|
XV. VĪSATINIPĀTO - NHÓM HAI MƯƠI KỆ NGÔN
(tiếp theo)
|
|
Nguồn: Tam Tạng
Pāli - Sinhala thuộc Buddha Jayanti Tripitaka Series (BJTS) |
Lời tiếng Việt:
Tỳ khưu Indacanda |
|
Trang 42: |
Trang 43:
|
|
8.
BHALLĀṬIYAJĀTAKAṂ
|
8. BỔN SANH VUA
BHALLĀṬIYA |
504. Chuyện Đại
vương Bhallàtiya
(Tiền thân
Bhallàtiya) |
|
2514. Bhallāṭiyo nāma ahosi rājā
raṭṭhaṃ pahāya migavaṃ acāri so,
agamā girivaraṃ gandhamādanaṃ
sampupphitaṃ kimpurisānuciṇṇaṃ.
|
2514. Xưa có vị vua tên là
Bhallāṭiya. Vị vua ấy đă bỏ bê xứ sở đi săn thú. Đức vua đă đi
đến ngọn núi cao quư Gandhamādana được trổ đầy hoa, được lui tới
bởi loài nhân điểu. |
1. Ngày xưa có đại đế Bhal-là,
Ngài vẫn đi săn bắn thật xa,
Trèo tận Hương Sơn và chợt thấy
Đầy hoa nở rộ với yêu ma. |
|
2515. Sālūra saṅghañca
nisedhayitvā
dhanuṃ kalāpañca so nikkhipitvā,
upāgami vacanaṃ vattukāmo
yatthaṭṭhitā kimpurisā ahesuṃ.
|
2515. Và sau khi ngăn lại bầy chó
săn, đức vua đă đặt cây cung và bó tên xuống. Với ư định thốt
lên lời thăm hỏi, đức vua đă đi đến gần nơi có hai nhân điểu
đang đứng. |
2. Ngài truyền bầy chó thảy nằm
yên,
Đặt các cung tên xuống đất liền,
Tiến bước để đưa lời ướm hỏi,
Chốn kia vừa thấy cặp thần tiên: |
|
2516. Himaccaye hemavatāya tīre
kimidhaṭṭhitā mantayavho abhiṇhaṃ,
pucchāmi vo mānusadehavaṇṇe
kathaṃ vo jānanti manussaloke.
|
2516. “Khi mùa đông đă qua đi, có
phải hai ngươi thường đứng tâm sự ở đây, bên bờ sông Hemavatā?
Ta hỏi hai ngươi, những kẻ có cơ thể và dáng vóc của con người,
ở thế giới nhân loại, người ta nhận biết hai ngươi như thế nào?” |
3. "Đông đă qua, sao lại trở về
Hàn huyên tâm sự cạnh sơn khê?
Các ngươi sao giống phàm nhân quá,
Người gọi loài ǵ, nói trẫm nghe". |
|
2617. Mallaṃ giriṃ paṇḍarakaṃ
tikūṭaṃ
sītodiyā anuvicarāma najjo,
migā manusasāva nibhāsavaṇṇā
jānanti no kimpurisāti ludda.
|
2517. “Thưa thợ săn, chúng tôi đi
du ngoạn đến núi Malla, đến các con sông Paṇḍaraka và Tikūṭa có
nước mát lạnh. Chúng tôi là loài thú, có bề ngoài và dáng vóc
tựa như con người; người ta nhận biết chúng tôi là ‘loài nhân
điểu.’” |
4. Tam đỉnh, Hoàng Sơn, núi
Mă-la,
Chúng thần men suối mát, băng qua,
Thú rừng cứ tưởng là người thật,
Song bọn đi săn gọi quỷ ma. |
|
2518. Sukiccharūpaṃ paridevayavho
āliṅgito cāsi piyo piyāya,
pucchāmi vo mānusadehavaṇṇe
kimidha vane rodatha appatītā.
|
2518. “Là người yêu được người
yêu ôm ấp, mà hai ngươi than van có vẻ vô cùng khổ sở. Ta hỏi
hai ngươi, những kẻ có cơ thể và dáng vóc của loài người, việc
ǵ hai ngươi
lại ủ rũ,
khóc lóc ở đây, trong khu rừng?
|
5. Các ngươi âu yếm tựa t́nh
nhân,
Song lại khóc than thật năo nùng,
Tiên chúng giống như người thế tục,
Cớ sao than khóc, hăy phân trần! |
|
Trang 44: |
Trang 45:
|
|
2519. Sukiccharūpaṃ paridevayavho
āliṅgito cāsi piyo piyāya,
pucchāmi vo mānusadehavaṇṇe
kimidha vane vilapatha appatītā.
|
2519. Là người yêu được người yêu
ôm ấp, mà hai ngươi than van có vẻ vô cùng khổ sở. Ta hỏi hai
ngươi, những kẻ có cơ thể và dáng vóc của loài người, việc ǵ
hai ngươi
lại ủ rũ,
kể lể ở đây, trong khu rừng? |
6. Các ngươi mơn trớn tựa uyên
ương,
Song khóc đầy ai oán thảm thương,
Đôi lứa khác nào người thế tục,
Sao sầu đau thế? Nói cho tường! |
|
2520. Sukiccharūpaṃ paridevayavho
āliṅgito cāsi piyo piyāya,
pucchāmi vo mānusadehavaṇṇe
kimidha vane socatha appatītā.
|
2520. Là người yêu được người yêu
ôm ấp, mà hai ngươi than van có vẻ vô cùng khổ sở. Ta hỏi hai
ngươi, những kẻ có cơ thể và dáng vóc của loài người, việc ǵ
hai ngươi
lại ủ rũ,
sầu muộn ở đây, trong khu rừng?” |
7. Như các t́nh nhân, cứ vuốt ve,
Song lời than khóc thật lê thê,
Các ngươi trông giống người trần tục,
Sao quá bi ai? Nói trẫm nghe! |
|
2521. Mayamekarattiṃ vippavasimha
ludda
akāmakā aññamaññaṃ sarantā,
tamekarattiṃ anutappamānā
socāma sā ratti punaṃ na hessati.
|
2521. “Thưa thợ săn, chúng tôi đă
sống xa nhau một đêm một cách miễn cưỡng. Trong khi nhớ nhung
lẫn nhau, trong khi hối tiếc một đêm ấy, chúng tôi sầu muộn (ước
rằng): ‘Đêm ấy sẽ không xảy ra lần nữa.’” |
8. Chàng, thiếp một đêm cách biệt
nhau,
Không t́nh ân ái, nặng u sầu,
Tương tư, song chẳng bao giờ có
Đêm ấy trở về được nữa đâu. |
|
2522. Yamekarattiṃ anutappathetaṃ
dhanaṃ va naṭṭhaṃ pitaraṃ va petaṃ,
pucchāmi vo mānusadehavaṇṇe
kathaṃ vināvāsamakappayittha.
|
2522. “Hai ngươi hối tiếc một đêm
ấy tựa như hai ngươi tiếc nuối tài sản bị mất mát, hay tiếc nuối
người cha đă qua đời. Ta hỏi hai ngươi, những kẻ có cơ thể và
dáng vóc của loài người, như thế nào hai ngươi đă phải chịu cuộc
sống xa cách?” |
9. Sao nằm đêm ấy quá cô đơn,
Đă khiến ngươi rền rĩ tiếc thương?
Đôi trẻ giống như người thế tục
Mất tiền, hay lăo phụ từ trần? |
|
2523. Yayimaṃ nadiṃ passasi
sīghasotaṃ
nānādumacchadanaṃ selakūṭaṃ,
tamme piyo uttari vassakāle
mamañca maññaṃ anubandhatīti.
|
2523. “Ngài hăy nh́n xem con sông
này, có ḍng nước chảy xiết giữa hai bờ đá, có sự che khuất bởi
nhiều loại cây cối. Vào lúc trời mưa, người yêu của thiếp đă
vượt qua con sông ấy, trong lúc nghĩ về thiếp rằng: ‘Nàng ấy
bước theo sau.’ |
10. Đằng kia, bóng mát, suối tuôn
ra,
Giữa đá, rồi cơn băo thổi qua,
V́ quá lo âu t́m kiếm thiếp,
Nên t́nh quân đă lội qua bờ. |
|
2524. Ahañca aṅkolakaṃ ocināmi
atimuttakaṃ sattaliyothikañca,
piyo ca me hohiti mālabhārī
ahañca naṃ mālinī ajjhupessaṃ.
|
2524. C̣n thiếp bận thu hái các
loại hoa aṅkolaka này, hoa
atimuttaka, hoa
sattali, và hoa
yothika, (nghĩ rằng): ‘Người
yêu của ta sẽ đeo tràng hoa, và ta cũng sẽ đeo tràng hoa rồi đi
đến bên chàng.’ |
11. Trong lúc đôi chân thiếp rộn
ràng,
Thiếp đi t́m cỏ nội hoa ngàn,
Làm ṿng đeo, tặng chàng yêu dấu
Và thiếp, vừa khi gặp lại chàng. |
|
2525. Ahañcidaṃ kuravakaṃ ocināmi
uddālakā pāṭalisinduvārakā,
piyo ca me hohiti mālabhārī
ahañca naṃ mālinī ajjhupessaṃ.
|
2525. Rồi thiếp thu hái các loại
hoa kuravaka, hoa
uddālakā, hoa
pāṭali, hoa
sinduvāraka, (nghĩ rằng):
‘Người yêu của ta sẽ đeo tràng hoa, và ta cũng sẽ đeo tràng hoa
rồi đi đến bên chàng.’ |
12. Kết bó chuông vàng, đồng thảo
xanh,
Thủy tiên trắng mát đượm sương lành
Cho chàng yêu cả ṿng hoa cổ
Cùng thiếp, vừa khi gặp bạn t́nh. |
|
2526. Ahañca sālassa
supupphitassa
oceyya pupphāni karomi mālaṃ,
piyo ca me hohiti mālabhārī
ahañca naṃ mālinī ajjhupessaṃ.
|
2526. Và sau khi thu hái các bông
hoa của cây sāla khéo được nở
rộ, thiếp làm tràng hoa, (nghĩ rằng): ‘Người yêu của ta sẽ đeo
tràng hoa, và ta cũng sẽ đeo tràng hoa rồi đi đến bên chàng.’
|
13. Rồi sau thiếp hái bó hoa hồng
Là thứ hoa xinh đẹp nhất vùng,
Để kết liền cho chàng với thiếp
Ṿng hoa đeo cổ, lúc tương phùng. |
|
Trang 46: |
Trang 47:
|
|
2527. Ahañca sālassa
supupphitassa
oceyya pupphāni karomi bhāraṃ,
idañca no hohiti santharatthaṃ
yatthajjamaṃ viharissāmu rattiṃ.
|
2527. Và sau khi thu hái các bông
hoa của cây sāla khéo được nở
rộ, thiếp làm thành đống (nghĩ rằng): ‘Cái này sẽ dùng làm tấm
trải cho chúng ta, là nơi mà hôm nay chúng ta sẽ sống qua đêm
này.’ |
14. Kế hoa là lá, thiếp đi t́m
Về trải đầy trên mặt đất mềm
Nơi suốt đêm trường chung gối mộng,
Uyên ương thiêm thiếp giấc nồng êm. |
|
2528. Ahaṃ ca kho agaḷuṃ
candanañca
silāya piṃsāmi pamattarūpā,
piyo ca me hohiti rositaṅgo
ahañca na rositā ajjhupessaṃ.
|
2528. Và thiếp nghiền quế và trầm
hương ở tảng đá cho đến khi nát vụn, (nghĩ rằng): ‘Người yêu của
ta sẽ có thân thể được tẩm hương, và ta cũng sẽ được tẩm hương
rồi đi đến bên chàng.’ |
15. Gỗ quế, trầm hương kế tiếp
liền
Đặt trên ḥn đá, thiếp đâm nghiền,
Làm hương tắm khắp chàng yêu dấu
Và thiếp, mùi hương cực diệu huyền! |
|
2529. Athāgamā salilaṃ sīghasotaṃ
nudaṃ sāle salaḷe kaṇṇikāre,
apūratha tena muhuttakena
sāyaṃ nadī āsi mayā suduttarā.
|
2529. Sau đó, thiếp đă đi đến con
sông có ḍng nước chảy xiết, mang theo các loại bông hoa
sāla, hoa
salaḷa, hoa
kaṇṇikāra. Trong khoảnh khắc
ấy, con sông này đă tràn đầy; nó đă trở nên vô cùng khó vượt qua
đối với thiếp. |
16. Đứng bên bờ suối chảy tuôn
ḍng,
Thiếp hái hoa sen măi đến cùng:
Chiều xuống, suối kia tràn khắp chốn,
Muốn sang bờ nọ, hết chờ mong! |
|
2530. Ubhosu tīresu mayaṃ tadā
ṭhitā
sampassantā ubhayo aññamaññaṃ,
sakimpi rodāma sakiṃ hasāma
kicchena no agamā saṃvarī sā.
|
2530. Khi ấy, cả hai chúng tôi
đứng ở hai bên bờ sông, người này nh́n người kia. Thậm chí,
chúng tôi đă cùng khóc, chúng tôi đă cùng cười. Đối với chúng
tôi, đêm ấy đă qua đi một cách khó khăn. |
17. Đành đứng cả hai ở mỗi bờ,
Nh́n nhau tha thiết, ngóng ngang qua,
Ôi, bao tiếng khóc cười đôi ngả,
Đêm ấy cùng đau đớn xót xa! |
|
2531. Pāto ca kho uggate
sūriyamhi
catukkaṃ nadiṃ uttariyāna ludda,
āliṅgiyā aññamaññaṃ mayaṃ ubho
sakimpi rodāma sakiṃ hasāma.
|
2531. Rồi vào buổi sáng, khi mặt
trời đă mọc lên, sau khi vượt qua con sông cạn khô, thưa thợ
săn, cả hai chúng tôi đă ôm ấp lẫn nhau. Thậm chí, chúng tôi đă
cùng khóc, chúng tôi đă cùng cười. |
18. Sáng lại, vừng đông đă mọc
cao,
Khi nh́n con suối cạn khô mau,
Thiếp, chàng vội bước, ôm nhau chặt,
Lập tức cùng cười, khóc với nhau! |
|
2532. Tīhūnakaṃ satta satāni
ludda
yamidha mayaṃ vippavasimha pubbe,
vāsekimaṃ jīvitaṃ bhūmipāla
konīdha kantāya vinā vaseyya.
|
2532. Thưa thợ săn, thiếu ba năm
nữa là đủ bảy trăm, ở nơi này, trước đây chúng tôi đă sống xa
nhau. Tâu
đấng hộ
quốc, vậy người nào ở nơi đây có thể sống cuộc sống
này thiếu vắng người vợ một năm?” |
19. Gần bảy trăm năm chỉ thiếu
ba,
Từ khi chàng, thiếp phải chia xa,
Tim yêu tan nát sầu ly biệt,
Dằng dặc tưởng chừng trọn kiếp qua! |
|
2533. Āyuñca vo kīvatako nu samma
sacepi jānātha vadetha āyuṃ,
anussavā vaddhato āgamā vā
akkhātha me taṃ avikampamānā.
|
2533. “Này các bạn, vậy tuổi thọ
của các bạn là bao nhiêu? Nếu các bạn biết, xin các bạn hăy nói
về tuổi thọ (của các bạn) theo truyền thuyết, hay do sự truyền
thừa từ bậc trưởng thượng. Xin các bạn hăy trả lời cho trẫm điều
ấy, không phải run sợ.” |
20. Đời người kỳ hạn đến bao giờ?
Nếu chuyện này truyền lại thuở xưa,
Hoặc giả theo lời nhiều trưởng lăo,
Th́ đừng sợ hăi, nói cùng ta. |
|
2534. Āyuñca no vassasahassaṃ
ludda
na cantarā pāpako atthi rogo,
appañca dukkhaṃ sukhameva bhiyyo
avītarāgā vijahāma jīvitaṃ.
|
2534. “Thưa thợ săn, tuổi thọ của
chúng tôi là một ngàn năm, trong khoảng thời gian ấy không có
tai họa, không có bệnh hoạn, ít khổ đau, c̣n hạnh phúc th́ vượt
trội. Chúng tôi ĺa bỏ mạng sống, với sự luyến ái c̣n chưa vơi.” |
21. Một ngàn mùa hạ thắm, an
khương,
Chẳng chịu nhiều đau khổ đoạn trường,
Ít gặp ưu sầu, đầy cực lạc,
Suốt đời ngập hạnh phúc yêu đương! |
|
2535. Idañca sutvāna amānusānaṃ
bhallāṭiyo ittaraṃ jīvitanti,
nivattatha na migavadhaṃ acāri
adāsi dānāni abhuñji bhoge.
|
2535. Và sau khi nghe được điều
này của hai phi nhân, đức vua Bhallāṭiya (nghĩ rằng): ‘Mạng sống
là ngắn ngủi,’ rồi đă quay trở về, đă không đi săn thú, đă ban
phát các vật thí, đă thọ hưởng các của cải.
|
22. Nhờ được đôi tiên khuyến bảo
vầy,
Đại vương trở lại bước đường ngay,
Bỏ săn, cấp dưỡng người nghèo túng,
An hưởng tháng ngày lướt nhẹ bay. |
|
Trang 48: |
Trang 49: |
|
2536. Idañca sutvāna amānusānaṃ
sammodatha mā kalahaṃ akattha,
mā vo tapī attakammāparādho
yathāpi te kimpurisekarattiṃ.
|
2536. Và sau khi nghe được điều
này của hai phi nhân, các vị hăy ḥa thuận với nhau, chớ gây ra
sự căi cọ. Các vị chớ có sự hối tiếc, chớ có lỗi lầm ở hành động
của bản thân. các vị cũng chớ có giống như câu chuyện một đêm
(xa cách) của loài nhân điểu. |
23. Rút ra bài học của tiên kia,
Đừng căi nhau, mà sửa thói lề,
Kẻo các ngài sầu như bọn chúng
Suốt đời, v́ chính bởi lầm mê. |
|
2537. Idañca sutvāna amānusānaṃ
sammodatha mā vivādaṃ akattha,
mā vo tapī attakammāparādho
yathāpi te kimpurisekarattiṃ.
|
2537. Và sau khi nghe được điều
này của hai phi nhân, các vị hăy ḥa thuận với nhau, chớ gây ra
sự tranh căi. Các vị chớ có sự hối tiếc, chớ có lỗi lầm ở hành
động của bản thân. các vị cũng chớ có giống như câu chuyện một
đêm (xa cách) của loài nhân điểu.” |
24. Lấy ngay bài học tự đôi tiên,
Đừng khấu tranh, mà sửa thói quen,
Kẻo chịu đau buồn như bọn chúng
Suốt đời, v́ chính lỗi lầm riêng. |
|
2538. Vividha -adhimanā suṇomahaṃ
vacanapathaṃ tava atthasaṃhitaṃ,
muñca giraṃ nudaseva me daraṃ
samaṇa sukhāvaha jīva me ciranti.
|
2538. “Thiếp chú tâm lắng nghe
phương thức tŕnh bày của Ngài, có tính đa dạng, liên hệ đến lợi
ích. Trong khi cất lên giọng nói, Ngài đă xua đi nỗi lo lắng của
thiếp. Thưa vị Sa-môn, thưa bậc đem lại sự an lạc cho thiếp, cầu
mong Ngài sống lâu.”
|
25. Giờ đây kính bạch Thánh nhân,
Với ḷng nhu thuận phục tuân sẵn sàng,
Con nghe được các lời vàng,
Tràn đầy thiện ư, chứa chan nhân từ,
Muôn vàn phước đức Tôn Sư!
Ngài vừa khuyến nhủ, ưu tư trút liền!
Câu chuyện
504 |
|
Bhallāṭiyajātakaṃ.
*** |
Bổn sanh Vua
Bhallāṭiya. [504]
*** |
|
9.
SOMANASSAJĀTAKAṂ |
9. BỔN SANH
HOÀNG TỬ SOMANASSA
|
505. Chuyện vương
tử hoan lạc
(Tiền thân
Somanassa) |
|
2539. Ko taṃ hiṃsati heṭheti
kiṃ dummano socasi appatīto,
kassajja mātāpitaro rudantu
kvajja setu nihato pathavyā.
|
2539. “Người nào hăm hại và xúc
phạm ngài? Tại sao ngài lại có vẻ buồn bă, ủ rũ, và sầu muộn?
Hôm nay, cha mẹ của người nào phải khóc lóc? Hôm nay, người nào
bị đánh đập, phải nằm dài ở mặt đất?” |
1. Ḱa ai phá hoại hoặc khinh
chê?
Sao khổ buồn, ngài quá ủ ê?
Thương khóc mẹ cha ai đó vậy?
Đất này ai lại xuống nằm lê? |
|
2540. Tuṭṭhosmi deva tava
dassanena
cirassa passāmi taṃ bhūmipāla,
ahiṃsako reṇumanuppavissa
puttena te heṭhayitosmi deva.
|
2540. “Tâu bệ hạ, thần được vui
mừng do việc nh́n thấy bệ hạ. Tâu đấng hộ quốc, lâu nay thần
không gặp bệ hạ. Tâu bệ hạ, thần là người không hăm hại, mà
Reṇu, con trai của bệ hạ, đă đột nhập và xúc phạm thần.” |
2. Hân hoan thần bái kiến long
nhan,
Xa cách từ lâu, tấu Đại vương!
Thái tử vừa đi thăm lăo đó,
Chẳng ai khiêu khích, lại làm càn! |
|
2541. Āyantu dovārikā
khaggabaddhā,
kāsāviyā yantu antepuraṃ taṃ,
gantvāna taṃ somanassaṃ kumāraṃ
chetvāna sīsaṃ varamāharantu.
|
2541. “Các ngự lâm quân mang gươm
hăy lại đây. Các đao phủ hăy đi đến hậu cung kia. Các ngươi hăy
giết chết hoàng tử Somanassa ấy, hăy chặt đứt cái đầu cao quư
rồi mang lại.” |
3. Ô ḱa, đao phủ, hăy xem nào!
Thị giả, đưa trường kiếm lại mau!
Giết chết So-ma, hoàng thái tử!
Đem đầu cao quư đến đây giao! |
|
2542. Pesitā rājino dūtā kumāraṃ
etadabravuṃ,
issarena vitiṇṇosi vadhappattosi khattiya.
|
2542. Các sứ giả của đức vua được
phái đi đă nói điều này với vị hoàng tử: “Tâu vị Sát-đế -lỵ,
ngài đă bị chúa thượng phế bỏ, ngài đă phạm tội chết.” |
4. Sứ giả nhà vua bước vội vàng,
Đến cung hoàng tử, họ kêu ran:
"Phụ vương đă bỏ hoàng nam đó!
Điện hạ ôi, ngài phải chết oan!". |
|
2543. Sa rājaputto paridevayanto
dasaṅguliṃ añjaliṃ paggahetvā,
ahampi icchāmi janinda daṭṭhuṃ
jīvaṃ panetvā paṭidassayātha.
|
2543. Vị
hoàng tử ấy, trong lúc than khóc, đă chắp lại mười ngón tay đưa
lên (nói rằng): “Ta cũng muốn gặp vị chúa của loài người. Các
ngươi hăy dẫn ta đi trong lúc ta c̣n sống. Các ngươi hăy để ta
diện kiến phụ vương.”
|
5. Hoàng tử đứng kia cũng khóc
than,
Ṿng đôi tay lại, khẩn cầu ân:
"Xin tha mạng trẻ trong giây lát,
Đem trẻ đi nh́n mặt phụ vương?" |
|
Trang 50: |
Trang 51:
|
|
2544. Tassa taṃ vacanaṃ sutvā
rañño puttaṃ adassayuṃ,
putto ca pitaraṃ disvā dūratovajjhabhāsatha.
|
2544. Sau khi nghe lời nói ấy của
vị hoàng tử, họ đă để cho hoàng tử gặp đức vua. Và người con
trai, sau khi nh́n thấy vua cha, từ đàng xa đă thưa rằng: |
6. Nghe lời thỉnh nguyện tự nơi
chàng,
Họ dẫn hoàng nhi đến phụ hoàng,
Hoàng tử từ xa nh́n đại đế,
Chàng liền tâu vậy với nghiêm đường: |
|
2545. Āgañchuṃ dovārikā
khaggabaddhā
kāsāviyā hantu mamaṃ janinda,
akkhāhi me pucchito etamatthaṃ
aparādho konidha mamajja atthi.
|
2545. “Các ngự lâm quân mang gươm
và các đao phủ đă đi đến để giết chết con. Tâu vị chúa của loài
người, được hỏi về sự việc này, xin cha hăy nói cho con. Hôm
nay, con có lỗi lầm ǵ ở đây?” |
7. "Quân sĩ cứ mang kiếm chém
đầu,
Song nghe con trẻ trước, muôn tâu,
Xin cho con rơ, tâu Hoàng thượng,
Con đă làm nên tội lỗi nào?". |
|
2546. Sāyañca pāto udakaṃ sajāti
aggiṃ sadā paricaratappamatto,
taṃ tādisaṃ saṃyataṃ brahmacāriṃ
kasmā tuvaṃ brūsi gahapatīti.
|
2546. “Là người sáng và chiều lội
xuống nước (rửa tội), luôn luôn thờ phượng ngọn lửa, không xao
lăng, v́ sao con lại gọi vị ấy, bậc đă thu thúc, có Phạm hạnh
như thế ấy, là ‘gia chủ’?” |
8. Sáng chiều kéo nước, bậc hiền
nhân
Ngọn lửa chăm nom, chẳng chút ngừng,
Hăy trả lời ta, sao lại dám
Gọi ngài thánh thiện kẻ phàm trần? |
|
2547. Tālā ca mūlā ca phalā ca
deva
pariggahā vividhā santimassa,
te rakkhati gopayatappamatto
brāhmaṇo gahapati tena hoti.
|
2547. “Tâu phụ vương, các rau
cải, các rễ củ, và các trái cây là các vật sở hữu nhiều loại của
người này. Gă bảo vệ, ǵn giữ chúng, không xao lăng; v́ việc ấy,
vị Bà-la-môn trở thành người gia chủ.” |
9. Lăo có nhiều cây với trái đầy,
Phụ vương xem đủ sắn khoai này
Chăm nom chúng, lăo không ngừng nghỉ,
Lăo chính phàm nhân, trẻ nói ngay. |
|
2548. Saccaṃ kho etaṃ vadasi
kumāra
pariggahā vividhā santimassa,
te rakkhati gopayatappamatto
brāhmaṇo gahapati tena hoti.
|
2548. “Này hoàng tử, điều con nói
ấy quả là sự thật. Người này có các vật sở hữu nhiều loại. Gă
bảo vệ, ǵn giữ chúng, không xao lăng; v́ việc ấy, vị Bà-la-môn
trở thành người gia chủ.” |
10. Đúng là lăo có thật nhiều cây
Với các loại rau, củ trái đầy,
Chăm sóc trông nom không chút nghỉ,
Phàm nhân, quả đúng trẻ tâu bày. |
|
2549. Suṇantu mayhaṃ parisā
samāgatā
sanegamā jānapadā ca sabbe,
bālāyaṃ bālassa vaco nisamma
ahetunā ghātayate janindo.
|
2549. “Này các đồ chúng đă tụ tập
lại, cùng các thị dân, và tất cả dân chúng, các người hăy lắng
nghe ta: ‘Người này là kẻ ngu; sau khi nghe theo lời nói của kẻ
ngu, vị chúa của loài người ra lệnh giết hại không có nguyên
nhân.
|
11. Này nghe ta nói, hỡi toàn
dân,
Dân chúng thị thành lẫn dă nhân,
Chúa thượng nghe lời người xuẩn ngốc,
Khiến người vô tội phải vong thân. |
|
2550. Daḷhasmi mūle visate
virūḷhe
dunnikkhayo veḷu pasākhajāto,
vandāmi pādāni tavaṃ janinda
anujāna maṃ pabbajissāmi deva.
|
2550. Khi phần rễ được vững chắc,
đă được lan rộng, đă được lớn mạnh, cây tre đă mọc nhánh th́ khó
dời đi. Tâu vị chúa của loài người, con xin đảnh lễ các bàn chân
của người. Tâu bệ hạ, xin cha hăy cho phép con. Con sẽ xuất
gia.” |
12. Phụ vương, cây tỏa rộng hùng
cường,
Nhành trẻ, con sinh tự phụ vương,
Con cúi ḿnh đây xin phép được
Giă từ thế tục để lên đường. |
|
2551. Bhuñjassu bhoge vipulaphale
kumāra
sabbañca te issariyaṃ dadāmi,
ajjeva tvaṃ kurunaṃ hohi rājā
mā pabbaji pabbajjā hi dukkhā.
|
2551. “Này hoàng tử, con hăy
hưởng thụ các của cải có hiệu quả lớn lao, và trẫm ban cho con
toàn bộ vương quyền. Ngay hôm nay, con hăy là đức vua của xứ
Kuru. Con chớ có xuất gia, bởi v́ xuất gia là khổ.” |
13. Vương nhi, hưởng phú quư huy
hoàng,
Ngự trị Câu-lâu chiếc bệ vàng,
Đừng bỏ thế gian, gây khổ năo
Cho ḿnh, hăy nhận lễ đăng quang! |
|
2552. Kinnūdha deva tavamatthi
bhogo
pubbevahaṃ devaloke ramissaṃ,
rūpehi saddehi atho rasehi
gandhehi phassehi manoramehi.
|
2552. “Tâu bệ
hạ, vậy có cái ǵ ở nơi này là vật hưởng thụ của bệ hạ? Trước
đây, ở thế giới chư Thiên, con đă vui sướng với các sắc, với các
thinh, rồi với các vị, với các hương, với các xúc, với các pháp
làm thích ư.
|
14. Trần thế này đem lạc thú nào?
Khi xưa con đă ở trời cao,
Sắc, thanh, hương, vị và xúc cảm,
Ḷng vẫn thường yêu chuộng biết bao! |
|
Trang 52:
|
Trang 53:
|
|
2553. Bhuttā me bhogā tidivasmi
deva
parivāritā accharānaṃ gaṇena,
tuvañca bālaṃ paraneyyaṃ viditvā
na tādise rājakule vaseyyaṃ.
|
2553. Tâu bệ hạ, con đă hưởng thụ
ở cơi Trời các của cải được vây quanh bởi đoàn tiên nữ. Và sau
khi biết được quyền lực của bệ hạ có thể bị người khác lèo lái,
con không nên sống ở gia đ́nh vua chúa như thế ấy.” |
15. Con từ bỏ hết nghiệp duyên
xưa
Thiên lạc cùng thiên nữ ngọc ngà,
Với phụ vương là vua yếu kém,
Con không muốn ở nữa bây giờ. |
|
2554. Sacāhaṃ bālo
paraneyyohamasmi
ekāparādhaṃ khama putta mayhaṃ,
punāpi ce edisakaṃ bhaveyya
yathāmati somanassaṃ karohi.
|
2554. “Nếu trẫm là kẻ ngu, nếu
trẫm là có thể bị người khác lèo lái, này con trai, hăy tha thứ
cho trẫm một lần lầm lỗi. Nếu việc như thế này xảy ra lần nữa,
này Somanassa, con hăy làm theo ư nghĩ của con.” |
16. Nếu cha kém trí, hỡi hoàng
nam,
Tha thứ cha nay việc đă làm,
Giả sử cha c̣n làm việc ấy,
Cha tùy con định, chẳng kêu than. |
|
2555. Anisamma kataṃ kammaṃ
anavatthāya cintitaṃ,
bhesajjasseva vebhaṅgo vipāko hoti pāpako.
|
2555. “Hành động đă được làm
không suy xét trước, đă được suy nghĩ không cân nhắc, tựa như sự
thất bại của phương thuốc, kết quả đạt được là xấu xa. |
17. Hành động không suy nghĩ
trước sau,
Hoặc làm không cân nhắc dài lâu,
Cũng như sử dụng lầm phương thuốc,
Hậu quả ắt là phải khổ đau. |
|
2556. Nisamma ca kataṃ kammaṃ
sammāvatthāya cintitaṃ,
bhesajjasseva sampatti vipāko hoti bhadrako.
|
2556. Và hành động đă được làm
sau khi suy xét, đă được suy nghĩ sau khi cân nhắc đúng đắn, tựa
như sự thành công của phương thuốc, kết quả đạt được là tốt đẹp. |
18. Hành động nào suy tính thật
lâu,
Khôn ngoan thận trọng tiếp theo sau,
Giống như vị thuốc nhiều công hiệu,
Kết quả tất nhiên phải nhiệm mầu. |
|
2557. Alaso gihī kāmabhogī na
sādhu
asaññato pabbajito na sādhu,
rājā na sādhu anisammakārī
yo paṇḍito kodhano taṃ na sādhu.
|
2557. Người tại gia biếng nhác có
sự thọ hưởng các dục, là không tốt. Bậc xuất gia không tự chế
ngự, là không tốt. Vị vua có hành động không suy xét, là không
tốt. Người sáng suốt có sự phẫn nộ, việc ấy là không tốt. |
19. Con chán ghét người ở thế
gian
Buông lung phóng dật, dục tham tràn,
Người tu khổ hạnh hư danh đó
Là kẻ dối gian lộ rơ ràng.
Một vị hôn quân thường xử án
Chẳng hề nghe lư lẽ phân trần;
Chẳng bao giờ gọi là chân chánh
Cơn giận bùng lên ở trí nhân. |
|
2558. Nisamma khattiyo kayirā
nānisamma dipampati,
nisammakārino rāja yaso kitti ca vaḍḍhati.
|
2558. Vị Sát-đế-lỵ nên hành động
sau khi suy xét. Bậc chúa tể một phương không thể không suy xét.
Tâu bệ hạ, người hành động sau khi suy xét có danh vọng và tiếng
tăm tăng trưởng. |
20. Một vị vua xem xét kỹ càng
Rồi ban lời phán xử công bằng,
Khi vua cân nhắc lời phân xử,
Danh tiếng đời đời măi vọng vang. |
|
2559. Nisamma daṇḍaṃ paṇayeyya
issaro
vegākataṃ tapate bhūmipāla,
sammāpaṇidhi ca narassa atthā
anānutappā te bhavanti pacchā.
|
2559. Tâu đấng hộ quốc, vị quân
vương nên ấn định h́nh phạt sau khi đă suy xét. Việc đă được làm
một cách vội vă làm cho bực bội. Và các quyết định đúng đắn v́
lợi ích của con người sẽ không là các nỗi hối tiếc cho bệ hạ về
sau này. |
21. Những h́nh phạt Chúa thượng
truyền ban
Phải được đắn đo thật kỹ càng
Những việc làm trong lúc vội vă
Sẽ gây hối hận lúc thư nhàn.
Nếu ḷng phát nguyện nhiều điều tốt,
Sau chẳng đau buồn hối tiếc mang. |
|
2560. Anānutappāni hi ye karonti
vibhajja kammāyatanāni loke,
viññuppasatthāni sukhudrayāni
bhavanti vaddhānumatāni tāni.
|
2560. Bởi v́ những người nào, sau
khi đă phân tích các loại nghiệp ở thế gian, rồi làm các việc
không gây ra sự hối tiếc, các việc ấy được khen ngợi bởi những
vị hiểu biết, là các nguồn tạo ra sự an lạc, được tán thành bởi
các bậc trưởng thượng. |
22. Những người có việc phải thi
hành,
Muốn chẳng gây ân hận với ḿnh
Thường đắn đo bao điều thận trọng,
Tạo nên thiện nghiệp thật an lành,
Làm công đức thỏa ḷng hiền thánh,
Được tán tụng từ bậc trí minh. |
|
2561. Āgañchuṃ dovārikā
khaggabaddhā
kāsāviyā hantu mamaṃ janinda,
mātu ca aṅkasmiṃ ahaṃ nisinno
ākaḍḍhito sahasā tehi deva.
|
2561. Tâu vị chúa của loài người,
các ngự lâm quân mang gươm và các đao phủ đă đi đến để giết chết
con. Và tâu bệ hạ, con đang ngồi bên cạnh mẫu hậu th́ đă bị bọn
chúng lôi đi bằng bạo lực.
|
23. Cha thét: "Ḱa đao phủ, hăy
mau!
Đi t́m vương tử của ta nào,
Nơi đâu bây kiếm, liền đem giết!"
Lúc trẻ ngồi bên mẹ dựa đầu,
Bọn chúng t́m ra con trẻ đó,
Rồi lôi đi thật bạo tàn sao? |
|
Trang 54:
|
Trang 55:
|
|
2562. Kaṭukamhi sambādhaṃ
sukicchapatto
madhuraṃ piyaṃ jīvitaṃ laddhu rāja,
kicchenāhaṃ ajja vadhā pamutto
pabbajjamevābhimanohamasmi.
|
2562. Tâu bệ hạ, con đă gặp phải
sự trở ngại cay đắng, vô cùng đau đớn, để đạt được mạng sống
ngọt ngào, yêu quư. Hôm nay, con được thoát khỏi cái chết một
cách khó khăn. Con có ư dứt khoát về việc xuất gia.” |
24. Trẻ thơ non nớt, xử như vầy,
Con thấy chúng tàn nhẫn quá tay,
Nay thoát cảnh đày thân độc ác,
Con rời thế, chẳng sống nơi đây. |
|
2563. Putto tavāyaṃ taruṇo
sudhamme
anukampako somanasso kumāro,
taṃ yācamāno na labhāmi sajja
arahāsi naṃ yācitave tuvampi.
|
2563. “Này hoàng hậu Sudhammā,
người con trai này của nàng, hoàng tử Somanassa, c̣n trẻ, và có
ḷng thương xót. Hôm nay, trong khi nó cầu xin điều ấy, trẫm đây
không chấp nhận. Nàng cũng thích hợp để thuyết phục con (bỏ ư
định xuất gia).” |
25. Vậy vương nhi đó, Su-dham-ma,
Vừa thốt lời từ chối lệnh ta,
Quí tử So-ma bao khả ái;
V́ ta không măn nguyện bây giờ,
Đích thân hoàng hậu nên xem thử
Có chuyển lay ḷng trí trẻ thơ. |
|
2564. Ramassu bhikkhācariyāya
putta
nisamma dhammesu paribbajassu,
sabbesu bhūtesu nidhāya daṇḍaṃ
anindito brahmamupehi ṭhānaṃ.
|
2564. “Này con trai, con hăy vui
thích việc thực hành khất thực. Sau khi suy xét về các pháp, con
hăy xuất gia. Sau khi dẹp bỏ h́nh phạt đối với tất cả chúng
sanh, con không bị chê trách, con hăy tiến đến vị thế Phạm
thiên.” |
26. Hăy vui đời Thánh hạnh, hoàng
nam,
Tuân thủ chánh chân, bỏ cơi phàm,
Ai giữa quần sinh không độc ác
Sẽ lên thiên giới, chẳng sai lầm. |
|
2565. Acchariyarūpaṃ vata
yādisañca
dukkhitaṃ maṃ dukkhāpayase sudhamme,
yācassu puttaṃ iti vuccamānā
bhiyyova ussāhayase kumāraṃ.
|
2565. “Điều như thế này có vẻ kỳ
lạ thật đấy! Này hoàng hậu Sudhammā, trẫm đang khổ, nàng lại
khiến cho trẫm phải khổ. Trong khi được nói rằng: ‘Nàng hăy
thuyết phục con trai (bỏ ư định xuất gia),’ nàng c̣n khuyến
khích hoàng tử thêm nữa.” |
27. Chuyện lạ này nghe tự ái
khanh,
Sầu đang chất ngất ở trong ḿnh,
Bảo nàng khuyên nhủ con dừng lại,
Nàng chỉ giục con phải bước nhanh. |
|
2566. Ye vippamuttā
anavajjabhojino,
parinibbutā lokamimaṃ caranti,
tamariyamaggaṃ paṭipajjamānaṃ
na ussahe vārayituṃ kumāraṃ.
|
2566. “Các vị nào đă được giải
thoát, có sự thọ hưởng không bị chê trách, đă được hoàn toàn
diệt tắt, đang sống ở thế gian này, thiếp không ra sức để ngăn
cản hoàng tử thực hành đạo lộ cao thượng của các vị ấy. |
28. Có hạng người không đắm dục
tham,
Thoát sầu bi, sống chẳng sai lầm,
Nhiều người đắc Niết-bàn cao thượng:
Ví thử hoàng nhi muốn dự phần
Cùng tiến lên con đường Thánh hạnh,
Th́ hoài công cản bước hoàng nam. |
|
2567. Addhā have sevitabbā
sapaññā
bahussutā ye bahuṭhānacintino,
yesāyaṃ sutvāna subhāsitāni
appossukkā vītasokā sudhammā ”ti.
|
2567. Quả thật, đúng vậy, các bậc
có trí tuệ, các bậc đa văn, các vị có những suy nghĩ thiết thực
nên được thân cận. Sau khi lắng nghe những lời thiện thuyết của
các vị này, thiếp đây ít ham muốn, không c̣n sầu muộn, có thiện
pháp.”
|
29. Quả thật là chân chánh thiện
tâm,
Tôn sùng bậc trí tuệ cao thâm
Tâm tư siêu việt thường sinh khởi,
Ái hậu từng nghe các diệu âm,
Thông hiểu kiến văn nhiều bậc Thánh,
Nên không c̣n khổ năo, tham lam.
Câu chuyện
505 |
|
Somanassajātakaṃ.
*** |
Bổn sanh Hoàng Tử Somanassa. [505]
*** |
|
10.
CAMPEYYAJĀTAKAṂ
|
10. BỔN SANH
RỒNG CHÚA CAMPEYYA
|
506. Chuyện long
vương Campeyya
(Tiền thân
Campeyya) |
|
2568. Kā nu vijjurivābhāsi osadhī
viya tārakā,
devatā nusi gandhabbī na taṃ maññāmi mānusiṃ.
|
2568. “Người nữ nào chiếu sáng
tựa như tia chớp, tựa như ngôi sao
osadhī? Có phải nàng là vị Thiên nhân, hay nữ
Càn-thát-bà? Trẫm không nghĩ rằng nàng là loài người.” |
1. Ai đó như tia chớp sáng bừng,
Hay vầng tinh tú tỏa hào quang,
Tu-la thần nữ hay Thiên nữ?
Ta chắc nàng không phải thế nhân? |
|
2569. Namhi devī na gandhabbī na
mahārāja mānusī,
nāgakaññamhi bhaddante atthenamhi idhāgatā.
|
2569. “Thưa
đại vương, thiếp không phải là Thiên nữ, không phải nữ
Càn-thát-bà, không phải loài người. Thưa bậc đức độ, thiếp là
con gái của loài rồng. V́ công việc mà thiếp đă đi đến nơi này.”
|
2. Chẳng là Thiên nữ, Tu-la thần,
Cũng chẳng loài người, tấu Đại quân,
Tiện thiếp chính là Long nữ đó,
Đến đây v́ có việc cầu ân. |
|
Trang 56: |
Trang 57:
|
|
2570. Vibbhantacittā
kupitindriyāsi
nettehi te vārigaṇā savanti,
kinte naṭṭhaṃ kimpana patthayānā
idhāgatā nāri tadiṅgha brūhi.
|
2570. “Nàng có tâm bị tản mác,
các giác quan bị đờ đẫn. những ḍng lệ tuôn trào từ hai con mắt
của nàng. Nàng đă bị mất mát cái ǵ? Hơn nữa, trong khi ước
nguyện điều ǵ mà nàng đă đi đến nơi này? Nào, hỡi cô nương,
nàng hăy nói ra điều ấy.” |
3. Nàng tỏ ra hờn giận, bất bằng,
Mắt nàng mưa lệ cứ tuôn tràn,
Việc ǵ, ước vọng nào đưa đến,
Hăy nói, ta mong biết, hỡi nàng! |
|
2571. Yamuggatejo uragoti cāhu
nāgoti taṃ āhu janā janinda,
tamaggahī puriso jīvikattho
taṃ bandhanā muñca patī mameso.
|
2571. Tâu vị chúa của loài người,
người ta đă gọi con vật có oai lực dữ dằn là ‘rắn’ và đă gọi
chàng ấy là ‘rồng.’ Gă đàn ông đă bắt lấy chàng ấy v́ mục đích
kiếm sống. Hăy giải thoát cho chàng ấy khỏi sự trói buộc. Chàng
ấy là chồng của thiếp.” |
4. Rắn rồng ḅ, tựa lửa hung
hăng!
Chúng vẫn gọi ngài thế, bỗng dưng
Gă bắt ngài đi v́ hám lợi,
Thiếp cầu Chúa thượng thả Long quân! |
|
2572. Kathaṃ nvayaṃ
balaviriyūpapanno
hatthattha māgañchi vaṇibbakassa,
akkhāhi me nāgakaññe tamatthaṃ
kathaṃ vijānemu gahītanāgaṃ.
|
2572. Vậy làm thế nào mà con rồng
được sanh ra với sức lực và dũng mănh này đă rơi vào bàn tay của
kẻ cùng khổ? Hỡi nàng con gái của loài rồng, nàng hăy giải thích
ư nghĩa ấy cho trẫm. Làm thế nào chúng tôi có thể nhận biết về
con rồng đă bị bắt?” |
5. V́ sao kẻ ốm đói như vầy
Bắt được Rồng kia mănh lực đầy?
Long nữ, xin nàng cho trẫm biết,
Làm sao đánh giá đúng Rồng này? |
|
2573. Nagarampi nāgo bhasmaṃ
kareyya
tathā hi so balaviriyūpapanno,
dhammañca nāgo apacāyamāno
tasmā parakkamma tapo karoti.
|
2573. “Rồng chúa có thể làm cho
cả thành phố trở thành tro bụi, bởi v́ chàng ấy được sanh ra với
sức lực và dũng mănh như thế ấy. Và trong khi tôn kính pháp tu
tập, v́ thế rồng chúa đă nỗ lực (kiềm chế) và thực hành hạnh
khắc khổ. |
6. Thần lực ngài, ngay cả thị
thành,
Ngài thiêu ra đống bụi tan tành,
Song ngài yêu chuộng đường thanh tịnh,
Khổ hạnh đi t́m lại chính danh. |
|
2574. Cātuddasiṃ paṇṇarasiñca
rāja
catuppathe sammati nāgarājā,
tamaggahī puriso jīvikattho
taṃ bandhanā muñca patī mameso.
|
2574. Tâu bệ hạ, vào ngày mười
bốn và mười lăm, rồng chúa tịnh cư ở ngă tư đường. Gă đàn ông đă
bắt lấy chàng ấy v́ mục đích kiếm sống. Hăy giải thoát cho chàng
ấy khỏi sự trói buộc. Chàng ấy là chồng của thiếp.” |
7. Vào ngày trai giới, đấng Long
vương
Bốn pháp hành tŕ hạnh Thánh nhân,
Gă múa rối kia t́m bắt được,
Xin ngài v́ thiếp, cứu lang quân! |
|
2575. Soḷasitthī sahassāni
āmuttamaṇikuṇḍalā,
vārigehasayā nārī tāpi taṃ saraṇaṅgatā.
|
2575. Mười sáu ngàn nữ nhân có
các bông tai bằng ngọc trai và ngọc ma-ni, các nàng có nhà ở
dưới nước, các nàng ấy đă đến nương tựa ở chàng. |
8. Mười sáu ngàn ḱa đám nữ nhân,
Rỡ ràng ṿng ngọc với kim ngân,
Dưới ḍng nước đă tôn Rồng thánh
Là chúa tể cho chúng ẩn thân. |
|
2576. Dhammena mocehi asāhasena
gāmena nikkhena gavaṃ satena,
ossaṭṭhakāyo urago carātu
puññatthiko muccatu bandhanasmā.
|
2576. Bệ hạ hăy giải thoát cho
rồng chúa đúng theo pháp, không bằng bạo lực, bằng ngôi làng,
bằng tiền vàng lớn, bằng một trăm ḅ cái. Hăy để cho rồng chúa
ra đi với thân thể được cởi trói. Hăy để cho người tầm cầu phước
thiện được thoát khỏi sự trói buộc.” |
9. Đại vương, mong rộng lượng,
công bằng,
Xin chuộc Long vương được thoát thân
Bằng một làng, trăm ḅ cái chẵn,
Thêm vàng, đem phước báo Quân vương. |
|
2577. Dhammena mocemi asāhasena
gāmena nikkhena gavaṃ satena,
ossaṭṭhakāyo urago carātu
puññatthiko muccatu bandhanasmā.
|
2577. “Trẫm sẽ giải thoát cho
rồng chúa đúng theo pháp, không bằng bạo lực, bằng ngôi làng,
bằng tiền vàng lớn, bằng một trăm ḅ cái. Hăy để cho rồng chúa
ra đi với thân thể được cởi trói. Hăy để cho người tầm cầu phước
thiện được thoát khỏi sự trói buộc. |
10. Này xem ta chánh đáng, hào
hoa,
Ta chuộc cho Rồng chúa được tha
Bằng một làng, trăm ḅ cái chẵn,
Thêm vàng, đem phước báo cho ta! |
|
2578. Dammi nikkhasataṃ ludda
thullañca maṇikuṇḍalaṃ,
catussadaṃ ca pallaṅkaṃ ummāpuppha siriṃnibhaṃ.
|
2578. Này thợ săn, trẫm sẽ ban
thưởng một trăm tiền vàng lớn, bông tai ngọc ma-ni loại lớn,
kiệu khiêng bốn bên đều lót nệm có màu sắc rực rỡ giống như màu
hoa của cây bông vải, – |
11. Rồi trẫm tặng chàng ṿng ngọc
tai,
Với vàng trăm lượng chẳng hề sai,
Tọa sàng xinh đẹp như hoa gấm,
Gối nệm nằm chen bốn dăy dài. |
|
2579. Dve ca sādisiyo bhariyā
usabhañca gavaṃ sataṃ,
ossaṭṭhakāyo urago carātu
puññatthiko muccatu bandhanasmā.
|
2579. – thêm hai người vợ tương
xứng, cùng với ḅ mộng và ḅ cái một trăm con. Hăy để cho rồng
chúa ra đi với thân thể được cởi trói. Hăy để cho người tầm cầu
phước thiện được thoát khỏi sự trói buộc.”
|
12. Ḅ đực, cùng ḅ cái một trăm,
Và hai người vợ cũng chung ḍng,
Xin tha Rồng chúa đầy thanh tịnh,
Việc ấy sẽ đem lắm phước phần. |
|
Trang 58:
|
Trang 59:
|
|
2580. Vināpi dānā tava vacanaṃ
janinda,
muñcemu taṃ uragaṃ bandhanasmā,
ossaṭṭhakāyo urago carātu
puññatthiko muccatu bandhanasmā.
|
2580. “Tâu vị chúa của loài
người, chỉ với lời nói của bệ hạ th́ khỏi cần vật ban thưởng,
chúng thần sẽ giải thoát cho rồng chúa ấy khỏi sự trói buộc. Hăy
để cho rồng chúa ra đi với thân thể được cởi trói. Hăy để cho
người tầm cầu phước thiện được thoát khỏi sự trói buộc.” |
13. Thần không cầu thưởng, tấu
Anh quân,
Mà để chúa Rồng được thoát thân,
Như vậy, nay thần xin giải phóng:
Việc này sẽ tạo lắm hồng ân. |
|
2581. Mutto campeyyako nāgo
rājānaṃ etadabravi,
namo te kāsirājatthu namo te kāsivaḍḍhana,
añjaliṃ te pagaṇhāmi passeyyamme nivesanaṃ.
|
2581. Được tự do, rồng chúa
Campeyyaka đă nói với đức vua điều này: ‘Tâu đức vua xứ Kāsi,
vậy
hăy kính lễ đến ngài!
Tâu bậc làm hưng thịnh xứ Kāsi, xin kính lễ ngài! Thần xin chắp
tay lại chào bệ hạ. Thần có thể nh́n ngắm cung điện của thần.” |
14. Tự do, Rồng chúa xứ Cam-pa
Liền nói như vầy với đức vua:
"Chúa tể Kà-si nuôi quốc độ!
Cầu ngài vinh hiển tự bây giờ
Thần xin đảnh lễ ngài cung kính,
Trước lúc trở về viếng cố gia!". |
|
2582. Addhā hi dubbissasametamāhu
yaṃ mānuso vissase amānusamhi,
sace ca maṃ yācasi etamatthaṃ
dakkhemu te nāga nivesanāni.
|
2582. “Quả đúng vậy, người đời đă
nói việc ấy là khó tin, là việc con người có thể đặt niềm tin
vào hạng phi nhân. Và nếu ngài yêu cầu trẫm (tin tưởng) điều ấy,
này rồng chúa, hăy để chúng tôi nh́n thấy các cung điện của
ngài.” |
15. Đời thường nói các đấng siêu
phàm
Khó được ḷng tin ở thế gian
Ví thử chúa Rồng nay nói thật:
Long cung đâu? Hăy chỉ ngay đàng! |
|
2583. Sacehi vāto girimāvaheyya
cando ca suriyo ca chamā pateyyuṃ,
sabbā va najjo paṭisotaṃ vaheyyuṃ
na tvevahaṃ rāja musā bhaṇeyyaṃ.
|
2583. “Bởi v́, nếu như làn gió có
thể dời đi ngọn núi, mặt trăng và mặt trời có thể rơi xuống trái
đất, và tất cả các con sông có thể chảy ngược ḍng, nhưng tâu bệ
hạ, thần không bao giờ có thể nói lời dối trá. |
16. Dù gió thổi tung cả núi đồi,
Mặt trời, trăng rớt khỏi bầu trời,
Suối sông, xoáy ngược ḍng đang cháy,
Chúa thượng, thần không thể dối lời! |
|
2584. Nabhaṃ phaleyya udadhīpi
susse
saṃvaṭṭayaṃ bhūtadharā vasundharā,
siluccayo meru samūlamubbahe
natvevahaṃ rāja musā bhaṇeyyaṃ.
|
2584. (Dẫu cho) bầu trời có thể
vỡ tan, thậm chí biển cả có thể khô cạn, trái đất cưu mang chúng
sanh và cất giữ của cải tự cuộn tṛn, ngọn núi đá Meru có thể
nhổ lên luôn cả gốc, nhưng tâu bệ hạ, thần không bao giờ có thể
nói lời dối trá.” |
17. Ví trời nứt nẻ, hải dương
khô,
Đất mẹ bao la vỡ vụn ra,
Dù núi Tu-di rung bật gốc,
Đại vương, thần chẳng dối bao giờ! |
|
2585. Addhā hi dubbissasametamāhu
yaṃ mānuso vissase amānusamhi,
sace ca maṃ yācasi etamatthaṃ
dakkhemu te nāga nivesanāni.
|
2585. “Quả đúng vậy, người đời đă
nói việc ấy là khó tin, là việc con người có thể đặt niềm tin
vào hạng phi nhân. Và nếu ngài yêu cầu trẫm (tin tưởng) điều ấy,
này rồng chúa, hăy để chúng tôi nh́n thấy các cung điện của
ngài.”
|
18. Đời thường nói các đấng siêu
phàm
Khó được ḷng tin ở thế gian,
Ví thử chúa Rồng nay nói thật,
Long cung đâu, hăy chỉ ngay đàng! |
|
2586. Tumhe khottha ghoravisā
uḷārā
mahātejā khippakopī ca hotha,
mama kāraṇā bandhanasmā pamutto
arahasi no jānitāye katāni.
|
2586. “Quả thật, các ngài ở đây
là có chất độc dữ dội, có uy thế, có quyền lực lớn lao, và có sự
nổi giận mau chóng. Nhờ vào trẫm mà ngài được thoát ra khỏi sự
trói buộc, ngài cần phải nhận biết những việc đă được làm của
chúng tôi.” |
19. Ngài đầy nọc độc, đủ quyền
năng,
Chiếu sáng rực trời, chóng nổi sân,
Ngài bị giam, nhờ ta giải thoát,
Quyền ta là phải được tri ân! |
|
2587. So paccataṃ niraye
ghorarūpe
mā kāyikaṃ sātamalattha kiñci,
peḷāya baddho maraṇaṃ upetu
yo tādisaṃ kamma kataṃ na jāne.
|
2587. “Kẻ nào không nhận biết
hành động đă được làm như thế ấy, kẻ ấy hăy bị nung nấu ở địa
ngục có h́nh thức ghê rợn, chẳng đạt được bất cứ khoái lạc nào
thuộc về thân, và đạt đến cái chết khi bị giam cầm trong cái
giỏ.” |
20. Kẻ nào không muốn đáp ân
t́nh,
Sẽ chẳng làm sao hưởng phước lành,
Kẻ đó bỏ ḿnh trong rọ nhốt!
Chịu thiêu trong ngục tối hồn kinh! |
|
2588. Saccappaṭiññā tavamesa hotu
akkodhano hohi anūpanāhī,
sabbañca te nāgakulaṃ supaṇṇā
aggiṃva gimhāsu vivajjayantu.
|
2588. “Mong rằng lời hứa hẹn này
của ngài là sự thật. Mong rằng ngài không giận dữ, không thù
hằn. Mong rằng các linh điểu lánh xa tất cả gia tộc loài rồng
của ngài, tựa như (loài người) lánh xa ngọn lửa vào các mùa nóng
nực.” |
21. Ngài nguyện lời kia quả thật
chân,
Giận hờn tan biến, tránh thù hằn:
Như ta tránh lửa trong mùa hạ,
Mong Điểu vương xa lành chúa Rồng! |
|
Trang 60:
|
Trang 61:
|
|
2589. Anukampasī nāgakulaṃ
janinda
mātā yathā suppiyaṃ ekaputtaṃ,
ahaṃ ca te nāgakulena saddhiṃ
kāhāmi veyyāvaṭikaṃ uḷāraṃ.
|
2589. “Tâu vị chúa của loài
người, bệ hạ đă có ḷng thương tưởng đến gia tộc loài rồng,
giống như người mẹ đối với đứa con trai độc nhất vô cùng yêu
quư. Thần cùng với gia tộc loài rồng sẽ làm công việc phục vụ
xuất sắc đến bệ hạ.” |
22. Như mẹ hiền kia muốn bố ân
Cho con độc nhất quư vô ngần,
Đại vương nhân ái cùng rồng rắn,
Xin phụng sự vua, mỗi chúng thần. |
|
2590. Yojentu ve rājarathe
sucitte
kambojake assatare sudante,
nāge ca yojentu suvaṇṇakappane
dakkhemu nāgassa nivesanāni.
|
2590. “Các khanh hăy thắng các
con la xứ Kamboja khéo được huấn luyện vào các cỗ vương xa khéo
được sơn phết, và hăy thắng các yên cương bằng vàng cho các con
voi; chúng ta hăy viếng thăm các cung điện của rồng chúa.” |
23. Đoàn vương xa, hăy thắng yên
cương,
Đứng sẵn bầy la khéo luyện thuần,
Vương tượng cân đai vàng chói lọi,
Ta cùng đi viếng xứ Long vương. |
|
2591. Bheri mutiṅgā paṇavā ca
saṅkhā
āvajjisuṃ uggasenassa rañño,
pāyāsi rājā bahusobhamāno
purakkhato nārigaṇassa majjhe.
|
2591. Các trống lớn, các trống
nhỏ, các trống con, và các tù và vỏ ốc đă vang lên chào đón đức
vua Uggasena. Đức vua đă tiến đến, vô cùng rực rỡ, được tôn
vinh, ở giữa một đoàn nữ nhân. |
24. Trống con, trống lớn, đánh
th́ thùng,
Chũm chọe, tù và thổi dậy rân,
Ḱa ngắm Ug-ga vương ngự đến
Huy hoàng hiện giữa đám cung tần. |
|
2592. Suvaṇṇacitakaṃ bhūmiṃ
addakkhi kāsivaddhano,
sovaṇṇamaye ca pāsāde veḷuriyaphalakatthate.
|
2592. Bậc làm hưng thịnh xứ Kāsi
đă nh́n thấy khu đất được trải lên bằng cát vàng và các ṭa lâu
đài làm bằng vàng, được khảm ngọc bích và ngọc pha-lê. |
25. Chúa tể Kà-si thấy đất bằng
Nơi nơi rải khắp cát như vàng,
Hoa san hô đẹp trồng quanh chốn,
Đỉnh tháp bằng vàng ở tứ phương. |
|
2593. Sa rājā pāvisi vyambhaṃ
campeyyassa nivesanaṃ,
ādiccavaṇṇūpanibhaṃ kaṃsavijjupabhassaraṃ.
|
2593. Vị vua ấy đă tiến vào cung
điện, nơi trú ngụ của rồng chúa Campeyya, có sự chói sáng rực rỡ
tựa như tia chớp phát ra từ đám mây đen, tương tự màu sắc của
mặt trời. |
26. Sau đó, Đại vương lại đặt
chân
Ngự vào đại sảnh của Long thần
Tựa thiên lôi chủy đồng lóe sáng,
Hay cả vầng hồng tỏa ánh quang. |
|
2594. Nānārukkhehi sañchannaṃ
nānāgandhasameritaṃ,
so pāvekkhi kāsirājā campeyyassa nivesanaṃ.
|
2594. Vị vua xứ Kāsi ấy sẽ tiến
vào nơi trú ngụ của rồng chúa Campeyya, được bao phủ bởi những
cây cối đa dạng, được phảng phất với các hương thơm khác loại. |
27. Vào đến Cam-pey đại sảnh
đường,
Vừa dời gót ngọc, đấng Quân vương:
Ngàn cây đổ bóng che im mát,
Không khí ngàn mùi tỏa diệu hương. |
|
2595. Paviṭṭhamhi kāsiraññe
campeyyassa nivesanaṃ,
dibbā turiyā vajjiṃsu nāgakaññā ca naccayuṃ.
|
2595. Khi đức vua xứ Kāsi tiến
vào nơi trú ngụ của rồng chúa Campeyya, các nhạc cụ Thiên đ́nh
đă tấu vang, và các nàng con gái của loài rồng đă nhảy múa.
|
28. Bên trong cung điện chúa
Cam-pey,
Đại đế vừa khi ngự đến đây,
Đàn trổi khúc thần tiên tuyệt diệu,
Yêu kiều Long nữ múa như bay! |
|
2596. Taṃ nāgakaññā caritaṃ
gaṇena
anvāruhī kāsirājā pasanno,
nisīdi sovaṇṇamayamhi pīṭhe
sāpassaye candanasāralitte.
|
2596. Nơi trú ngụ ấy được lui tới
bởi các nàng con gái của loài rồng theo từng nhóm. Được an tâm,
đức vua xứ Kāsi đă bước tiếp lên, và đă ngồi xuống ở cái ghế làm
bằng vàng, có chỗ tựa đầu, đă được thoa dầu của lơi trầm hương.
|
29. Ngài được mời lên bảo tọa
vàng
Nệm êm ái sực nức chiên-đàn,
Cả đoàn kiều nữ khoan thai lướt
Khắp sảnh đường theo gót rộn ràng. |
|
2597. So tattha bhutvā ca atho
ramitvā
campeyyakaṃ kāsirājā avoca,
vimānaseṭṭhāni imāni tuyhaṃ
ādiccavaṇṇāni pabhassarāni,
netādisaṃ atthi manussaloke
kimatthiyaṃ nāga tapo karosi.
|
2597. Sau khi đă thọ hưởng rồi
vui thú ở nơi ấy, đức vua xứ Kāsi ấy đă nói với rồng chúa
Campeyyaka rằng: “Các cung điện tuyệt vời này của ngài có màu
sắc của mặt trời, có sự chói sáng rực rỡ. Ở thế giới loài người,
không có như thế này. Này rồng chúa, v́ mục đích ǵ mà ngài thực
hành hạnh khắc khổ? |
30. Chốn kia, vua hưởng thú vui
tràn,
Rồi tới Cam-pey chúa, hỏi han:
"Cung điện ngài đây vinh hiển quá,
Hồng như vầng nhật tỏa hào quang,
Trên trần không chốn nào như vậy,
V́ cớ sao ngài muốn ẩn thân? |
|
Trang 62:
|
Trang 63:
|
|
2598. Tā kambukeyūra dharā
suvatthā
vaṭṭaṅgulī tambatalūpapannā,
paggayha pāyenti anomavaṇṇā
netādisaṃ atthi manussaloke
kimatthiyaṃ nāga tapo karosi.
|
2598. Các nàng ấy mang các vật
trang sức bằng vàng, có y phục đẹp, có ngón tay tṛn trịa, được
thành tựu ḷng bàn tay và bàn chân màu đỏ thắm, có làn da hoàn
hảo, đă đem lại thần thủy mời trẫm uống. Ở thế giới loài người,
không có như thế này. Này rồng chúa, v́ mục đích ǵ mà ngài thực
hành hạnh khắc khổ? |
31. Đứng đây toàn tuyệt sắc giai
nhân
Cầm lấy bằng đầu ngón búp măng
Chén rượu trong bàn tay ửng đỏ,
Đai vàng ôm sát ngực và thân,
Tại sao ngài muốn làm tu sĩ,
Chẳng thấy cảnh kia ở cơi trần? |
|
2599. Najjo ca temā
puthulomamacchā
āṭā sakuntābhirudā sutitthā,
netādisaṃ atthi manussaloke
kimatthiyaṃ nāga tapo karosi.
|
2599. Và các ḍng sông này của
ngài có loài cá lớn vảy, có tiếng hót của loài chim
āṭā, có bến tắm đẹp. Ở thế
giới loài người, không có như thế này. Này rồng chúa, v́ mục
đích ǵ mà ngài thực hành hạnh khắc khổ? |
32. Suối, sông, hồ cá đẹp, trong
ngần,
Đều có bến xây bậc vững vàng
Trên trần chẳng chốn nào như thế,
V́ cớ sao ngài muốn ẩn thân? |
|
2600. Koñcā mayūrā diviyā ca
haṃsā
vaggussarā kokilā sampatanti,
netādisaṃ atthi manussaloke
kimatthiyaṃ nāga tapo karosi.
|
2600. Các con c̣, các con công,
các chim thiên nga, và các con chim cu với tiếng hót ngọt ngào
bay nhảy. Ở thế giới loài người, không có như thế này. Này rồng
chúa, v́ mục đích ǵ mà ngài thực hành hạnh khắc khổ? |
33. Đàn công, sếu hạc, với thiên
nga,
Bao vẻ mê hồn cu gáy ca,
V́ cớ sao ngài làm ẩn sĩ,
Trên đời đâu thấy cảnh kia mà? |
|
2601. Ambāva sālā tilakā ca
jambuyo
uddālakā pāṭaḷiyo ca phullā,
netādisaṃ atthi manussaloke
kimatthiyaṃ nāga tapo karosi.
|
2601. Các cây xoài, các cây
sāla, các cây họ mè, các cây
mận đỏ, các cây bả đậu, và các cây hoa kèn được nở rộ. Ở thế
giới loài người, không có như thế này. Này rồng chúa, v́ mục
đích ǵ mà ngài thực hành hạnh khắc khổ?
|
34. Đây trồng ti-lak, đó xoài,
sal,
Hoa quế, hoa chuông nở rộ tràn,
Chẳng thấy cảnh này nơi địa giới,
Sao ngài làm ẩn sĩ trần gian? |
|
2602. Imā ca te pokkharañño
samantato
divyā ca gandhā satataṃ sampatanti,
netādisaṃ atthi manussaloke
kimatthiyaṃ nāga tapo karosi.
|
2602. Các hồ sen này của ngài ở
khắp nơi và có các mùi hương của cơi Trời thường xuyên phảng
phất. Ở thế giới loài người, không có như thế này. Này rồng
chúa, v́ mục đích ǵ mà ngài thực hành hạnh khắc khổ?” |
35. Nh́n các hồ kia, gió thoảng
đưa,
Hương thần tiên tỏa khắp đôi bờ,
Cảnh này không thấy trên trần giới,
V́ cớ sao ngài muốn ẩn cư? |
|
2603. Na puttahetu na dhanassa
hetu
na āyuno cāpi janinda hetu,
manussayoniṃ abhipatthayāno
tasmā parakkamma tapo karomi.
|
2603. “Không v́ nguyên nhân con
trai, không v́ nguyên nhân tài sản, và cũng không v́ nguyên nhân
tuổi thọ, tâu vị chúa của loài người, trong khi ước nguyện về
bản thể loài người, v́ thế thần đă nỗ lực (kiềm chế) và thực
hành hạnh khắc khổ.” |
36. Chẳng v́ thọ mạng, của hay
con,
Ta phấn đấu vầy với bản thân,
Nếu được, chính ḷng ta ước nguyện,
Tái sinh làm một kẻ phàm nhân. |
|
2604. Tvaṃ lohitakkho
vihatantaraṃso
alaṅkato kappitakesamassu,
surosito lohitacandanena
gandhabbarājāva disā pabhāsasi.
|
2604. “Với mắt đỏ ngầu, với bờ
vai rộng, đă được trang điểm, có râu tóc đă được chăm sóc, khéo
được thoa trầm hương đỏ, ngài tỏa sáng các phương tựa như vị vua
của các Càn-thát-bà. |
37. Phục sức cao sang, mắt đỏ
ngầu,
Rộng vai và nhẵn nhụi đầu râu,
Chiên-đàn tẩm ướt, như Thiên đế
Phán bảo toàn dân chúng địa cầu. |
|
2605. Deviddhipattosi mahānubhāvo
sabbehi kāmehi samaṅgibhūto,
pucchāmi taṃ nāgarājetamatthaṃ
seyyo ito kena manussaloko.
|
2605. Ngài đă đạt được thần thông
của chư Thiên, có đại oai lực, được phú cho tất cả các dục. Này
chúa rồng, trẫm hỏi ngài ư nghĩa này, thế giới loài người tốt
hơn nơi này bởi điều ǵ?” |
38. Lực thần vĩ đại thật hùng
oai,
Làm chủ quyền mơ ước mọi loài,
Rồng chúa, xin vui ḷng giải đáp,
V́ sao địa giới vượt Long đài? |
|
Trang 64:
|
Trang 65:
|
|
2606. Janinda nāññatra
manussalokā
suddhī ca saṃvijjati saṃyamo ca,
ahañca laddhāna manussayoniṃ
kāhāmi jātimaraṇassa antaṃ.
|
2606. “Tâu vị chúa của loài
người, ngoại trừ thế giới loài người, không nơi nào khác được
t́m thấy sự trong sạch và sự tự kiềm chế. Và sau khi đạt được
bản thể loài người, thần sẽ thực hiện việc chấm dứt sanh tử.”
|
39. Thanh tịnh, điều thân, chỉ
đạt thành
Khi người ta sống giữa quần sinh,
Nếu làm người, chẳng bao giờ nữa
Ta thấy tử sinh đến với ḿnh. |
|
2607. Addhā have sevitabbā
sapaññā
bahussutā ye bahuṭhānacintino,
nāriyo ca disvāna tavaṃ ca nāga
karohi puññāni anappakāni.
|
2607. “Quả thật, đúng vậy, nên
thân cận các bậc có trí tuệ, các bậc đa văn, các vị có những suy
nghĩ thiết thực. Này rồng chúa, sau khi nh́n thấy ngài và các
nàng con gái của loài rồng, trẫm sẽ làm các việc phước thiện
không phải là ít.” |
40. Quả thật là chân chánh thiện
tâm
Tôn sùng bậc trí tuệ uyên thâm
Tầm tư siêu việt thường sinh khởi.
Khi trẫm nay chiêm ngưỡng chúa Rồng,
Cùng với cả đoàn Long nữ ấy,
Trẫm mong làm thiện nghiệp muôn phần. |
|
2608. Addhā have sevitabbā
sapaññā
bahussutā ye bahuṭhānacintino,
nāriyo ca disvāna mamañca rāja
karohi puññāni anappakāni.
|
2608. “Quả thật, đúng vậy, nên
thân cận các bậc có trí tuệ, các bậc đa văn, các vị có những suy
nghĩ thiết thực.
Tâu bệ hạ, sau khi nh́n thấy thần và các
nàng con gái của loài rồng, bệ hạ hăy làm các việc phước thiện
không phải là ít. |
41. Quả thật là chân chánh thiện
tâm
Tôn sùng bậc trí tuệ uyên thâm
Tầm tư siêu việt thường sinh khởi.
Khi Đại vương nh́n thấy tiểu quân,
Cùng với cả đoàn Long nữ ấy,
Ngài mong thành thiện nghiệp muôn phần. |
|
2609. Idañca me jātarūpaṃ pahūtaṃ
rāsī suvaṇṇassa ca tālamattā,
ito haritvā sovaṇṇagharāni kāraya
rūpiyassa ca pākāraṃ karontu.
|
2609. Vàng này của thần có nhiều,
và các đống vàng có số lượng nhiều như cây thốt nốt. Bệ hạ hăy
mang đi khỏi đây rồi cho xây dựng các căn nhà bằng vàng. Và các
vị hăy xây dựng tường thành bằng bạc. |
42. Vàng thoi bỏ đó, kể không
cùng,
Bạc chất như cây cả mấy tầng,
Ngài lấy mà xây tường đá bạc,
Đem về dựng gác ngọc lầu vàng. |
|
2610. Muttānañca vāhasahassāni
pañca
veḷuriyamissāni ito haritvā,
antepure bhūmiyaṃ santharantu
nikkaddamā hohiti nīrajā ca.
|
2610. Sau khi mang đi khỏi đây
năm ngàn xe ngọc trai được trộn lẫn với ngọc bích, các vị hăy
trải ở mặt đất ở nội cung, như vậy sẽ không có bùn và không có
bụi. |
43. Ta đoán năm ngàn xe ngọc
trai,
San hô chen giữa ửng hồng tươi,
Lấy đi để trải đầy cung điện
Chẳng thấy đất dơ lộ phía ngoài. |
|
2611. Etādisaṃ āvasa rājāseṭṭha
vimānaseṭṭhaṃ bahusobhamānaṃ,
bārāṇasiṃ nagaraṃ iddhaphītaṃ
rajjañca kārehi anomapaññā ”ti.
|
2611. Tâu đấng quân vương hạng
nhất, bệ hạ hăy cư ngụ ở cung điện hạng nhất đang chiếu sáng rực
rỡ như thế ấy, trong thành Bārāṇasī thịnh vượng, sung túc. Và
tâu bậc có trí tuệ tuyệt đỉnh, ngài hăy trị v́ vương quốc.”
|
44. Đại vương! Hăy dựng một cung
đ́nh,
Như tiểu quân nay muốn tấu tŕnh,
Tại đó xin ngài lên ngự trị,
Thành Ba-la-nại sẽ phồn vinh:
Mong ngài cai trị dân hiền đức,
Và trị nước nhà thật xứng danh.
Câu chuyện
506 |
|
Campeyyajātakaṃ.
*** |
Bổn sanh
Rồng Chúa Campeyya. [506]
*** |
|
11.
PALOBHANAJĀTAKAṂ
|
11. BỔN SANH SỰ
CÁM DỖ LỚN
|
507. Chuyện sức
cám dỗ mạnh
(Tiền thân
Mahà-Palobhana) |
|
2612. Brahmalokā cavitvāna
devaputto mahiddhiko,
rañño putto udapādi sabbakāmasamiddhisu.
|
2612. Vị Thiên tử có đại thần
lực, sau khi chết đi từ thế giới Phạm Thiên, đă sanh làm con
trai của một vị vua có sự thành tựu của tất cả các dục. |
1. Từ cơi Phạm thiên, một vị thần
Đến đây là thế giới phàm nhân
Tái sinh, ngài được làm hoàng tử,
Mỗi ước mơ là lệnh phải vâng. |
|
2613. Kāmā vā kāmasaññā vā
brahmaloke na vijjati,
yvāssa tāyeva saññāya kāmehi vijigucchatha.
|
2613. Dục hay dục tưởng không
hiện hữu ở thế giới Phạm Thiên. Nhờ vào tưởng về thiền định đă
phát sanh ở chính thế giới Phạm Thiên ấy, vị hoàng tử ấy ghê tởm
đối với các dục. |
2. Chẳng có nghiệp t́nh, cơi Phạm
thiên,
Chưa hề nghe nói chuyện t́nh duyên,
Giờ sinh dục giới này, vương tử
Nghe chữ "t́nh" thôi, chán ngấy liền! |
|
Trang 66:
|
Trang 67:
|
|
2614. Tassa cantepure āsi
jhānāgāraṃ sumāpitaṃ,
so tattha patisallīno eko rahasi jhāyatha.
|
2614. Và có một thiền thất đă
khéo được tạo lập ở nội cung cho vị hoàng tử. Tại nơi ấy, được
yên tịnh, vị ấy, một ḿnh, đă tham thiền trong sự cô tịch.
|
3. Ở nội cung, hoàng tử đă xây,
Một am thất nhỏ của riêng tây,
Nơi chàng ch́m đắm vào Thiền định,
Đơn độc trôi qua chuỗi tháng ngày. |
|
2615. Sa rājā paridevesi
puttasokena aṭṭito,
ekaputto cayaṃ mayhaṃ na ca kāmāni bhuñjati.
|
2615. Bị phiền muộn bởi nỗi sầu
muộn về đứa con trai, đức vua ấy đă than văn rằng: “Ta có mỗi
một đứa con trai này, và nó không thọ hưởng các dục.
|
4. Phụ vương lo lắng trước hoàng
nam
Khi biết chàng trong ấy, khóc than:
"Trẫm chí sinh ra ḿnh thái tử
Mà bao dục lạc, trẻ không màng!" |
|
2616. Konu khettha upāyo so ko vā
jānāti kiñcanaṃ,
ko me puttaṃ palobheyya yathā kāmāni patthaye.
|
2616. Vậy ở đây có phương thức
nào, hoặc ai biết được điều ǵ đó, người nào có thể cám dỗ con
trai của trẫm khiến cho nó có thể thèm muốn các dục?”
|
5. Ai cho trẫm biết phải làm ǵ?
Ôi, lẽ nào không có cách chi?
Ai dạy con thèm mùi dục lạc?
Có ai làm thái tử mê ly? |
|
2617. Ahū kumārī tattheva
rūpavaṇṇa samāhitā,
kusalā naccagītassa vādite ca padakkhiṇā,
sā tattha upasaṅkamma rājānaṃ etadabravi.
|
2617. Ngay tại nơi (hoàng cung)
ấy, đă có một thiếu nữ được hội đủ dáng vóc và sắc đẹp, thiện
xảo về múa ca, và thành thạo về tấu nhạc. Nàng ấy đă đi đến nơi
ấy và đă nói với đức vua điều này:
|
6. Có thiếu nữ kia dáng mỹ miều,
Làn da trắng muốt thật yêu kiều,
Nàng thông suốt một trời ca nhạc,
Và uốn người quay tít thật đều.
Xuân nữ này đi t́m Chúa thượng,
Thế là nàng khởi chuyện t́nh yêu. |
|
2618. Ahaṃ kho taṃ palobheyyaṃ
sace bhattā bhavissati,
taṃ tathāvādiniṃ rājā kumāriṃ etadabravi,
tvaññeva naṃ palobhehi tava bhattā bhavissati.
|
2618. “Tiện nữ chắc chắn có thể
cám dỗ được hoàng tử, nếu hoàng tử sẽ trở thành chồng (của
thiếp). Đức vua đă nói với người thiếu nữ có lời nói như thế ấy
điều này: “Chính nàng hăy cám dỗ hoàng tử, hoàng tử sẽ trở thành
chồng của nàng.”
|
7. Thần thiếp sẽ đi quyến rủ
chàng,
Nếu duyên cầm sắt được ngài ban.
Gắng công cám dỗ cho hoàn măn,
Chàng sẽ là vương tử của nàng! |
|
2619. Sā ca antepuraṃ gantvā bahū
kāmūpasaṃhitaṃ,
hadayaṅgamā pemaṇīyā citragāthā abhāsatha.
|
2619. Và sau khi đi đến nội cung,
nàng ấy, với nhiều kiểu cách liên hệ đến dục, đă nói lên những
kệ ngôn hoa mỹ, đáng yêu, đi vào trái tim.
|
8. Kiều nhi vào tận chốn cung
đ́nh,
Nơi đó nàng riêng đứng một ḿnh,
Hát khúc ngọt ngào, đầy khát vọng,
Xuyên vào tim của bạn chung t́nh. |
|
2620. Tassā ca gāyamānāya saddaṃ
sutvāna nāriyā,
kāmacchandassa uppajji janaṃ so paripucchatha.
|
2620. Và sau khi lắng nghe âm
thanh của người phụ nữ ấy trong khi nàng ấy đang ca hát, ước
muốn về dục đă sanh khởi đến vị hoàng tử. Vị ấy đă hỏi người hầu
rằng:
|
9. Xuân nữ đứng kia, cất tiếng
oanh,
Ông hoàng nghe lọt được âm thanh,
Tức th́ bỗng thấy ḷng mê mẩn,
Chàng hỏi quân hầu đứng chực quanh: |
|
2621. Kasseso saddo ko vā so
bhaṇati uccāvacaṃ bahu,
hadayaṅgamaṃ pemaṇīyaṃ atho kaṇṇasukhaṃ mama.
|
2621. “Âm thanh ấy là của người
nào? Ai là người nói với ta nhiều lời nói trầm bổng, đi vào trái
tim, đáng yêu, êm tai vậy?”
|
10. "Âm thanh nào đó thật du
dương
Đưa đến pḥng ta rơ lạ thường,
Đâm suốt con tim, đầy dục tưởng,
Bên tai kỳ thú thật khôn lường!" |
|
2622. Esā kho pamadā deva khiḍḍā
esā anappikā,
sace tvaṃ kāme bhuñjeyya bhiyyo bhiyyo chādeyyu taṃ.
|
2622. “Tâu hoàng tử, nàng ấy đúng
là kiều nữ. Nàng ấy là thú tiêu khiển không phải tầm thường. Nếu
ngài có thể thọ hưởng các dục, các dục có thể khiến ngài vui
sướng nhiều hơn, nhiều hơn nữa.
|
11. "- Vương tử, nàng kia ngắm
tuyệt xinh!
Biết bao đùa cợt, vẻ đa t́nh,
Ví ngài mong hưởng t́nh ngon ngọt,
Th́ lạc thú đây, hăy đắm ḿnh!". |
|
2623. Iṅgha āgacchatorena
avidūramhi gāyatu,
assamassa samīpamhi santike mayha gāyatu.
|
2623. “Nào, hăy để nàng đến gần
hơn, hăy để nàng ca hát ở nơi không xa. Hăy để nàng ca hát ở nơi
kế cận thiền thất, trong sự hiện diện của ta.”
|
12. "- Này, bảo nàng kia hăy đến
gần,
Rồi nàng ca hát thật nhiều lần,
Đến đây, trước mặt ta rồi hát
Ngay chính bên trong cánh cửa pḥng!" |
|
2624. Tirokuḍḍamhi gāyitvā
jhānāgāramhi pāvisi,
bandhi naṃ anupubbena āraññamiva kuñjaraṃ.
|
2624. Sau khi đă ca hát ở bên kia
bức tường (ở phía ngoài), nàng đă đi vào thiền thất. Nàng đă từ
từ trói buộc hoàng tử, tựa như trói buộc con voi rừng.
|
13. Cô gái vừa ca ngoại bức
tường,
Đứng kia, trong thất của ông hoàng,
Nàng vây chàng chặt như voi nọ
Bị mắc bẫy giăng giữa núi ngàn! |
|
2625. Tassa kāmarasaṃ ñatvā
issādhammo ajāyatha,
ahameva kāme bhuñjeyyaṃ mā añño puriso ahū.
|
2625. Sau khi biết được hương vị
của dục, vị hoàng tử đă khởi lên pháp ganh tỵ (nói rằng): “Chỉ
có ta mới có thể thọ hưởng các dục, chẳng có người đàn ông nào
khác (được phép thọ hưởng).” |
14. Chàng hưởng tṛn hoan lạc ái
ân,
Ḱa xem! Tràn ngập nỗi ghen tương:
"Không ai được phép yêu nàng cả!
Chỉ một ḿnh ta được luyến thương!" |
|
Trang 68:
|
Trang 69:
|
|
2626. Tato asiṃ gahetvāna purise
hantuṃ upakkami,
ahameva eko bhuñjissaṃ mā añño puriso siyā.
|
2626. Sau đó, vị hoàng tử đă cầm
lấy thanh gươm rồi đă ra sức giết chết những người đàn ông (nói
rằng): “Chỉ có một ḿnh ta mới có thể thọ hưởng, chẳng có người
đàn ông nào khác (được phép thọ hưởng)” |
15. Một ḿnh ta, chẳng được người
nào!
Rồi chạy ra, chàng cứ thét gào,
Cầm kiếm lồng lên như khát máu
Đi tàn sát hết bọn mày râu! |
|
2627. Tato jānapadā sabbe
vikkandiṃsu samāgatā,
putto tyāyaṃ mahārāja janaṃ heṭhetyadūsakaṃ.
|
2627. Do đó, tất cả dân chúng đă
tụ hội lại kêu than rằng: “Tâu đại vương, gă con trai này của
ngài hăm hại người dân vô tội.” |
16. Lâm nguy, dân chúng thét vang
lừng,
Toàn thể phi thân đến hậu cung:
"Vương tử giết người bất kể số,
Chẳng ai khiêu khích!" Họ kêu rần. |
|
2628. Tañca rājā vivāhesi samhā
raṭṭhāto khattiyo,
yāvatā vijitaṃ mayhaṃ na te vatthabba tāvade.
|
2628. Và đức vua, vị Sát-đế-lỵ,
đă trục xuất hoàng tử ra khỏi xứ sở của ḿnh (nói rằng): “Con
không được sống ở trong lănh địa của trẫm.” |
17. Đại vương truyền bắt lấy
chàng ngay,
Khuất mắt phụ vương, phán lệnh đày:
"Con chẳng được t́m nơi trú ẩn
Trong vùng biên địa nước ta này!". |
|
2629. Tato so bhariyaṃ ādāya
samuddaṃ upasaṅkami,
paṇṇasālaṃ karitvāna vanaṃ uñchāya pāvisi.
|
2629. Sau đó, vị hoàng tử ấy đă
mang theo người vợ rồi đi về phía bờ biển. Vị ấy đă tạo nên một
gian nhà lá, rồi đă đi vào rừng để thu nhặt củ quả. |
18. Chàng đem vợ quư nọ lên đường
Cho đến khi dừng cạnh đại dương,
Tại đó chàng xây lều lợp lá,
Sống bằng của nhặt ở rừng hoang. |
|
2630. Athettha isimāgañchi
samuddaṃ uparūpari,
so tassa gehaṃ pāvekkhi bhattakāle upaṭṭhite.
|
2630. Rồi có vị ẩn sĩ đă lướt đi
ở ngay trên mặt biển và đến tại nơi này,. Vị ấy đi vào căn nhà
của hoàng tử vào lúc bữa ăn đă cận kề. |
19. Một đạo nhân thanh tịnh lượt
ngang
Bay qua biển cả, giữa không gian,
Đi vào lều lá sao vừa lúc
Cơm nước vừa đem dọn sẵn sàng. |
|
2631. Tañca bhariyā palobhesi
passa yāva sudāruṇaṃ,
cuto so brahmacariyamhā iddhiyā parihāyatha.
|
2631. Và người vợ đă cám dỗ vị ẩn
sĩ ấy. Hăy nh́n xem việc làm vô cùng tàn nhẫn đến chừng nào! Vị
ấy đă bị ĺa khỏi Phạm hạnh và đă mất hẳn thần thông. |
20. Cô nàng kia quyến rủ ngài
ngay,
Xem việc làm sao hạ liệt thay!
Ngài đọa khỏi con đường Thánh hạnh,
Mọi thần thông lực thảy xa bay! |
|
2632. Rājaputto ca uñchāto
vanamūlaphalaṃ bahuṃ,
sāyaṃ kājena ādāya assamaṃ upasaṅkami.
|
2632. C̣n vị hoàng tử, vào buổi
chiều, đă dùng giỏ đeo vai mang vác nhiều rễ và trái cây rừng do
việc thu nhặt, rồi đă đi về lại khu ẩn cư.
|
21. Chiều đến, khi vương tử trở
về,
Do chàng thâu nhặt thật tràn trề
Quả rau, một đống trên đ̣n gánh,
Đồ vật rừng hoang đă phủ phê! |
|
2633. Isī ca khattiyaṃ disvā
samuddaṃ upasaṅkami,
vehāsayaṃ gamissanti sīdate so mahaṇṇave.
|
2633. Và vị ẩn sĩ, sau khi nh́n
thấy vị Sát-đế-lỵ, đă đi về phía biển cả (nghĩ rằng): ‘Ta sẽ ra
đi bằng đường không trung;’ vị ấy ch́m xuống ở đại dương.
|
22. Ẩn sĩ nh́n vương tử đến gần,
Ngài ra bờ biển vội rời chân,
Ngỡ là hành cước qua không khí,
Song chỉ ch́m sâu xuống biển dần! |
|
2634. Khattiyo ca isiṃ disvā
sīdamānaṃ mahaṇṇave,
tasseva anukampāya imā gāthā abhāsatha.
|
2634. C̣n vị Sát-đế-lỵ, sau khi
nh́n thấy vị ẩn sĩ đang ch́m xuống ở đại dương, v́ ḷng thương
xót đối với chính vị ấy, đă nói những lời kệ này:
|
23. Vương tử vừa khi thấy trí
nhân
Vào trong biển cả cứ ch́m thân,
Từ tâm khởi dậy trong vương tử,
Liền đó chàng ngâm kệ mấy vần: |
|
2635. Abhijjamāne vārismiṃ sayaṃ
āgamma iddhiyā,
missībhāvitthiyā gantvā saṃsīdasi mahaṇṇave.
|
2635. “Sau khi tự ḿnh đi đến
bằng thần thông ở mặt nước không bị xao động, sau khi đi đến
trạng thái chung chạ cùng với phụ nữ, ngài ch́m xuống ở đại
dương.
|
24. Ngài phi hành đến bởi thần
thông
Trên biển không buồm để ruổi dong,
Ch́m xuống giờ đây, v́ ác phụ,
Khiến ngài chịu nhục nhă tiêu vong. |
|
2636. Āvaṭṭanī mahāmāyā
brāhmacariyavikopanā,
sīdanti naṃ viditvāna ārakā parivajjaye.
|
2636. Có sức quyến rũ, có nhiều
xảo trá, có sự làm tổn hại Phạm hạnh, các nàng ấy (sẽ) đọa (địa
ngục); sau khi biết được điều ấy, nên lánh xa các nàng. |
25. Phản bội, hồng quần cám dỗ
ta,
Khiến người thanh tịnh nhất sa đà!
Chúng ch́m dần xuống và dần xuống,
Ai biết hồng quần phải tránh xa! |
|
2637. Analā mudusambhāsā duppūrā
tā nadīsamā,
sīdanti naṃ viditvāna ārakā parivajjaye.
|
2637. Các nàng ấy có lối nói mềm
mỏng, không hề biết đủ, tựa như ḍng sông, khó làm cho tràn đầy,
các nàng ấy (sẽ) đọa (địa ngục); sau khi biết được điều ấy, nên
lánh xa các nàng.
|
26. Nói ngọt ngào, song khó thỏa
ḷng,
Cũng như khó đổ nước đầy sông,
Chúng ch́m dần xuống và dần xuống,
Ai biết, nên xa lánh má hồng! |
|
Trang 70:
|
Trang 71:
|
|
2638. Yaṃ etā upasevanti chandasā
vā dhanena vā,
jātavedova saṇṭhānaṃ khippaṃ anudahanti taṃ.
|
2638. Các nàng hầu hạ người nào,
dầu do sự mong muốn hay v́ tài sản, các nàng thiêu hủy người ấy
một cách mau chóng, tựa như ngọn lửa đốt cháy nhiên liệu.”
|
27. Bất kể hồng nhan phục vụ ai,
Hoặc v́ tham dục hoặc tiền tài,
Chúng thiêu chàng rụi như nhiên liệu
Được thả cháy trong lửa sáng ngời! |
|
2639. Khattiyassa vaco sutvā
isissa nibbidā ahu,
laddhā porāṇakaṃ maggaṃ gacchate so vihāyasaṃ.
|
2639. Sau khi lắng nghe lời nói
của vị Sát-đế-lỵ, sự nhàm chán (các dục) đă sanh khởi đến vị ẩn
sĩ. Sau khi đạt được đạo lộ cũ, vị ấy ra đi bằng đường không
trung.
|
28. Ẩn sĩ nghe lời thái tử
khuyên,
Chán chê trần thế quả hư huyền,
Trở về Thánh đạo xưa thanh tịnh,
Ngay giữa không gian đứng vụt liền. |
|
2640. Khattiyo ca isiṃ disvā
gacchamānaṃ vihāyasaṃ,
saṃvegaṃ alabhī dhīro pabbajjaṃ samarocayi.
|
2640. C̣n vị Sát-đế-lỵ, sau khi
nh́n thấy vị ẩn sĩ đang ra đi bằng đường không trung, bậc sáng
trí đă đạt đến trạng thái chấn động, đă vui thích việc xuất gia.
|
29. Vương tử vừa khi đứng ngắm
trông
Cách ngài bay bổng giữa hư không,
Buồn phiền, vương tử liền cương quyết
Lựa chọn đời thanh tịnh vững ḷng. |
|
2641. Tato so pabbajitvāna
kāmarāgaṃ virājayi,
kāmarāgaṃ virājetvā brahmalokūpago ahū ”ti.
|
2641. Sau đó, khi đă xuất gia, vị
ấy đă dứt trừ sự luyến ái ở các dục. Sau khi đă dứt trừ sự luyến
ái ở các dục, vị ấy đă đạt đến thế giới Phạm Thiên.
|
30. Chuyển hướng tu hành, quyết
đập tan
Dục tham và khát vọng nồng nàn,
Dục tham lắng dịu, chàng thề nguyện:
"Đến cơi Phạm thiên, tiến thẳng đàng".
Câu chuyện
507 |
|
Mahāpalobhanajātakaṃ.
*** |
Bổn sanh Sự
Cám Dỗ Lớn. [507]
*** |
|
12.
PAÑCAPAṆḌITAPAÑHO |
12. CÂU HỎI DÀNH
CHO NĂM BẬC NHÂN SĨ
|
508. Chuyện năm
vị Hiền nhân
(Tiền thân
Panca-Pandita) |
|
2642. Pañca paṇḍitā samāgatā
pañho me paṭibhāti taṃ suṇātha,
nindiyamatthaṃ pasaṃsiyaṃ vā
kassevāvikareyya guyhamatthaṃ.
|
2642. “Năm bậc nhân sĩ đă tụ hội
lại. Có câu hỏi lóe lên ở trẫm, các vị hăy lắng nghe điều ấy. Có
nên bày tỏ việc cần phải giấu kín đến người nào khác, cho dầu là
việc đáng bị chê bai hay là việc đáng được khen ngợi?” |
54. Năm vị hiền nhân họp buổi
nay,
Vấn đề trẫm chợt nghĩ, nghe đây:
Cùng ai, bí mật nên bày tỏ,
Dù tốt xấu, hay dở, nói ngay! |
|
2643. Tvaṃ no āvikarohi bhūmipāla
bhattā bhārasaho tuvaṃ vadetaṃ,
tava chandañca ruciñca sammasitvā
atha vakkhanti janinda pañca dhīrā.
|
2643. “Tâu đấng hộ quốc, xin bệ
hạ hăy bày tỏ với chúng thần. Bệ hạ là chủ nhân, là người nâng
đỡ gánh nặng cho chúng thần, xin bệ hạ hăy nói ra. Tâu vị chúa
của loài người, sau khi nắm bắt được mong muốn và ư thích của bệ
hạ, khi ấy năm vị sáng trí sẽ phát biểu.” |
55. Xin Đại vương cho biết ư
trời,
Muôn tâu Chúa thượng ở trên đời,
Là người bảo hộ, cưu mang nặng,
Năm trí giả mong hiểu ư ngài,
Cùng sở thích ngài, xin hăy nói,
Muôn tâu chúa tể cơi trần ai! |
|
2644. Yā sīlavatī anaññadheyyā
bhattucchandavasānugā manāpā,
nindiyamatthaṃ pasaṃsiyaṃ vā
bhariyāyāvikareyya guyhamatthaṃ.
|
2644. “Cho dầu là việc đáng bị
chê bai hay là việc đáng được khen ngợi, nên bày tỏ việc cần
phải giấu kín đến người vợ, (nếu) nàng là người có giới hạnh,
không thể bị xúi giục bởi người khác, hợp ư, chiều theo sự mong
muốn và mệnh lệnh của chồng.” |
56. Nếu nữ nhân đức hạnh phục
tùng,
Tuân theo ư nguyện của phu quân,
Đầy t́nh thân ái th́ nên nói,
Điều bí mật, hay dở mặc ḷng! |
|
2645. Yo kicchagatassa āturassa
saraṇaṃ hoti gatī parāyaṇañca,
nindiyamatthaṃ pasaṃsiyaṃ vā
sakhinovāvikareyya guyhamatthaṃ.
|
2645. “Cho dầu là việc đáng bị
chê bai hay là việc đáng được khen ngợi, nên bày tỏ việc cần
phải giấu kín đến người bạn, (nếu) vị ấy là nơi nương tựa, nơi
đi đến, nơi nâng đỡ của người gặp khó khăn, của người bị bệnh.” |
57. Ai bảo vệ người bệnh khốn
cùng,
Là nguồn cấp dưỡng, chốn nương thân,
Th́ nên bày tỏ cùng thân hữu.
Điều bí mật, hay dở mặc ḷng. |
|
2646. Jeṭṭho atha majjhimo
kaṇiṭṭho
so ce sīlavato samāhito ṭhitatto,
nindiyamatthaṃ pasaṃsiyaṃ vā
bhātuvāvikareyya guyhamatthaṃ.
|
2646. “Cho dầu là việc đáng bị
chê bai hay là việc đáng được khen ngợi, nên bày tỏ việc cần
phải giấu kín đến anh em trai, là người anh cả, anh thứ, hay em
út, nếu người ấy có giới hạnh, trầm tĩnh, có bản tánh kiên
định.” |
58. Dù già hay trẻ, hoặc trung
niên,
Nếu chú em đức hạnh, đáng khen,
Với chú em này, điều bí mật,
Dù là tốt xấu, hăy nêu lên. |
|
Trang 72:
|
Trang 73:
|
|
2647. Yo ve hadayassa paddhagu
anujāto pitaraṃ anomapañño,
nindiyamatthaṃ pasaṃsiyaṃ vā
puttassāvikareyya guyhamatthaṃ.
|
2647. “Cho dầu là việc đáng bị
chê bai hay là việc đáng được khen ngợi, nên bày tỏ việc cần
phải giấu kín đến người con trai, là người tuân phục sự sai bảo
của cha, người con tiếp nối sự nghiệp của cha, có trí tuệ không
kém cỏi.” |
59. Khi đứa con vâng phục ư cha,
Con trai thành thật, trí cao xa,
Với con như vậy, th́ nên nói,
Điều bí mật, dù tốt xấu mà. |
|
2648. Mātā dipadā janindaseṭṭha
yā taṃ poseti chandasā piyena,
nindiyamatthaṃ pasaṃsiyaṃ vā
mātuyāvikareyya guyhamatthaṃ.
|
2648. “Tâu vị chúa tối thượng của
loài người có hai chân, cho dầu là việc đáng bị chê bai hay là
việc đáng được khen ngợi, nên bày tỏ việc cần phải giấu kín đến
người mẹ, là người mẹ nuôi dưỡng kẻ ấy với sự mong mỏi, với sự
yêu mến.” |
60. Muôn tâu Chúa tể của quần
sinh,
Nếu mẹ yêu con thật tận t́nh,
Đối với mẹ này, điều bí mật
Dở hay, có thể nói cho rành. |
|
2649. Guyhassa hi guyhameva sādhu
na hi guyhassa pasatthamāvikammaṃ,
anipphādāya saheyya dhīro
nipphannattho yathāsukhaṃ bhaṇeyya.
|
2649. “Riêng đối với việc cần
phải giấu kín, chỉ có việc giấu kín là tốt, bởi v́ đối với việc
cần phải giấu kín, sự bày tỏ là không được khen ngợi. Khi việc
chưa được hoàn tất, vị sáng trí nên chịu đựng; khi việc đă được
hoàn tất, th́ có thể nói một cách thoải mái.” |
61. Giữ ǵn bí mật chính là hay,
Chẳng đáng khen cơ mật tỏ bày,
Người khôn phải giữ điều thầm kín,
Khi việc chưa thành tựu, khéo thay!
Sau lúc thực hành điều bí mật,
Khi người muốn, có thể nêu ngay. |
|
2650. Kinnu tvaṃ vimanosi
rājaseṭṭha
dipadinda vacanaṃ suṇoma netaṃ,
kiṃ cintayamāno dummanosi
nūna deva aparādho atthi mayhaṃ.
|
2650. “Tâu chúa thượng, việc ǵ
khiến bệ hạ ưu tư? Tâu vị chúa của loài người, bọn thiếp không
nghe nói ǵ về việc ấy. Trong khi suy nghĩ về việc ǵ mà ngài
phiền muộn? Tâu bệ hạ, không lẽ thiếp có lỗi lầm ǵ chăng?” |
62. V́ sao lo lắng, tâu Quân
vương?
Thần thiếp chẳng nghe giọng Chúa công,
Hoàng thượng nghĩ ǵ sinh khổ năo,
Có ǵ lầm lỗi, thiếp làm chăng? |
|
2651. Pañño vajjho mahosadhoti
āṇatto me vadhāya bhūripaññā,
taṃ cintayanto dummanosmi
na hi devi aparādho atthi tuyhaṃ.
|
2651. “‘Kẻ có trí Mahosadha đáng
bị giết chết,’ (nghe vậy) trẫm đă ra lệnh hành quyết bậc có trí
tuệ uyên bác. Trong khi suy nghĩ về việc ấy khiến trẫm phiền
muộn. Này hoàng hậu, nàng chẳng có lỗi lầm ǵ.” |
63. Chúng tâu: "Trí giả Đại
Sa-dha
Phải bị giết ngay v́ đức vua",
Đệ nhất hiền nhân, ta xử trảm,
Khi ta nghĩ vậy, trí buồn lo.
Không ǵ lầm lỗi từ khanh cả,
Hỡi ái hậu yêu dấu của ta. |
|
2652. Abhidosagato idāni esi
kiṃ sutvā kimāsaṅkate mano te,
ko te kimavoca bhūripañña
iṅgha taṃ vacanaṃ suṇoma brūhi metaṃ.
|
2652. “Tối hôm qua khanh đă ra
về, bây giờ khanh đi đến. Khanh đă nghe điều ǵ? Ư của khanh
nghi ngờ điều ǵ? Này bậc có trí tuệ uyên bác, người nào đă nói
điều ǵ với khanh? Nào, hăy cho chúng ta nghe lời nói ấy. Khanh
hăy nói điều ấy với trẫm.” |
64. Chiều tối hôm qua, con đă đi,
Bây giờ lại đến, hỡi vương nhi!
Điều ǵ lo sợ trong tâm trí,
Hoặc giả con nghe nói những ǵ?
Ai bảo con làm, này Trí giả,
Nào ta lắng đợi, nói ngay đi! |
|
2653. Pañño vajho mahosadhoti
yadi te mantayitaṃ janinda dosaṃ,
bhariyāya rahogato asaṃsi
guyhaṃ pātukataṃ sutaṃ mametaṃ.
|
2653. “Tâu vị chúa của loài
người, nếu điều đă được nói ra bởi bệ hạ tối hôm qua rằng: ‘Kẻ
có trí Mahosadha đáng bị giết chết,’ rồi bệ hạ đă tiết lộ cho
người vợ ở nơi kín đáo. (Như thế) việc cần phải giấu kín đă được
rơ ràng, (bởi v́) thần đă nghe được điều ấy. |
65. Bậc hiền trí Đại O-sadha,
Phải bị giết ngay, nếu tối qua,
Ngài kể chuyện này cho chánh hậu,
Th́ điều bí mật bị phơi ra! |
|
2654. Yaṃ sālavanasmiṃ senako
pāpakammaṃ akāsi asabbhirūpaṃ,
sakhinova rahogato asaṃsi
guyhaṃ pātukataṃ sutaṃ mametaṃ.
|
2654. Việc Senaka đă làm hành
động xấu xa, có h́nh thức không tốt lành, ở khu rừng cây sāla,
rồi đă tiết lộ cho người bạn ở nơi kín đáo. (Như thế) việc cần
phải giấu kín đă được rơ ràng, (bởi v́) thần đă nghe được điều
ấy. |
66. Tội ác bạo tàn Se-na-ka,
Đă làm trong bụi rậm Sà-la,
Lăo cho bạn biết nơi thầm kín,
Thần đă nghe: cơ mật lộ ra! |
|
Trang 74:
|
Trang 75:
|
|
2655. Pukkusapurisassa te janinda
uppanno rogo arājayutto,
bhātucca rahogato asaṃsi
guyhaṃ pātukataṃ sutaṃ mametaṃ.
|
2655. Tâu vị chúa của loài người,
Pukkusa, người của bệ hạ, đă bị phát khởi chứng bệnh (phong
cùi), không thích hợp để đức vua chạm đến. Lăo đă tiết lộ cho
người em trai ở nơi kín đáo. (Như thế) việc cần phải giấu kín đă
được rơ ràng, (bởi v́) thần đă nghe được điều ấy. |
67. Trong người này, lăo
Pu-ku-sa,
Có một bệnh không thích hợp cho,
Một đấng quân vương nào đụng chạm,
Lăo đem bí mật nói riêng tư,
Cho em ḿnh biết, điều thầm kín,
Thần đă nghe, được tiết lộ ra. |
|
2656. Ābādhoyaṃ asabbhirūpo
kāvindo naradevena phuṭṭho,
puttassa rahogato asaṃsi
guyhaṃ pātukataṃ sutaṃ mametaṃ.
|
2656. Căn bệnh này có h́nh thức
không tốt lành, Kāvinda bị ám ảnh bởi Dạ-xoa Naradeva. Lăo đă
tiết lộ cho người con trai ở nơi kín đáo. (Như thế) việc cần
phải giấu kín đă được rơ ràng, (bởi v́) thần đă nghe được điều
ấy. |
68. Kẻ kia bệnh hoạn, tính tà
gian,
Bị quỷ Na-ra ám ảnh tâm,
Lăo nói cho con điều bí mật,
Thần nghe bí mật bị phơi trần! |
|
2657. Aṭṭhavaṅkaṃ maṇiratanaṃ
uḷāraṃ
sakko te adadā pitāmahassa
devindassa gataṃ tadajja hatthaṃ
mātucca rahogato asaṃsi
guyhaṃ pātukataṃ sutaṃ mametaṃ.
|
2657. Thiên chủ Sakka đă cho đến
ông nội của bệ hạ viên bảo ngọc ma-ni tuyệt hảo, có tám mặt. Hôm
nay, viên ngọc ấy đă rơi vào tay của Devinda. Lăo đă tiết lộ cho
người mẹ ở nơi kín đáo. (Như thế) việc cần phải giấu kín đă được
rơ ràng, (bởi v́) thần đă nghe được điều ấy.
|
69. Bát giác ngọc thần ấy thuở
xưa,
Thượng hoàng được tặng bởi Sak-ka,
De-vin-da giữ trong tay lăo,
Lăo kể chuyện kia với mẹ già,
Trong chỗ kín, thần nghe thấy được,
Điều cơ mật ấy được phôi ra! |
|
2658. Guyhassa hi guyhameva sādhu
na hi guyhassa pasatthamāvikammaṃ,
anipphādāya saheyya dhīro
nipphannattho yathāsukhaṃ bhaṇeyya.
|
2658. Riêng đối với việc cần phải
giấu kín, chỉ có việc giấu kín là tốt, bởi v́ đối với việc cần
phải giấu kín, sự bày tỏ là không được khen ngợi. Khi việc chưa
được hoàn tất, vị sáng trí nên chịu đựng; khi việc đă được hoàn
tất, th́ có thể nói một cách thoải mái. |
70. Giữ điều bí mật mới là hay,
Bí mật không nên được tỏ bày,
Người trí phải duy tŕ bí mật,
Khi người thành tựu mục tiêu này,
Th́ người hăy nói như ḿnh muốn. |
|
2659. Na guyhamatthaṃ vivareyya
rakkheyya naṃ yathā nidhiṃ,
na hi pātukato sādhu guyho attho pajānatā.
|
2659. Không nên bộc lộ điều cần
được giấu kín; nên bảo vệ nó như là của chôn giấu. Bởi v́, người
có sự nhận thức làm rơ ràng điều cần được giấu kín là không tốt
đẹp. |
Vậy chớ phơi ra bí mật vầy,
Phải giữ nó như kho bảo vật,
Người khôn chẳng lộ việc riêng tây. |
|
2660. Thiyā guyhaṃ na saṃseyya
amittassa ca paṇḍito,
yo cāmisena saṃhīro hadayattheno ca yo naro.
|
2660. Vị sáng suốt không nên tiết
lộ bí mật cho phụ nữ, cho kẻ đối nghịch, là hạng có thể bị mua
chuộc bởi tài vật và hạng người giả vờ kết thân. |
71. Người trí chẳng nên nói lộ
ra,
Một điều bí mật với đàn bà,
Với cừu địch, người ham tư lợi,
Hoặc bởi t́nh thân ái thiết tha. |
|
2661. Guyhamatthamasaṃbuddhaṃ
saṃbodhayati yo naro,
mantabhedabhayā tassa dāsabhūto titikkhati.
|
2661. Người nào cho biết việc cần
phải giấu kín đến kẻ không biết
do nỗi sợ hăi về chú thuật hay
về sự đổ vỡ quan hệ đối với kẻ ấy, th́ phải chịu đựng thân phận
làm nô lệ (cho kẻ biết được ấy). |
Người tiết lộ ra điều bí mật,
V́ lo sợ bạn chẳng tin ta,
Về sau phải chịu làm nô lệ,
Cho chính kẻ kia thật dại khờ! |
|
2662. Yāvanto purisassatthaṃ
guyhaṃ jānanti mantitaṃ,
tāvanto tassa ubbegā tasmā guyhaṃ na vissaje.
|
2662. Càng có nhiều kẻ biết được
điều cần được giấu kín của một người (do) đă được thổ lộ, th́
càng có nhiều kích động đối với người ấy; v́ thế, không nên thố
lộ điều bí mật.
|
72. Càng nhiều người biết chuyện
riêng tư,
Càng có thêm nhiều mối sợ lo,
Vậy chẳng nên phơi bày bí mật, |
|
2663. Vivicca bhāseyya divā
rahassaṃ
rattiṃ giraṃ nātivelaṃ pamuñce,
upassutikā hi suṇanti mantaṃ
tasmā manto khippamupeti bhedan ”ti.
|
2663. Vào ban ngày, nên tách ly
rồi mới nói điều bí mật, vào ban đên không nên thốt ra lời quá
nhiều thời gian. Bởi v́ những kẻ nghe lén lắng nghe điều thố lộ;
v́ thế, điều thố lộ mau chóng đi đến việc ṛ rỉ.”
|
Ban ngày hăy đến một nơi xa,
Nói điều bí mật, c̣n đêm tối,
Hăy nói giọng nho nhỏ ấy mà,
V́ lắm người nghe lời nói ấy,
Nên lời ấy thoáng chốc tuôn ra.
Câu chuyện
508 |
|
Pañcapaṇḍitapañho.
*** |
Câu Hỏi
Dành Cho Năm Bậc Nhân Sĩ.
[508]
*** |
|
Trang 76:
|
Trang 77:
|
|
13.
HATTHIPĀLAJĀTAKAṂ
|
13. BỔN SANH
VƯƠNG TỬ HATTHIPĀLA
|
509. Chuyện Hiền
giả quản tượng
(Tiền thân
Hatthipàla) |
|
2664. Cirassaṃ vata passāma
brāhmaṇaṃ devavaṇṇinaṃ,
mahājaṭaṃ khāridharaṃ paṅkadantaṃ rajassiraṃ.
|
2664. “Quả thật đă lâu lắm chúng
tôi mới nh́n thấy vị Bà-la-môn có dáng vóc Thiên thần, có bện
tóc to, đang mang túi vật dụng, có răng bị đóng bợn, có đầu lấm
bụi. |
1. Cuối cùng thấy được Bà-la-môn
Đầu tóc búi to, tựa Thánh thần,
Răng bẩn, hôi dơ đầy bụi bặm,
Lại gồng gánh nặng nhọc trên lưng. |
|
2665. Cirassaṃ vata passāma isiṃ
dhammaguṇe rataṃ,
kāsāyavatta vasanaṃ vākacīraṃ paṭicchadaṃ.
|
2665. Quả thật đă lâu lắm chúng
tôi mới nh́n thấy vị ẩn sĩ thỏa thích trong đức hạnh của thiện
pháp, mặc vải màu ca-sa, che thân bằng y phục sợi vỏ cây. |
2. Cuối cùng thấy được một hiền
nhân
Vui thú theo đường lối chánh chân
Với vỏ cây làm y phủ kín,
Và thêm một chiếc nữa màu vàng. |
|
2666. Āsanaṃ udakaṃ pajjaṃ
patigaṇhātu no bhavaṃ,
agghe bhavantaṃ pucchāma agghaṃ kurutu no bhavaṃ.
|
2666. Thưa đại đức, xin ngài hăy
thọ nhận chỗ ngồi, nước rửa chân, dầu thoa chân của chúng tôi.
Chúng tôi hỏi dâng đại đức các vật có giá trị, thưa đại đức, xin
ngài hăy làm vẻ vang cho chúng tôi (bằng sự thọ nhận).” |
3. Xin nhận tọa sàng nước rửa
chăn,
Thật là chân chánh lúc đem dâng,
Tặng nhiều thực phẩm chư hiền khách,
Xin nhận, v́ gia chủ đón mừng. |
|
2667. Adhicca vede pariyesa
vittaṃ
putte gehe tāta patiṭṭhapetvā,
gandhe rase paccanubhuyya sabbaṃ
araññaṃ sādhu muni so pasattho.
|
2667. “Này con, sau khi đă học
các kinh Vệ Đà, con hăy tầm cầu của cải. Sau khi đă ổn định về
con cái và nhà cửa, sau khi đă hưởng thụ các hương, các vị, và
mọi thứ (vật dục), khu rừng là (sự chọn lựa) tốt đẹp (cho vị
xuất gia lúc tuổi già); vị hiền trí ấy được ca ngợi. |
4. Học Vệ-đà kinh, việc trước
tiên,
Làm giàu và cướp vợ vầy duyên,
Nhiều con, hưởng thú vui trần thế,
Thanh, sắc cùng hương, vị, xúc êm,
Sau đó ẩn cư rừng khả ái,
Thế là người trí xứng danh hiền. |
|
2668. Vedā na saccā na ca
vittalābho
na puttalābhena jaraṃ vihanti,
gandhe rase muñcanamāhu sante
sakammanā hoti phalūpapatti.
|
2668. “Các kinh Vệ Đà không phải
là chân lư, và sự đạt được của cải cũng không phải. Con người
không tránh khỏi sự già do việc có được con cái. Các vị hiền
nhân đă nói về sự giải thoát đối với các hương và các vị. Sự
thành tựu quả báo là do nghiệp của bản thân.” |
5. Chân lư không sao lại đạt
thành
Từ vàng bạc hoặc Vệ-đà kinh,
Nhiều con chẳng khỏi thành già cả,
Có lối thoát ra mọi dục t́nh,
Như các trí nhân đều thấu suốt:
Gieo ǵ gặt nấy kiếp lai sinh. |
|
2669. Addhā hi saccaṃ vacanaṃ
tavetaṃ
sakammanā8 hoti phalūpapatti,
jiṇṇā ca mātāpitaro tavayime
passeyyu taṃ vassasataṃ arogaṃ.
|
2669. “Quả thật vậy, lời nói ấy
của con là sự thật. Sự thành tựu quả báo là do nghiệp của bản
thân. Mẹ và cha của con đă già, họ có thể nh́n thấy con sống
khỏe mạnh đến trăm tuổi.” |
6. Lời tự mồm con quả thật chân:
Đời sau ta gặt thứ đang trồng,
Hai thân con đó, nay già yếu
Song các người mong muốn thấy rằng
Cuộc sống trăm năm đầy hạnh phúc
An khang cho trẻ hưởng riêng phần. |
|
2670. Yassassa sakkhī maraṇena
rāja
jarāya metti naraviriyaseṭṭha,
yo cāpi jaññā na marissaṃ kadāci
passeyyu taṃ vassasataṃ ārogaṃ.
|
2670. “ Tâu bệ hạ, người nào có
thể có t́nh bạn với sự chết, (hoặc) có t́nh thân hữu với sự già,
tâu đấng tối thượng dũng mănh của loài người, và người nào lại
có thể biết được rằng ḿnh sẽ không chết vào bất cứ lúc nào, họ
có thể nh́n thấy bệ hạ sống khỏe mạnh đến trăm tuổi chăng? |
7. Kẻ nào khi chết, tấu Anh quân,
Có thể t́m ra một bạn thân,
Đă kư với tuổi già thỏa ước
Để cho người ấy chẳng từ trần,
Mong lời cầu nguyện trên Hoàng thượng
Dành bách niên kẻ đó hưởng phần. |
|
2671. Yathāpi nāvaṃ puriso
dakamhi
ereti cenaṃ upaneti tīraṃ,
evampi vyādhi satataṃ jarā ca
upanenti maccaṃ vasamantakassa.
|
2671. Cũng giống như người đàn
ông chèo chiếc thuyền ở trong nước và đưa nó đến gần bờ, cũng
tương tự như thế, bệnh và già thường xuyên đưa con người đến gần
quyền lực của Thần Chết.” |
8. Cũng giống như người lái vượt
ḍng,
Con thuyền sang bến nọ bên sông,
Phàm nhân đều vậy, không sao khỏi
Bệnh, lăo niên, rồi tử, mệnh chung. |
|
2672. Paṅko va kāmā palipo ca
kāmā
manoharā duttarā maccudheyyā,
etasmiṃ paṅke palipe vyasannā
hīnattarūpā na taranti pāraṃ.
|
2672. “Các dục tựa như đất bùn,
và các dục là đầm lầy, hấp dẫn, khó vượt qua, là lănh địa của Ma
Vương. Những người bị ch́m vào đất bùn, đầm lầy này có trạng
thái tâm hạ liệt, không vượt qua đến bờ kia.
|
9. Dục lạc là bùn bẩn, uế nhơ,
Tham tâm gây chết chóc, sầu tư,
Ai ch́m trong đám bùn vô trí
Không thể bước sang đến bến bờ. |
|
Trang 78:
|
Trang 79:
|
|
2673. Ayaṃ pure luddamakāsi
kammaṃ
svāyaṃ gahīto na hi mokkhito me,
orundhiyānaṃ parirakkhissāmi
māyaṃ puna luddamakāsi kammaṃ.
|
2673. Bản thân này trước đây đă
tạo nghiệp hung bạo. Quả thành tựu của nghiệp ấy con phải gánh
lấy, không bao giờ có sự thoát khỏi ác nghiệp đối với con. Con
sẽ ǵn giữ bản thân kỹ lưỡng bằng sự ngăn chặn. Chớ để bản thân
này tạo nghiệp hung bạo nữa.” |
10. Đây là kẻ đă chịu sầu tư,
Nó bị bắt giam trước đến giờ,
T́m lối thoát thân nào chẳng thấy;
Để không làm những chuyện như xưa
Từ nay con quyết ḷng xây dựng
Những bức tường không thể lọt vô. |
|
2674. Gāvaṃva naṭṭhaṃ puriso
yathā vane
pariyesatī rāja apassamāno,
evaṃ naṭṭho esukārī mamattho
sohaṃ kathaṃ na gaveseyya rāja.
|
2674. “Tâu bệ hạ, giống như người
t́m kiếm chỉ mỗi con ḅ bị lạc mất ở trong rừng mà không t́m
thấy, tương tự như vậy, tâu đức vua Esukārī, mục đích của thần
đă bị lạc mất, tâu bệ hạ, tại sao thần đây không t́m lại (và đi
theo đạo lộ của các anh trai)? |
11. Như t́m ḅ cái lạc trên
đường,
Bối rối, loanh quanh măi giữa rừng,
Cũng vậy, an vui con đă mất,
Sao c̣n do dự với phân vân,
Xin tâu Chúa thượng E-su rơ,
Khi bước đi t́m theo dấu chân? |
|
2675. Hiyyoti hīyati poso
paretha parihāyati,
anāgataṃ netamatthīti ñatvā
uppannaṃ chandaṃ kopanudeyya dhīro.
|
2675. Kẻ buông xuôi (nghĩ rằng):
‘Để ngày mai,’ rồi buông bỏ (nghĩ rằng): ‘Để ngày khác.’ Bậc
sáng trí, sau khi biết rằng: ‘Việc ǵ để ngày mai, việc ấy là
không có,’ rồi nên xúc tiến điều ước muốn đă được sanh khởi.”
|
12. Ngày mai! Kêu lớn gă ngu
nhân,
Gă thét: ngày mai! măi chẳng ngừng,
"Thời vị lai không c̣n sự nghiệp!"
Bậc hiền nhân vẫn cứ khuyên răn,
Chẳng bao giờ bậc hiền khinh rẻ
Thiện nghiệp nằm ngay đúng với tầm. |
|
2676. Passāmi vohaṃ dahariṃ
kumāriṃ
mattūpamaṃ ketakapupphanettaṃ,
abhuttabhoge paṭhame vayasmiṃ
ādāya maccu vajate kumāriṃ.
|
2676. “Thần quả có nh́n thấy
người thiếu nữ trẻ trung đang say đắm (cười nói), có cặp mắt (to
và dài) như bông hoa ketaka, ở vào giai đoạn đầu của cuộc đời
khi thú vui c̣n chưa được hưởng thụ, th́ tử thần đă đoạt lấy
người thiếu nữ rồi ra đi. |
13. Con thường trông thiếu nữ
xinh tươi,
Mắt sáng, say sưa với cuộc đời,
Chưa hưởng phần vui xuân mới hé:
Tử thần mang liễu yếu đi rồi! |
|
2677. Yuvā sujāto sumukho
sudassano
sāmo kusumbhaparikiṇṇamassu,
hitvāna kāme paṭigacca gehaṃ
anujāna maṃ pabbajissāmi deva.
|
2677. Thần trẻ tuổi, có ḍng dơi
cao sang, có khuôn mặt thanh tú, có vóc dáng đẹp, có làn da vàng
sẫm, có bộ râu tua tủa như nhụy bông hoa kusumbha. Tâu bệ hạ,
thần sẽ từ bỏ các dục, ĺa xa gia đ́nh, và xuất gia. Xin bệ hạ
cho phép thần.” |
14. Cũng vậy nhiều nam tử thật
sang,
Khôi ngô, cường tráng tuổi xuân quang,
Bao quanh những chiếc cằm đen nhánh
Xúm xít cḥm râu cứ mọc tràn
Con giă biệt đời người thế tục
Cùng bao dục lạc của trần gian,
Để làm ẩn sĩ, xin tha thứ,
Và hăy trở về chốn cố hương. |
|
2678. Sākhāhi rukkho labhate
samaññaṃ
pahīnasākhaṃ pana khāṇumāhu,
pahīnaputtassa mamajja hoti
vāseṭṭhi bhikkhācariyāya kālo.
|
2678. “Nhờ vào những cành cây mà
cây cối đạt được tên gọi riêng; hơn nữa, khi cành cây bị chặt bỏ
th́ người ta đă gọi là gốc cây. Này bà Vāseṭṭhī, khi đứa con
trai đă dứt bỏ (ra đi), th́ hôm nay là thời điểm thực hành hạnh
khất thực của ta.” |
15. Cái vật kia đâm lộc trổ cành,
Người ta gọi đó một cây xanh,
Chặt cành, chẳng phải là cây nữa,
Nó chỉ c̣n trơ trụi khúc ḿnh.
Người chẳng cháu con ǵ cũng vậy,
Hỡi phu nhân quư tộc cao danh,
Đây là thời điểm dành cho lăo
Sống cuộc đời tu tập Thánh hành. |
|
2679. Aghasmiṃ koñcāva yathā
himaccaye
tantāni jālāni padāḷeyya haṃsā,
gacchanti puttā ca patī ca mayhaṃ
sāhaṃ kathaṃ nānuvaje pajānaṃ.
|
2679. “Tựa như loài chim diệc di
chuyển ở không trung, giống như loài chim thiên nga phá vỡ các
mạng lưới đă được giăng mắc (bởi loài nhện) lúc đă hết mùa đông,
các con trai và người chồng của ta ra đi, tại sao ta đây, trong
khi nhận biết như thế, lại không đi theo họ?” |
16. Tháng ngày mưa gió đă qua,
Lưới kia đă bị thiên nga phá rồi,
Tự do bay lượn giữa trời,
Như đàn sếu hạc tung đôi cánh liền,
Vậy ta theo đúng đường thiêng
Chồng con đă bước, ta t́m tâm minh. |
|
2680. Ete bhutvā vamitvā ca
pakkamanti vihaṅgamā,
ye ca bhutvā na vamiṃsu te me hatthatthamāgatā.
|
2680. “Những con chim này sau khi
ăn, đă ói ra rồi bay đi; c̣n những con chim nào sau khi ăn mà
không ói ra, chúng đi đến ở trong bàn tay của thiếp.
|
17. Đám nọ đă ăn, đă mửa rồi!
Tự do bay lượn giữa bầu trời:
Đám kia ăn nán và lưu lại,
Giờ bị bắt giam bởi thiếp rồi. |
|
Trang 80:
|
Trang 81:
|
|
2681. Avamī brāhmaṇo kāme te tvaṃ
paccāvamissasi,
vantādo puriso rāja na so hoti pasaṃsiyo.
|
2681. Vị Bà-la-môn đă ói ra các
dục, không lẽ bệ hạ sẽ thụ hưởng các dục ấy sao? Tâu bệ hạ, kẻ
ăn vào vật đă được ói ra bởi kẻ khác, kẻ ấy không đáng được khen
ngợi.” |
18. Vị tế sư nôn hết dục tham,
Vật kia, Chúa thượng muốn ăn phàm?
Người ăn đồ mửa, tâu Hoàng thượng,
Xứng đáng chê bai cực tệ tàn! |
|
2682. Paṅkeva posaṃ palipe
vyasannaṃ
balī yathā dubbalaṃ uddhareyya,
evampi maṃ tvaṃ udatāri hoti
pañcāli gāthāhi subhāsitāhi.
|
2682. “Giống như người có sức
mạnh vớt lên người yếu đuối bị ch́m đắm từ chính vũng bùn ở
trong đầm lầy, cũng tương tự như vậy, này Pañcālī, nàng là người
đă nâng trẫm lên bằng những kệ ngôn được thốt ra khéo léo.”
|
19- Khác nào người lực sĩ can
cường
Giúp cánh tay v́ kẻ yếu hơn
Bị ch́m trong vũng bùn dơ bẩn,
Hay băi cát lầy đă lún thân.
Chánh hậu Pan-ca này cũng vậy,
Nàng vừa giải cứu đấng quân vương
Bằng nhiều vần kệ ngâm êm dịu
Như mật rót tai trẫm dịu dàng! |
|
2683. Idaṃ vatvā mahārājā esukārī
disampati,
raṭṭhaṃ hitvāna pabbaji nāgo chetvā va bandhanaṃ.
|
2683. Sau khi nói điều này, vị
đại vương Esukārī, bậc chúa tể một phương, đă từ bỏ vương quốc
rồi xuất gia, tựa như con voi đă giật đứt sự trói buộc rồi ra
đi. |
20. Như vậy, E-su-kà Đại vương
Nắm quyền nhiều lănh thổ, giang sơn
Từ vua, ngài hóa thành tu sĩ
Như thể voi vùng đứt bộ cương . |
|
2684. Rājā ca
pabbajjamarocayittha
raṭṭhaṃ pahāya naraviriyaseṭṭho,
tuvampi no hohi yatheva rājā
amhehi guttaṃ anusāsa rajjaṃ.
|
2684. “Đức vua đă ưa thích việc
xuất gia. Đấng tối thượng dũng mănh của loài người đă từ bỏ
vương quốc. Đối với chúng thần, hoàng hậu cũng giống y như là
đức vua. Hoàng hậu hăy trị v́ xứ sở đă được bảo vệ bởi chúng
thần.” |
21. An lạc thay là đấng Thánh
quân
Trở thành ẩn sĩ bỏ phàm trần
Chúng thần nay nguyện cầu hoàng hậu
Vào ngự trong ngôi vị đế vương
Xin hăy yêu thương toàn quốc độ,
Được tay pḥ trợ của quần thần. |
|
XXXX. Rājā ca
pabbajjamarocayittha
raṭṭhaṃ pahāya naraviriyaseṭṭho,
ahampi ekā carissāmi loke
hitvāna kāmāni manoramāni.
|
XXXX. “Đức vua đă ưa thích việc
xuất gia. Đấng tối thượng dũng mănh của loài người đă từ bỏ
vương quốc. Bổn cung cũng sẽ đơn độc sống ở thế gian, sau khi đă
từ bỏ các dục quyến rũ.
(Câu kệ này không có ở Tạng Sri
Lanka) |
22. An lạc thay là đấng Thánh
Quân
Trở thành ẩn sĩ, bỏ phàm trần
Bây giờ hăy biết rằng ta quyết
Tiến bước đơn thân giữa thế nhân
Cùng bao lạc thú đủ toàn phần. |
|
2685. Rājā ca
pabbajjamarocayittha
raṭṭhaṃ pahāya naraviriyaseṭṭho,
ahampi ekāva carissāmi loke
hitvāna kāmāni yathodhikāni.
|
2685. “Đức vua đă ưa thích việc
xuất gia. Đấng tối thượng dũng mănh của loài người đă từ bỏ
vương quốc. Bổn cung cũng sẽ đơn độc sống ở thế gian, sau khi đă
từ bỏ các dục c̣n nguyên vẹn (không đụng chạm đến). |
23. An lạc thay là đấng Thánh quân
Trở thành ẩn sĩ, bỏ phàm trần
Bây giờ hăy biết rằng ta quyết
Tiến bước đơn thân giữa thế nhân,
Bất cứ nơi nào c̣n ngũ dục
Ta đều vứt bỏ chúng toàn phần. |
|
2686. Accenti kālā tarayanti
rattiyo
vayoguṇā anupubbaṃ jahanti,
ahampi ekāva carissāmi loke
hitvāna kāmāni manoramāni.
|
2686. Các thời khắc (ban ngày) đi
qua, các đêm tối trôi qua, các giai đoạn của tuổi thọ lần lượt
từ bỏ. Bổn cung cũng sẽ đơn độc sống ở thế gian, sau khi đă từ
bỏ các dục quyến rũ. |
24. Thời gian trôi, sáng tối
không ngừng
Dung sắc thanh xuân phải úa dần
Nay hăy biết rằng ta đă quyết
Bước đi đơn độc giữa phàm trần
Giă từ khát vọng và tham ái
Cùng các thú vui đủ mọi phàm. |
|
2687. Accenti kālā tarayanti
rattiyo
vayoguṇā anupubbaṃ jahanti,
ahampi ekāva carissāmi loke
hitvāna kāmāni yathodhikāni.
|
2687. Các thời khắc (ban ngày) đi
qua, các đêm tối trôi qua, các giai đoạn của tuổi thọ lần lượt
từ bỏ. Bổn cung cũng sẽ đơn độc sống ở thế gian, sau khi đă từ
bỏ các dục c̣n nguyên vẹn (không đụng chạm đến). |
25. Thời gian trôi, sáng tối qua
dần
Phải úa tàn bao vẻ đẹp xuân
Nay hăy biết rằng ta quyết chí
Bước đi đơn độc giữa phàm trần
Nơi nào bất kể c̣n tham dục
Ta cũng rời xa chúng mọi phần |
|
2688. Accenti kālā tarayanti
rattiyo
vayoguṇā anupubbaṃ jahanti,
ahampi ekāva carissāmi loke
sītibhūtā sabbamaticca saṅgan ”ti.
|
2688. Các thời khắc (ban ngày) đi
qua, các đêm tối trôi qua, các giai đoạn của tuổi thọ lần lượt
từ bỏ. Bổn cung cũng sẽ đơn độc sống ở thế gian, có trạng thái
mát mẻ, sau khi đă vượt qua mọi sự quyến luyến.”
|
26. Thời gian trôi, sáng tối xoay
vần
Hương sắc thanh tân phải úa dần,
Nay hăy biết rằng ta ước nguyện
Bước đi đơn độc giữa phàm trần
Mọi dây ràng buộc đều quăng bỏ
Cũng chẳng c̣n uy lực dục tâm
Câu chuyện
509 |
|
Hatthipālajātakaṃ.
*** |
Bổn sanh
Vương Tử Hatthipāla. [509]
*** |
|
Trang 82:
|
Trang 83:
|
|
14.
AYOGHARAJĀTAKAṂ
|
14. BỔN SANH
T̉A
NHÀ SẮT
|
510. Chuyện vương
tử trong ngôi nhà sắt (Tiền thân Ayoghara) |
|
2689. Yamekarattiṃ paṭhamaṃ
gabbhe vasati māṇavo,
abbhuṭṭhitova sayati sagacchaṃ na nivattati.
|
2689. “Việc đầu tiên (của sự tục
sanh) là một đêm (hoặc một ngày), bào thai trú ở bụng mẹ. Ngay
khi đă được h́nh thành, nó (liên tục) phát triển. Trong khi tiến
triển, nó không dừng lại. |
1. Mầm sống, một khi nhập tử cung
Mới vừa khởi sự bước đầu xong
Nó liền tiến măi hoài liên tục
Sinh mệnh ḍng kia chẳng thể dừng. |
|
2690. Na yujjhamānā na balena
vassitā
narā na jīranti navāpi mīyare,
sabbaṃ hi taṃ jātijarāyupaddutaṃ
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2690. Không phải trong lúc chiến
đấu, không phải được trông cậy vào sức mạnh, mà con người không
già hoặc thậm chí không chết. Toàn bộ tất cả đều bị quấy nhiễu
bởi sự sanh và sự già. V́ thế, con có ư nghĩ rằng: ‘Ta phải thực
hành pháp tu tập.’ |
2. Không một quyền năng, chẳng
lực hùng
Giúp người tránh lăo tử sau cùng,
Mọi loài khổ lụy v́ sinh lăo,
Con quyết t́m thanh tịnh bản thân |
|
2691. Caturaṅginiṃ senaṃ
subhiṃsarūpaṃ
jayanti raṭṭhādhipatī pasayha,
na maccuno jayituṃ ussahanti
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2691. Các vua chúa của các xứ sở
(có thể) chiến thắng đoàn quân gồm bốn binh chủng có dáng vẻ vô
cùng khủng khiếp bằng vũ lực, nhưng không thể nào chiến thắng
đạo binh của Thần Chết. V́ thế, con có ư nghĩ rằng: ‘Ta phải
thực hành pháp tu tập.’ |
3. Đại vương chiến thắng bởi hùng
binh
Bốn đạo quân nh́n thật đáng kinh,
Song chẳng phá tan quân Diêm chúa
Nên con nguyền Phạm hạnh phần ḿnh |
|
2692. Hatthīhi assehi rathehi
pattihi
parivāritā muccare ekaceyyā,
na maccuno muccituṃ ussahanti
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2692. Được tháp tùng bởi các
tượng binh, xa binh, kỵ binh, và bộ binh, một số vua chúa (có
thể) được thoát khỏi (kẻ thù), nhưng không thể nào được thoát
khỏi đạo binh của Thần Chết. V́ thế, con có ư nghĩ rằng: ‘Ta
phải thực hành pháp tu tập.’ |
4. Dù mă, tượng, xa với đạo quân
Vây quanh, vài kẻ thoát nhanh chân;
Song không ai thoát tay thần chết
Con quyết đời thanh tịnh để phần. |
|
2693. Hatthīhi assehi rathehi
pattihi
sūrā pabhañjanti padhaṃsayanti,
na maccuno bhañjituṃ ussahanti
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2693. Cùng với các tượng binh, xa
binh, kỵ binh, và bộ binh, các dũng sĩ (có thể) phá tan, tiêu
diệt (kẻ thù), nhưng không thể nào phá vỡ đạo binh của Thần
Chết. V́ thế, con có ư nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu
tập.’ |
5. Với mă , tượng xă, các đạo
binh
Anh hùng tiêu diệt thảy tan tành.
Song không thấy có người nào đủ
Sức mạnh phá tan được tử h́nh;
V́ thế ḷng con nay đă quyết
Cuộc đời Phạm hạnh để cho ḿnh |
|
2694. Mattā gajā bhinnagaḷā
pabhinnā
nagarāni maddanti janaṃ hananti,
na maccuno maddituṃ ussahanti
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2694. Những con voi bị nổi cơn
dục, có dịch chất tiết ra (ở trán), bị giận dữ, (có thể) dẫm nát
các thành phố và giết hại dân chúng, nhưng không thể nào dẫm nát
đạo binh của Thần Chết. V́ thế, con có ư nghĩ rằng: ‘Ta phải
thực hành pháp tu tập.’ |
6. Voi điên, da đẫm ướt trên
đường
Phố xá dẫm tan, giết hại dân,
Song chẳng thấy người đầy thế lực
Dẫm ta, tiêu diệt tử ma vương;
Cho nên con quyết ḷng tu tập
Thanh tịnh đời riêng với bản thân. |
|
2695. Issāsino katahatthāpi dhīrā
dūrepātī akkhaṇavedhinopi,
na maccuno vijjhituṃ ussahanti
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2695. Những người bắn cung có
cánh tay đă được tập luyện, sáng trí, có khả năng bắn xa, có
phát bắn nhanh như tia chớp, nhưng không thể nào xuyên thủng đạo
binh của Thần Chết. V́ thế, con có ư nghĩ rằng: ‘Ta phải thực
hành pháp tu tập.’ |
7. Xạ thủ đại hùng, thiện xảo
thay,
Bắn như tia chớp tự xa bay,
Song con không thấy người thừa sức
Làm tổn thương được thần chết này
V́ thế ḷng con giờ quyết định
Theo đời thanh tịnh để phần đây. |
|
2696. Sarāni khīyanti
saselakānanā
sabbaṃ hi taṃ khīyati dīghamantaraṃ,
sabbaṃ hi taṃ bhañjare kālapariyaṃ
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2696. Các hồ nước, cùng với các
ngọn núi và các khu rừng đều bị tiêu hoại. Toàn bộ tất cả đều bị
tiêu hoại sau một thời gian dài. Toàn bộ tất cả đều tan vỡ theo
tŕnh tự của thời gian. V́ thế, con có ư nghĩ rằng: ‘Ta phải
thực hành pháp tu tập.’
|
8. Rừng núi, hồ sông với thạch
bàn
Không lâu để sụp đổ điêu tàn
Đúng thời, vạn vật thành không cả,
Con quyết đời thanh tịnh bước đàng. |
|
Trang 84:
|
Trang 85:
|
|
2697. Sabbesamevaṃ hi
narānanārinaṃ
calācalaṃ pāṇabhunodha jīvitaṃ,
paṭova dhuttassa dumova kūlajo
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2697. Bởi v́ mạng sống của tất cả
những người nam và nữ, của sinh linh ở thế gian này là bấp bênh
như vậy, tựa như tấm vải choảng của kẻ nghiện ngập, tựa như cây
cối sanh trưởng ở bờ vực. V́ thế, con có ư nghĩ rằng: ‘Ta phải
thực hành pháp tu tập.’ |
9. Giống như cây ở mé bờ sông
Bán áo, người say đổi rượu nồng
Cuộc sống muôn loài đều khổ cả,
Nên con quyết Phạm hạnh riêng phần |
|
2698. Dumapphalāneva patanti
māṇavā
daharā ca vuddhā ca sarīrabhedā,
nāriyo narā majjhimaporisā ca
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2698. Tựa như các trái ở trên cây
rụng xuống, các chúng sanh, bao gồm các phụ nữ, các nam nhân, và
những người bán nam bán nữ, ở tuổi non trẻ và già cả, khi có sự
tan ră thân xác đều ngă xuống. V́ thế, con có ư nghĩ rằng: ‘Ta
phải thực hành pháp tu tập.’ |
10. Tứ đại ră tan , chúng lụi
dần,
Trẻ già, nam nữ, cả nhân quần
Ngă như trái rụng v́ cây đổ;
Con quyết đời thanh tịnh bản thân |
|
2699. Nāyaṃ vayo
tārakarājasannibho
yadabbhatītaṃ gatamevadāni taṃ,
jiṇṇassa hi natthi ratī kuto sukhaṃ
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2699. Tuổi tác này không như mặt
trăng, chúa của các v́ sao (khuyết rồi lại tṛn), một khi nó đă
trôi qua, th́ nó đă đi qua hẳn vào khi ấy (không c̣n trở lại
nữa). Thật sự đối với người già cả, sự vui sướng (ở các dục)
không c̣n, làm sao có sự khoái lạc? V́ thế, con có ư nghĩ rằng:
‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’ |
11. Xuân của thế gian khác nữ
thần
Ngự trên tinh tú ấy cô Hằng
Chẳng bao giờ tuổi xuân về nữa
Đối với lăo niên kiệt quệ dần
Lạc thú ái ân nào có được?
Nên con quyết Phạm hạnh riêng phần. |
|
2700. Yakkhā pisācā athavāpi petā
kupitāpi te assasantī manusse,
na maccuno assasitussahanti
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2700. Các Dạ-xoa, các yêu tinh,
hoặc thậm chí các vong nhân, khi đă nổi giận, chúng thổi hơi
(làm mê man) con người, nhưng không thể nào thổi hơi (làm mê
man) đạo binh của Thần Chết. V́ thế, con có ư nghĩ rằng: ‘Ta
phải thực hành pháp tu tập.’ |
12. Ác quỷ thần tiên, lúc nổi sân
Phun luồng khí độc hại phàm nhân,
Song làn khí độc thần linh ấy
Chẳng giúp vào xô ngă tử thần
V́ vậy ḷng con giờ đă quyết
Cuộc đời thanh tịnh để riêng phần. |
|
2701. Yakkhe pisāce athavāpi pete
kupitepi te nijjhapanaṃ karonti,
na maccuno nijjhapanaṃ karonti
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2701. Con người (có thể) xoa dịu
các Dạ-xoa, các yêu tinh, hoặc thậm chí các vong nhân đă nổi
giận, nhưng không thể nào xoa dịu được đạo binh của Thần Chết.
V́ thế, con có ư nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’
|
13. Khi ác thần, yêu quái quỷ
tinh
Nổi sân, được vuốt dịu làm lành
Do người cúng bái; song không thể
Làm tử thần tan hết bất b́nh
V́ vậy giờ con đây quyết định
Cuộc đời thanh tịnh để phần ḿnh. |
|
2702. Aparādhake heṭhake dūsake
ca
rājāno daṇḍenti viditva dosaṃ,
na maccuno daṇḍayitussahanti
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2702. Các vị vua (có thể) trừng
trị những kẻ phạm tội, những kẻ quấy rối, và những kẻ hư hỏng,
sau khi biết được tội lỗi (của những kẻ ấy), nhưng không thể nào
trừng trị đạo binh của Thần Chết. V́ thế, con có ư nghĩ rằng:
‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’ |
14. Những người gây tội ác, hung
tàn
Khi lộ, bị h́nh phạt chúa ban
Song với tử thần, không thể phạt
Nên con nguyền Phạm hạnh lên đàng |
|
2703. Aparādhakā dūsakā heṭhakā
ca
labhanti te rājino nijjhapetuṃ,
na maccuno nijjhapanaṃ karonti
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2703. Những kẻ phạm tội, những kẻ
quấy rối, và những kẻ hư hỏng đạt được việc xoa dịu đối với các
vị vua của họ, nhưng không thể nào xoa dịu được đạo binh của
Thần Chết. V́ thế, con có ư nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp
tu tập.’ |
15. Những người gây tội ác đau
thương
T́m cách cản tay các đế vương
Song với tử thần tay lưỡi hái
Việc này xem quả thật vô phương.
Cho nên con quyết giờ đây chọn
Thanh tịnh đời con tiến thẳng đường |
|
2704. Na khattiyoti na pi
brāhmaṇoti
na aḍḍhakā balavā tejavāpi,
na maccurājassa apekhamatthi
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2704. Tử Thần không có sự mong
mỏi ở một chúng sanh nào, là ‘vị Sát-đế-lỵ’ cũng không, là ‘vị
Bà-la-môn’ cũng không, những người giàu có, những người có năng
lực, những người có uy quyền cũng không. V́ thế, con có ư nghĩ
rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’ |
16. Quân vương, vơ tướng,
Bà-la-môn
Những kẻ mang danh vị tối tôn,
Những đại phú gia, người thế lực
Tử thần cũng chẳng rũ ḷng thương
Cho nên con quyết từ đây sống
Phạm hạnh đời con đă chọn đường |
|
Trang 86:
|
Trang 87:
|
|
2705. Sīhāca vyagghāca athopi
dīpiyo
pasayha khādanti vipphandamānaṃ,
na maccuno khādituṃ ussahanti
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2705. Các con sư tử, các con cọp,
và luôn cả các con báo (có thể) dùng bạo lực nhai ngấu nghiến
con mồi đang giăy giụa, nhưng không thể nào nhai ngấu nghiến đạo
binh của Thần Chết. V́ thế, con có ư nghĩ rằng: ‘Ta phải thực
hành pháp tu tập.’ |
17. Cọp beo, sư tử chụp con
mồi
Tất cả đều ăn sống nuốt tươi
Cho dẫu con mồi mong giăy giụa
Tử thần đâu sợ hổ, sư nhai!
Cho nên con trẻ từ đây quyết
Phạm hạnh riêng con sống cả đời |
|
2706. Māyakārā raṅgamajjhe
karontā
mohenti cakkhūni janassa tāvade,
na maccuno mohayitussahanti
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2706. Những người làm ảo thuật,
trong khi biểu diễn ở giữa khán đài, đánh lừa các con mắt của
người xem vào lúc ấy, nhưng không thể nào mê hoặc được đạo binh
của Thần Chết. V́ thế, con có ư nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành
pháp tu tập.’ |
18. Kẻ xiếc trên sân khấu lộn
ṣng
Diễn tṛ lừa bịp mắt người trông
Muốn lừa thần chết, không mưu kế;
Thánh hạnh đời con đă quyết ḷng |
|
2707. Āsīvisā kupitā uggatejā
ḍasanti mārentipi te manusse,
na maccuno ḍasituṃ ussahanti
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2707. Các con rắn có nọc độc bị
nổi giận th́ có uy lực hung bạo. Chúng cắn và giết chết nhiều
người, nhưng không thể nào cắn được đạo binh của Thần Chết. V́
thế, con có ư nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’ |
19. Nọc độc rắn rồng lúc nổi
sân
Tấn công, giết lập tức người trần;
Nọc kia, thần chết không hề sợ;
Thanh tịnh đời con quyết chọn phần |
|
2708. Āsīvisā kupitā yaṃ ḍasanti
tikicchakā tesaṃ visaṃ hananti,
na maccuno daṭṭhavisaṃ hananti
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2708. Các con rắn có nọc độc bị
nổi giận rồi cắn người nào, các thầy thuốc (có thể) tiêu diệt
nọc độc của chúng, nhưng không thể nào tiêu diệt được nọc độc đă
cắn vào của Thần Chết. V́ thế, con có ư nghĩ rằng: ‘Ta phải thực
hành pháp tu tập.’ |
20. Nanh độc rắn dùng lúc nổi
sân,
Vị lương y có đủ tài năng
Làm tiêu tan hết xà công lực
Song chữa vết thương của Tử thần
Không một anh hùng nào đủ sức
Nên con quyết Phạm hạnh riêng phần |
|
2709. Dhammantarī vetaraṇī ca
bhojo
visāni hantvāna bhujaṅgamānaṃ,
sūyanti te kālakatā tatheva
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2709. Dhammantarī, Vetaraṇī, và
Bhoja được nổi tiếng sau khi tiêu diệt các nọc độc của những con
rắn. Họ đă qua đời tương tự y như thế. V́ thế, con có ư nghĩ
rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu tập.’ |
21. Lương y chữa nọc rắn tài
t́nh,
Đă chết, giờ đây khuất bóng h́nh:
Bố-giạ, Vệ-tài, Đa-mẫn nữa
Nên con quyết Phạm hạnh cho ḿnh |
|
2710. Vijjādharā ghoramadhīyamānā
adassanaṃ osadhehi vajanti,
na maccurājassa vajantadassanaṃ
tamme matī hoti carāmi dhammaṃ.
|
2710. Các nhà pháp thuật trong
khi học thần chú Ghora (có thể) tàng h́nh di chuyển nhờ vào các
phương thuốc, nhưng không thể nào tàng h́nh di chuyển đối với Ma
Vương. V́ thế, con có ư nghĩ rằng: ‘Ta phải thực hành pháp tu
tập.’ |
22. Vài kẻ tinh thông thuật,
chú thần,
Tàng h́nh đi trước mặt tha nhân,
Tuy nhiên không thể tàn h́nh măi
Mà tử thần trông thấy vẫn gần
V́ vậy ḷng con nay quyết định:
Cuộc đời thanh tịnh để riêng phần |
|
2711. Dhammo have rakkhati
dhammacāriṃ
dhammo suciṇṇo sukhamāvahāti,
esānisaṃso dhamme suciṇṇe
na duggatiṃ gacchati dhammacārī.
|
2711. Thật vậy, thiện pháp hộ tŕ
người có sự thực hành thiện pháp. Thiện pháp khéo được thực hành
đem lại sự an lạc. Điều này là quả báu khi thiện pháp khéo được
thực hành: Người có sự thực hành thiện pháp không đi đến cảnh
giới khổ đau. |
23. Bất cứ ai theo hạnh phúc
chánh chân
Đều là người được hưởng b́nh an,
Khéo hành chánh đạo nhiều công đức,
Hạnh phúc thay là bậc chánh nhân!
Chẳng bao giờ có người chánh hạnh
Rơi vào trong đọa xứ đau buồn |
|
2712. Na hi dhammo adhammo ca
ubho samavipākino,
adhammo nirayaṃ neti dhammo pāpeti suggatinti.
|
2712. Bởi v́ cả hai thiện pháp và
phi pháp không có quả thành tựu giống nhau. Phi pháp dẫn đến địa
ngục, thiện pháp giúp cho đạt được nhàn cảnh.” |
24. Đúng chăng nghiệp quả của
riêng ḿnh
Đều phải do tà, chánh phát sinh?
Tà hạnh dẫn người vào địa ngục
Chánh chân đưa đến cơi thiên đ́nh.
Câu chuyện
510 |
|
Ayogharajātakaṃ.
***
|
Bổn sanh
Ṭa
Nhà Sắt. [510]
*** |
TASSUDDĀNAṂ
Mātaṅga sambhūta sivi sirimanto
rohaṇa haṃsa sattigumbo bhallāṭiya,
somanassa campeyya brahma pañca
paṇḍita cirassaṃ vata ayogharāni.
|
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
Ẩn sĩ Mātaṅga, vị Sambhūta, đức
vua Sivi, vị Sirimanda,
nai Rohaṇa, chim thiên nga, chim két Sattigumba, vua Bhallāṭiya,
hoàng tử Somanassa, rồng chúa Campeyya, sự cám dỗ lớn,
năm bậc nhân sĩ, vương tử Hatthipāla, và các ṭa nhà sắt.
|
|
Vīsatinipāto niṭṭhito.
--ooOoo--
|
Nhóm Hai Mươi Kệ Ngôn được
chấm dứt.
--ooOoo--
|
|
<Trang trước> |
<Trang Kế> |