng con
Sẽ học tập lời Ngài,
Lời dạy về viễn ly.

819. Methunamanuyuttassa (metteyyāti bhagavā)
mussate vāpi sāsanaṃ,
micchā ca paṭipajjati
etaṃ tasmiṃ anāriyaṃ.
 

819. (Đức Thế Tôn đă nói như vầy: “Này Metteyya,) đối với kẻ đeo bám việc đôi lứa, lời giảng dạy thậm chí c̣n bị quên lăng và là kẻ thực hành sai trái; điều này ở kẻ ấy là không thánh thiện.

815. Thế Tôn nói như sau:
Hỡi này Metteyya,
Ai đắm say dâm dục,
Quên mất lời giảng dạy,
Rơi vào đường tà vạy,
Nếp sống ấy không thánh.

820. Eko pubbe caritvāna
methunaṃ yo nisevati,
yānaṃ bhantaṃ va taṃ loke
hīnamāhu puthujjanaṃ.

820. Sau khi sống một ḿnh trước đây, kẻ nào (giờ) gần gũi việc đôi lứa, kẻ ấy ở thế gian, tựa như chiếc xe bị chao đảo, người ta đă gọi là kẻ phàm phu thấp hèn.

816. Ai trước sống một ḿnh,
Nay rơi vào dâm dục,
Như xe bị nghiêng ngă,
Người ấy ở trong đời,
Được gọi là phàm phu,
Được gọi là hạ liệt.

821. Yaso kittiñca yā pubbe
hāyate vāpi tassa sā,
etampi disvā sikkhetha
methunaṃ vippahātave.

821. Danh vọng và tiếng tăm nào (đă có) trước đây, điều ấy của kẻ ấy (giờ) hiển nhiên cũng bị giảm thiểu. Sau khi nh́n thấy điều này, nên học tập nhằm dứt bỏ hẳn việc đôi lứa.

817. Tiếng tốt có từ trước,
Người ấy bị tổn giảm,
Thấy vậy hăy học tập,
Từ bỏ sự dâm dục.

822. Saṃkappehi pareto so
kapaṇo viya jhāyati,
sutvā paresaṃ nigghosaṃ
maṅku hoti tathāvidho.
 

822. Kẻ ấy, bị chi phối bởi các suy tư, trầm tư như là kẻ khốn khổ. Sau khi lắng nghe lời quở trách của những người khác, kẻ thuộc hạng như thế trở nên tủi hổ.

818. Chi phối bởi suy tư,
Trầm ngâm như kẻ nghèo,
Nghe tiếng trách người khác,
Như kẻ bị thất vọng.

823. Atha satthāni kurute
paravādehi codito,
esa khavassa mahāgedho
mosavajjaṃ pagāhati.
 

823. Rồi (kẻ ấy) tạo ra các vũ khí (các uế nghiệp), bị khiển trách bởi các lời nói của những người khác. Điều ấy, đối với kẻ này, quả là sự vướng mắc lớn lao; (kẻ ấy) lún sâu vào sự giả dối.

819. Bị người khác buộc tội,
Nó làm các đao kiếm,
Trở thành người tham lớn,
Chấp thủ điều vọng ngôn.

824. Paṇḍitoti samaññāto
ekacariyaṃ adhiṭṭhito,
athāpi methune yutto
mando va parikissati.

824. Đă được công nhận là ‘bậc sáng suốt,’ đă phát nguyện hạnh sống một ḿnh, rồi cũng gắn bó vào việc đôi lứa, tựa như gă ngu khờ (kẻ ấy) bị sầu muộn.

820. Được danh là Hiền trí,
An trú sống một ḿnh,
Nếu rơi vào dâm dục,
Sầu năo như kẻ ngu.

825. Etamādīnavaṃ ñatvā
muni pubbāpare idha,
ekacariyaṃ daḷhaṃ kayirā
na nisevetha methunaṃ.
 

825. Sau khi biết được điều bất lợi này, ở đây bậc hiền trí trước đó và sau này, nên thực hành vững chải hạnh sống một ḿnh, không nên gần gũi việc đôi lứa.

821. Thấy nguy hại như vậy,
Bậc ẩn sĩ trước sau,
Kiên tŕ sống cô độc,
Không thực hành dâm dục.

826. Vivekaṃ yeva sikkhetha
etadariyānamuttamaṃ,
na tena seṭṭho maññetha
sa ve nibbānasantike.

826. Nên học tập mỗi hạnh viễn ly, điều này đối với các bậc Thánh là tối thượng, với điều ấy không nên nghĩ (bản thân) là hạng nhất; vị ấy quả nhiên ở gần Niết Bàn.

822. Hăy học tập viễn ly,
Đây hạnh thánh tối thượng,
Không nghĩ ḿnh tối thắng,
Dầu gần được Niết-bàn.

827. Rittassa munino carato
kāmesu anapekkhino,
oghatiṇṇassa pihayanti
kāmesu gathitā pajāti.
 

827. Đối với bậc hiền trí đang sống, trống vắng (mọi ô nhiễm), không có sự trông mong các dục, đă vượt qua (bốn) ḍng nước lũ, người đời, bị buộc trói ở các dục, mong cầu (được như vị ấy)."

823. Sở hành bậc ẩn sĩ,
Trống không, không mong dục,
Bậc vượt khỏi bộc lưu,
Được các người ở đời,
Bị tham dục trói buộc,
Ganh tị và thèm muốn.

 

Tissameteyyasuttaṃ niṭṭhitaṃ. 

 

 

Dứt Kinh về Tissametteyya. 

 
     

 

8. PASŪRASUTTAṂ

 

 

8. KINH VỀ PASŪRA

 

8. KINH PASŪRA

828. Idheva suddhi iti vādiyanti
nāññesu dhammesu visuddhimāhu,
yaṃ nissitā tattha subhaṃ vadānā
paccekasaccesu puthū niviṭṭhā.

828. Họ (những kẻ theo tà kiến) nói rằng: ‘Chính ở đây là trong sạch.’ Họ đă nói sự thanh tịnh không có ở các giáo pháp khác. Điều mà họ nương tựa, họ nói điều ấy là tốt đẹp. Phần đông đă đi theo những chân lư riêng biệt.

 

824. Ở đây chính thanh tịnh,
Họ thuyết giảng như vậy,
Họ nói trong pháp khác,
Không có sự thanh tịnh,
Họ nói chỗ y chỉ,
Ở đây là thanh tịnh,
Họ rộng răi an trú,
Trong sự thật của ḿnh.

829. Te vādakāmā parisaṃ vigayha
bālaṃ dahantī mithu aññamaññaṃ,
vadanti te aññasitā kathojjaṃ
pasaṃsakāmā kusalā vadānā.
 

829. Mong muốn tranh luận, những kẻ ấy sau khi chen vào hội chúng, từng đôi, chúng đánh giá lẫn nhau là ngu dốt. Dựa dẫm vào người khác, chúng nói lời bàn căi, mong muốn lời ca ngợi, chúng nói (học thuyết) là tốt lành.

825. Những ai muốn tranh luận,
Sau khi vào hội chúng,
Họ công kích lẫn nhau,
Họ gọi nhau là ngu,
Họ đi đến người khác,
Và khởi lên tranh luận,
Họ muốn được tán thán,
Họ gọi chúng thiện xảo.

830. Yutto kathāyaṃ parisāya majjhe
pasaṃsamicchaṃ vinighāti hoti,
apāhatasmiṃ pana maṅku hoti
nindāya so kuppati randhamesī.

830. Kẻ gắn bó với sự phát biểu ở giữa hội chúng, trong khi ước muốn lời ca ngợi, th́ trở nên lo lắng. Hơn nữa, khi bị bác bỏ th́ trở nên xấu hổ, v́ sự chê bai kẻ ấy bị bực tức, có sự t́m kiếm điểm thiếu sót.

826. Ham mê thích tranh luận,
Ở giữa các hội chúng,
Ước muốn được tán thán,
Họ sợ hăi thất bại,
Khi bị đánh thất bại,
Họ trở thành rủn chí,
Bị chê, họ nổi giận,
Kẻ t́m lỗi người khác.

831. Yamassa vādaṃ parihīnamāhu
apāsadaṃ pañhavīmaṃsakā se,
paridevati socati hīnavādo
upaccagā manti anutthunāti.

831. Họ đă nói rằng cuộc tranh luận của người này là hèn mọn, những vị xem xét câu hỏi đă bác bỏ. Người có cuộc tranh luận thấp hèn than văn, sầu muộn, kể lể rằng: ‘Kẻ ấy đă vượt hẳn tôi.’

827. Khi các nhà thẩm sát,
Phê b́nh các câu hỏi,
Tuyên bố cuộc tranh luận,
Đi đến chỗ thất bại,
Kẻ nói lời hạ liệt,
Than khóc và sầu năo,
Họ rên rỉ than van,
Nó đă đánh bại ta.

832. Ete vivādā samaṇesu jātā
etesu ugaghāti nighāti hoti,
evampi disvā virame kathojjaṃ
na haññadatthatthi pasaṃsalābhā.

832. Những sự tranh căi này đă sanh khởi giữa các vị Sa-môn. Ở những việc này có sự hưng phấn và chán nản. Sau khi nh́n thấy luôn cả điều này, nên xa lánh sự bàn căi, bởi v́ không có lợi ích nào khác ngoài việc đạt được lời ca ngợi.

828. Giữa các vị Sa-môn,
Các tranh luận khởi lên,
Trong các tranh luận này,
Có chiến thắng chiến bại.
Do thấy rơ như vậy,
Không vui thích tranh luận
Dầu có được tán thán,
Cũng không lợi ích ǵ.

833. Pasaṃsito vā pana tattha hoti
akkhāya vādaṃ parisāya majjhe,
so taṃ hasatī unnamaticca tena
pappuyya tamatthaṃ yathāmano ahū.

833. Hoặc hơn nữa, kẻ được ca ngợi ở nơi ấy, sau khi đă nói lên lời tranh luận ở giữa hội chúng, kẻ ấy cười về điều ấy, hănh diện v́ điều ấy, sau khi đă đạt được mục đích ấy theo như ư định đă có.

829. Hay trong tranh luận này,
Nó được lời tán thán,
Sau khi đă nói lên,
Chính giữa các hội chúng.
Do vậy nó vui cười,
Nó tự hào kiêu hănh,
Đạt được mục đích ấy,
Như tâm ư nói lên.

834. Yā unnatī sāssa vighātabhūmi
mānātimānaṃ vadate paneso,
etampi disvā na vivādayetha
na hi tena suddhiṃ kusalā vadanti.
 

834. Cái nào là sự kiêu hănh, cái ấy đối với kẻ ấy là vùng đất tiêu diệt. Hơn nữa, kẻ ấy nói một cách ngă mạn và ngă mạn thái quá. Sau khi nh́n thấy luôn cả điều này, không nên tranh căi, các bậc thiện xảo nói sự trong sạch hiển nhiên là không do việc ấy.

830. Cái làm nó cống cao,
Cũng là đất hại nó,
Tuy vậy nó vẫn nói,
Lời cống cao kiêu mạn,
Khi thấy được như vậy,
Hăy đừng có tranh luận,
Bậc thiện xảo nói rằng,
Thanh tịnh không do vậy.

835. Sūro yathā rājakhādāya puṭṭho
abhigajjameti paṭisūramicchaṃ,
yeneva so tena palehi sūra
pubbeva natthi yadidaṃ yudhāya.

835. Giống như vị dũng sĩ, được chu cấp với thức ăn của nhà vua, đi đến, la hét, ước muốn có dũng sĩ đối địch. Này dũng sĩ, ngươi hăy đi đến nơi kẻ (dũng sĩ đối địch) ấy, quả thật trước đây đă không c̣n (ô nhiễm) ǵ để mà chiến đấu.

831. Cũng như bậc anh hùng,
Nuôi dưỡng đồ ăn vua,
La hét muốn t́m cầu,
Một địch thủ anh hùng,
Ôi anh hùng hăy tránh,
Chỗ nào có vị ấy,
Từ trước đă không có,
Sự đấu tranh như vậy.

836. Ye diṭṭhimuggayha vivādayanti
idameva saccanti ca vādayanti,
te tvaṃ vadassu na hi tedha atthi
vādamhi jāte paṭisenikattā.

836. Những kẻ nào sau khi học hỏi tà kiến, rồi tranh căi và nói rằng: ‘Chỉ mỗi điều này là sự thật.’ Ngươi hăy nói với những kẻ ấy rằng: ‘Khi cuộc nói chuyện sanh khởi, người đối kháng với ngươi ở đây thật sự không có.’

832. Những ai chấp tri kiến,
Tranh luận về kiến ấy,
Tuyên bố thuyết giảng rằng:
Chỉ đây là sự thật,
Ông hăy nói với họ,
Ở đây không tranh luận,
Ông hăy nói thêm rằng
Ở đây không địch thủ.

837. Visenikatvā pana ye caranti
diṭṭhīhi diṭṭhiṃ avirujjhamānā,
tesu tvaṃ kiṃ labhetho pasūra
yesīdha natthi paramuggahītaṃ.
 

837. Hơn nữa, sau khi tiêu diệt đạo binh (ô nhiễm), những vị nào sống không chống đối quan điểm (này) bằng các quan điểm (khác), này Pasūra, ngươi có thể đạt được ǵ ở những vị ấy, là những vị ở đây không có điều ǵ được ôm giữ là tối thắng.

833. Cuộc chiến đấu đă tàn,
Những ai sống như vậy,
Không có sự va chạm,
Giữa kiến này kiến khác,
Hỡi này Pasùra!
Ông được ǵ nơi họ,
Với người không chấp thủ,
Một sự ǵ tối thượng?

838. Atha tvaṃ pavitakkamāgamā
manasā diṭṭhigatāni cintayanto,
dhonena yugaṃ samāgamā
na hi tvaṃ sakkhasi sampayātaveti.

Giờ ngươi đă đi đến sự suy xét trong khi dùng ư suy nghĩ về các tà kiến. Ngươi đă gặp gỡ sánh đôi với vị đă rũ sạch, ngươi quả không có khả năng để đi cùng.

834. Vậy Ông hăy đi đến,
Suy tư ngẫm nghĩ kỹ,
Với tâm ư suy tư,
Trên những loại tri kiến,
Hăy hoà đồng chung hợp,
Với bậc đă tẩy sạch,
Ông không có thể không
Cùng vị ấy tiến bước.

 

Pasūrasuttaṃ niṭṭhitaṃ. 
 

 

Dứt Kinh về Pasūra. 

 

 

     

<Trang Trước>

<Mục Lục><Đầu Trang>

<Trang Kế>