|
XXI.
ASĪTINIPĀTO - NHÓM TÁM MƯƠI KỆ NGÔN
|
|
Nguồn: Tam Tạng
Pāli - Sinhala thuộc Buddha Jayanti Tripitaka Series (BJTS) |
Lời tiếng Việt:
Tỳ khưu Indacanda |
|
Trang 322: |
Trang 323:
|
|
▪ 1.
CULLAHAṂSAJĀTAKAṂ
|
▪ 1. TIỂU BỔN
SANH THIÊN NGA |
533. Chuyện tiểu
Thiên nga
(Tiền thân
Cullahamsa) |
|
3825. Sumukha anupacinantā
pakkamanti vihaṅgamā,
gaccha tuvampi mā kaṅkhi natthi baddhe sahāyatā.
|
3825. “Này Sumukha, các con chim bay đi không ngó ngàng.
Ngươi cũng hăy đi đi, chớ ngần ngại. Không c̣n t́nh bằng hữu
(với ngươi ở nơi ta) khi ta đă bị dính bẫy.”
|
1. Bầy chim không để ư ǵ ta,
Vội vă chúng bay biến thật xa,
Chim bị giam t́m đâu bạn hữu?
Bay ngay, đừng ở nán đây mà. |
|
3826. Gacchevāhaṃ na vā gacche na
tena amaro siyaṃ,
sukhitaṃ taṃ upāsitvā dukkhitaṃ taṃ kathaṃ jahe.
|
|
2. Dù có đi hay ở vời ngài,
Ngày kia thần cũng phải ĺa đời,
Thần theo ngài thuở c̣n vinh hiển,
Lúc khổ đau không thể bước rời. |
|
3827. Maraṇaṃ vā tayā saddhiṃ
jīvitaṃ vā tayā vinā,
tadeva maraṇaṃ seyyo yañce jīve tayā vinā.
|
3827. Cái chết cùng với ngài hay là cuộc sống không có
ngài, nếu sống mà không có ngài th́ cái chết quả thật tốt hơn.
|
3. Hoặc thần phải chết với quân
vương,
Hoặc sống đời hiu quạnh đoạn trường,
Thà chết ngay đây th́ thật tốt
C̣n hơn sống để khóc bi thương. |
|
3828. Nesa dhammo mahārāja yaṃ
taṃ evaṃ gataṃ jahe,
yā gati tuyhaṃ sā mayhaṃ ruccate vihagādhipa.
|
|
4. Bỏ ngài không đúng nghĩa quân
thần,
Khi ở trong t́nh cảnh đáng buồn,
Thần sẽ rất hài ḷng măn nguyện
Cùng ngài chung số phận phong trần. |
|
3829. Kā nu pāsena baddhassa gati
aññā mahānasā,
sā kathaṃ cetayānassa muttassa tava ruccati.
|
|
5. Số phận nào cho chim bị giam,
Ngoại trừ dây nướng thịt hung tàn,
Tự do, trí vẫn c̣n suy nghĩ,
Sao có thể đành chịu bỏ thân? |
|
3830. Kaṃ vā tvaṃ passase atthaṃ
mama tuyhañca pakkhima,
ñātīnaṃ vāvasiṭṭhānaṃ ubhinnaṃ jīvitakkhaye.
|
3830. Này loài có cánh, hay là ngươi nh́n thấy lợi ích ǵ
cho ta, và cho ngươi, hoặc cho các thân quyến c̣n lại, khi có sự
chấm dứt mạng sống của cả hai ta?
|
6. Có lợi ǵ khanh hoặc với ta
Từ đây, khanh xét thấy, Thiên nga,
Lợi ǵ quyến thuộc ta c̣n sống
Nếu cả hai ta phải chết mà? |
|
3831. Yaṃ nu kañcanadepiccha
andhena tamasā gataṃ,
tādise sañcajaṃ pāṇaṃ kamattham abhijotaye.
|
3831. Này loài có cặp cánh
vàng, việc từ bỏ mạng sống như thế ấy của ngươi được làm trong
đêm đen, trong bóng tối th́ giải thích được điều ǵ?” |
7. Kim Nga, nghĩa cử của hiền
khanh
Sẽ bị màn đêm phủ thật nhanh,
Hành động hy sinh này biểu lộ
Đức ǵ nếu đặt dưới b́nh minh? |
|
3832. Kathannu patataṃ seṭṭha
dhamme atthaṃ na bujjhase,
dhammo apacito santo atthaṃ dasseti pāṇinaṃ.
|
3832. “Tâu bậc cao cả của
loài chim, tại sao ngài vẫn không thấu hiểu mục đích ở đạo lư?
Đạo lư, trong khi được tôn trọng, chỉ cho chúng sanh thấy được
mục đích. |
8. Ngài không thấy, hỡi Thiên nga
vương,
Hạnh phúc theo sau việc Chánh chân?
Chánh nghĩa được tôn sùng xứng đáng
Dạy cho người thực chất hiền lương. |
|
3833. Sohaṃ dhammaṃ avekkhanto
dhammā catthaṃ samuṭṭhitaṃ,
bhattiñca tayi sampassaṃ nāvakaṅkhāmi jīvitaṃ.
|
3833. Thần đây, trong lúc xem xét về đạo lư và mục đích
phát xuất từ đạo lư, trong lúc nh́n thấy sự hy sinh ở ngài, thần
không trông mong sự sống c̣n.
|
9. Thấy Chân chánh, tất cả việc
lành
Có thể từ Chân chánh phát sinh,
V́ đă quư yêu ngài thắm thiết,
Thần hân hoan phóng xả thân ḿnh. |
|
3834. Addhā eso sataṃ dhammo yo
mitto mittamāpade,
naccaje jīvitassāpi hetu dhammaṃ anussaraṃ.
|
|
10. Nếu biết điều Chân chánh,
chúng ta
Không hề bỏ bạn lúc sa cơ,
Cho dù phải cứu ḿnh đi nữa,
Bậc trí khuyên đây Chánh nghĩa mà. |
|
3835. Svāyaṃ dhammo ca te ciṇṇo
bhatti ca viditā mayi,
kāmaṃ karassu mayhetaṃ gacchevānumato mayā.
|
3835. “Pháp ấy đă được ngươi thực hành và sự hy sinh ở ta
đă được ngươi biết. Ngươi hăy thực hiện điều mong muốn ấy của
ta. Đă được ta cho phép, ngươi hăy đi ngay.
|
11. Chánh nghĩa của khanh đă thực
hành,
Trong khi ta nhận thấy chân t́nh,
Đi ngay, nếu thật khanh mong muốn
Làm việc mà ta rất tán thành. |
|
Trang 324: |
Trang 325:
|
|
3836. Api tvevaṃ gate kāle yaṃ
baddhaṃ ñātīnaṃ mayā,
tayā taṃ buddhisampanna assa paramasaṃvutaṃ.
|
3836. Hơn nữa, khi ta đă bị
dính bẫy như vậy, ta đă có sự gắn bó với các thân quyến, này vị
có trí giác ngộ, ngươi nên ǵn giữ hết mức về việc ấy.” |
12. Có lẽ các dây thuở đă qua
Buộc ràng quyến thuộc dưới quyền ta
Kịp thời chuyển đến khanh sau đó
Với trí, tài điều khiển vượt xa. |
|
3837. Iccevaṃ mantayantānaṃ
ariyānaṃ ariyavuttinaṃ,
paccadissatha nesādo āturānamivantako.
|
3837. Trong khi hai con chim đang trao đổi về lối cư xử
cao thượng của của các bậc cao thượng như vậy, gă bẫy chim đă
xuất hiện, tựa như Thần Chết đă hiện ra đối với những kẻ bị bệnh
tật.
|
13. Trong khi đôi bạn quư cao này
Trao đổi tâm tư tuyệt diệu vầy,
Hăy ngắm, gă săn chim táo bạo
Hiện ra trước mắt chúa tôi đây
Khác ǵ Thần chết đang đi đến
Trước kẻ liệt giường khốn khổ thay. |
|
3838. Te sattuṃ abhisaṃcikkha
dīgharattaṃ hitā dijā,
tuṇhīmāsittha ubhayo na ca sañcesumāsanā.
|
3838. Sau khi nh́n thấy kẻ
thù đang đi đến, hai con chim ấy, hai người bạn thâm giao, đă
ngồi im lặng, và cả hai đă không nhúc nhích khỏi chỗ ngồi. |
14. Đôi bạn thấy kia một kẻ thù
Nên ḷng lo sợ, nặng ưu tư,
Lặng yên đậu đó không di chuyển
Khi gă đến gần tự nẻo xa. |
|
3839. Dhataraṭṭhe ca disvāna
samuḍḍente tato tato,
abhikkamatha vegena dvijasattu dvijādhipe.
|
3839. Sau khi nh́n thấy hai
con chim thiên nga đang bay lên từ chỗ này chỗ nọ, kẻ thù của
loài chim đă hấp tấp đi đến gần hai con chim chúa. |
15. Thấy bầy ngỗng nọ đă bay tung
Đây đó, biến dần giữa cơi không,
Nơi chốn đôi chim cao thượng đậu,
Cừu nhân vội vă tiến lên gần. |
|
3840. So ca vegenabhikkamma
āsajja parame dije,
paccakampittha nesādo baddhā iti vicintayaṃ.
|
3840. Và sau khi đă hấp tấp đi đến kế cận hai con chim ưu
tú, gă bẫy chim đă phân vân suy nghĩ rằng: “Chúng đă bị dính bẫy
hay chưa?”
|
16. Trong lúc gă đang vội bước
chân,
Đến nơi định mệnh đă dành phần,
Thợ săn rung động v́ tư tưởng,
Kêu lớn: "Bầy chim bị bắt không?" |
|
3841. Ekañca baddhamāsīnaṃ
abaddhañca punāparaṃ,
āsajja baddhamāsīnaṃ pekkhamānamadīnavaṃ.
|
|
17. Gă thấy một chim trong bẫy
giăng,
Và con chim nọ gă nh́n sang
Chăm lo chim bạn đang tù hăm,
C̣n nó không xiềng xích buộc ràng. |
|
3842. Tato so vimato yeva paṇḍare
ajjhabhāsatha,
pavaddha kāye āsīne dijasaṅghagaṇādhipe.
|
3842. Do đó, bị phân vân thật sự, gă ấy đă nói với hai
con chim thiên nga có thân h́nh to lớn, đang ngồi, chúa bầy của
đàn chim, rằng:
|
18. Hoang mang trí óc lẫn hoài
nghi,
Gă ngắm đôi chim cao thượng kia,
Khôn lớn cả đôi, cùng đẹp mă,
Gă liền cất tiếng, giọng từ bi: |
|
3843. Yannu pāsena mahatā baddho
na kurute disaṃ,
atha kasmā abaddho tvaṃ balī pakkhī na gacchasi.
|
|
19. Đành rằng chim bị bắt trong
dây
Không thể bao giờ cất cánh bay,
Ngươi vẫn tự do và lớn mạnh,
Sao ngươi quyết ở với chim này? |
|
3844. Kinnu tāyaṃ dijo hoti mutto
baddhaṃ upāsasi,
ohāya sakuṇā yanti kiṃ eko avahīyasi.
|
|
20. Với ngươi, chim có họ hàng
ǵ,
Khi cả đàn kia đă trốn di,
Dầu được tự do, ngươi ở lại,
Bên chim bị bắt một ḿnh kia? |
|
3845. Rājā meso dijāmitta sakhā
pāṇasamo ca me,
neva naṃ vijahissāmi yāva kālassa pariyāyaṃ.
|
|
21. Hỡi cừu nhân của đám Thiên
nga,
Ngài chính quân vương, vốn bạn mà,
Thân thiết như đời ta chẳng khác,
Ồ không, ta chẳng muốn bao giờ
Bỏ ngài trong lúc ngài lâm nạn.
Cho đến khi Thần chết gọi ta. |
|
3846. Kathaṃ panāyaṃ vihago
nāddasā pāsamoḍḍitaṃ,
padaṃ hetaṃ mahantānaṃ boddhumarahanti āpadaṃ.
|
3846. “Làm thế nào con chim này lại không nh́n thấy cái
bẫy đă được giăng ra? Bởi v́ những kẻ trưởng thành đều có bản
tánh này; chúng có khả năng nhận biết sự rủi ro.”
|
22. Chim này không phát hiện hay
sao
Chiếc bẫy người giăng kín thế nào?
Phận sự của anh hùng tướng lănh
Là đề pḥng hiểm họa gian lao. |
|
3847. Yadā parābhavo hoti poso
jīvitasaṅkhaye,
atha jālañca pāsañca āsājjapi na bujjhati.
|
|
23. Khi người sắp gặp bước suy
tàn,
Giờ Tử thần đang tiến lại gần,
Dù bạn đến kề bên chiếc bẫy,
Cũng không thấy bẫy sập dây giăng! |
|
3848. Api tveva mahāpañña pāsā
bahuvidhā tatā,
gūḷhamāsajja bajjhanti athevaṃ jīvitakkhaye.
|
|
24. Bẫy dù đủ loại, hỡi chim
Thần,
Đôi lúc đặt ra chỉ uổng công,
Đến phút cuối cùng do định mệnh
Con người bị bẫy kín, thương vong. |
|
Trang 326: |
Trang 327:
|
|
3849. Api nāyaṃ tayā saddhiṃ
sambhāsassa sukhudrayo,
api no anumaññasi api no jīvitaṃ dade.
|
|
25. Có phải đây là kết quả lành
Do lời thân thiện với tôn huynh
Xin người tha mạng đôi ta với,
Ta được tự do giải thoát nhanh. |
|
3850. Na ceva me tvaṃ baddhosi
napi icchāmi te vadhaṃ,
kāmaṃ khippamito gantvā jīva tvaṃ anigho ciraṃ.
|
|
26. Này chim, ngươi chẳng bị giam
ḿnh,
Hăy chạy đi, mau chạy thật nhanh,
Ta chẳng muốn thân ngươi đổ máu,
B́nh an, hăy sống chuỗi ngày xanh. |
|
3851. Na vāhametaṃ icchāmi
aññatretassa jīvitā,
sace ekena tuṭṭhosi muñcetaṃ mañca bhakkhaya.
|
|
27. Ta không tha thiết sống riêng
ta,
Nếu bạn ta đây phải chết mà,
Xin hăy vui ḷng tha vị ấy,
Thịt ta thay thế chúa Thiên nga. |
|
3852. Ārohapariṇāhena tulyasmā
vayasā ubho,
na te lābhena jīnatthi etena niminā tuvaṃ.
|
|
28. Chúng ta về tuổi tác tương
đồng,
Cùng cỡ rộng dài các cẳng chân,
Không mất ǵ, dù người đổi lấy
Mạng ta thay thế mạng quân vương. |
|
3853. Tadiṅgha samavekkhassu hotu
giddhi tavāsmasu,
maṃ pubbe bandha pāsena pacchā muñca dijādhipaṃ.
|
|
29. Hăy xét xem ta với cách này,
Thỏa ḷng thèm muốn với ta đây,
Trước tiên hăy buộc ta vào bẫy,
Rồi để chúa chim giải thoát ngay. |
|
3854. Tāvadeva ca te lābho
katassa yācanāya ca,
mitti ca dhataraṭṭhehi yāvajīvāya te siyā.
|
|
30. Do đó người thành tựu ước
mong,
Và ta đạt nguyện vọng trong ḷng,
Thiên nga, Tôn giả đều ḥa hợp
Trong lúc đời trôi măi chẳng dừng. |
|
3855. Passantu no mahāsaṅghā tayā
muttaṃ ito gataṃ,
mittāmaccā ca bhattā ca puttadārā ca bandhavā.
|
|
31. Xin làm chứng, các bậc hiền
nhân
Nô lệ, họ hàng, các bạn thân,
Do chính một ḿnh ngươi cứu giúp
Chúa chim đượcgiải thoát giam cầm. |
|
3856. Na ca te tādisā mittā
bahunnaṃ idha vijjati,
yathā tvaṃ dhataraṭṭhassa pāṇasādhāraṇo sakhā.
|
|
32. Ít ai có được một thân bằng
Như chính ngươi đang thật sẵn sàng
Chia xẻ cùng nhau chung số phận
Khi chim chúa gặp bẫy vong thân. |
|
3857. So te sahāyaṃ muñcāmi hotu
rājā tavānugo,
kāmaṃ khippamito gantvā ñātimajjhe virocatha.
|
|
33. Vậy chúa chim này, ta thả ra
Bạn ngươi, theo gót cũng bay xa,
Mau lên, giữa đám chim thân thuộc
Ngươi sẽ như sao chiếu sáng ḷa. |
|
3858. So patīto pamuttena
bhattunā bhattugāravo,
ajjhabhāsatha vakkaṅgo vācaṃ kaṇṇasukhaṃ bhaṇaṃ.
|
|
34. Hoan hỷ nh́n chim chúa thoát
thân
Ngỗng làm vinh dự đấng minh quân,
Và êm tai kẻ làm ân phước,
Bằng những lời hay đẹp nhất trần: |
|
3859. Evaṃ luddaka nandassu saha
sabbehi ñātibhi,
yathāhamajja nandāmi muttaṃ disvā dijādhipaṃ.
|
|
35. "Lạp hộ, cùng thân quyến cả
nhà,
Mong chư vị hạnh phúc chan ḥa
Như ta hạnh phúc khi nh́n thấy
Chim chúa Thiên nga được thả ra". |
|
3860. Ehi taṃ anusikkhāmi yathā
tuvampi lacchase,
lābhaṃ yathāyaṃ dhataraṭṭho pāpaṃ kiñci na dakkhati.
|
3860. Ông hăy đến, tôi chỉ bảo ông để ông cũng sẽ đạt
được lợi lộc, để chim chúa Dhataraṭṭha này không nh́n thấy bất
cứ điều ǵ xấu xa của ông.
|
36. Nhanh lên, ta sẽ dạy cho
người
Phương cách t́m ra thật lắm lời,
Khi thấy đại danh chim ngỗng chúa,
Chẳng mang tỳ vết nhỏ nhất đời. |
|
3861. Khippamantepuraṃ netvā
rañño dassehi no ubho,
abaddhe pakatībhūte kāje ubhayato ṭhite.
|
|
37. Mau đem ta đến chốn triều
đường,
Thân thể b́nh an được vẹn toàn,
Đứng ở mỗi đầu, không trói buộc,
Phía trên đ̣n gánh của người mang. |
|
Trang 328: |
Trang 329:
|
|
3862. Dhataraṭṭhā mahārāja
haṃsādhipatino ime,
ayaṃ hi rājā haṃsānaṃ ayaṃ senāpatītaro.
|
|
38. Rồi người hăy nói: "Tấu Minh
quân,
Thần đến mang theo cặp ngỗng hồng,
Một chủ tướng đầu đàn ngỗng ấy,
C̣n chim kia chính Thiên nga vương". |
|
3863. Asaṃsayaṃ imaṃ disvā
haṃsarājaṃ narādhipo,
patīto sumano vitto bahuṃ dassati te dhanaṃ.
|
|
39. Chúa tể loài người ấy ngắm
xem
Thiên nga vương giả, sẽ bừng lên
Bao niềm hoan hỷ và sung sướng,
Sẽ tặng người vô số bạc tiền. |
|
3864. Tassa taṃ vacanaṃ sutvā
kammanā upapādayi,
khippamantepuraṃ gantvā rañño haṃse adassayi,
abaddhe pakatībhūte kāje ubhayato ṭhite.
|
|
40. Vội làm khi gă mới nghe xong
Việc các chim mong tận cơi ḷng,
Đem cặp hồng nga vào bệ kiến,
B́nh an, thân thể mạnh hoàn toàn,
Đậu kia, chẳng có ǵ ràng buộc,
Trên mỗi đầu đ̣n gánh gă mang. |
|
3865. Dhataraṭṭhā mahārāja
haṃsādhipatino ime,
ayaṃ hi rājā haṃsānaṃ ayaṃ senāpatītaro.
|
|
41. Rồi người ấy nói: "Tấu Minh
quân
Thần đến mang theo cặp ngỗng hồng,
Một chủ tướng đầu đàn ngỗng ấy,
C̣n chim kia chính Thiên nga vương . |
|
3866. Kathaṃ panīme vihagā tava
hatthattham āgatā,
kathaṃ luddo mahantānaṃ issaremidhamajjhagā.
|
3866. “Nhưng làm thế nào những con chim này đă sa vào
trong tay của khanh? Làm thế nào thợ săn đă đạt đến nơi này, ở
lănh địa của các con vật to lớn?”
|
42. "Ḱa, những chim này mạnh
biết bao,
Trở thành mồi bẫy của ngươi sao,
Sao ngươi ḅ tới gần bên chúng
Chẳng khiến chúng kinh hăi tẩu đào?" |
|
3867. Vihitā santime pāsā
pallalesu janādhipa,
yaṃ yadāyatanaṃ maññe dijānaṃ pāṇarodhanaṃ.
|
|
43. "Trong ao hồ, khải tấu Minh
quân,
Xin hăy ngắm xem bẫy lưới giăng,
Trong mọi chốn loài chim trú ẩn,
Bẫy thường được đặt tạo thương vong. |
|
3868. Tādisaṃ pāsamāsajja
haṃsarājā abajjhatha,
taṃ abaddho upāsīno mamāyaṃ ajjhabhāsatha.
|
3868. Con chim thiên nga chúa đă đi đến gần bẫy sập như
thế ấy và đă bị dính bẫy. C̣n con chim không bị dính bẫy này,
ngồi gần con chim ấy, đă đối đáp với thần.
|
44. Chính trong một bẫy kín như
vầy
Thần đă bắt chim chúa ngỗng này,
Chim bạn tự do ngồi kế cận
Và mong cầu chúa thoát tù đày. |
|
3869. Sudukkaraṃ anariyehi dahate
bhāvamuttamaṃ,
bhatturatthe parakkanto dhamme yutto vihaṅgamo.
|
|
45. Chim này làm phận sự hơn xa
Thành tựu phàm nhân đạt đến mà,
Cương quyết tập trung toàn nỗ lực
Làm cho chim chúa được buông tha. |
|
3870. Attanāyaṃ cajitvāna jīvitaṃ
jīvitāraho,
anutthunanto āsīno bhattu yācittha jīvitaṃ.
|
3870. Con chim này, sau khi từ bỏ bản thân, là xứng đáng
với mạng sống. Trong lúc ngồi kể lể, nó đă cầu xin mạng sống cho
chim chúa.
|
46. Chim đằng kia muốn chịu hy
sinh,
Xứng đáng hưởng thêm cuộc sống ḿnh,
Ví thử chúa chim này được sống,
Chúa chim đă được bạn tôn vinh. |
|
3871. Tassa taṃ vacanaṃ sutvā
pasādamahamajjhagaṃ,
tato naṃ pāmuciṃ pāsā anuññāsiṃ sukhena ca.
|
|
47. Nghe những lời chim ấy giải
bày,
Tiểu thần liền đạt phước ân ngay,
Hân hoan giải phóng chim tù tội,
Ra lệnh đôi chim cất cánh bay. |
|
3872. So patīto pamuttena
bhattunā bhattugāravo,
ajjhabhāsatha vakkaṅgo vācaṃ kaṇṇasukhaṃ bhaṇaṃ.
|
|
48. Hoan hỷ nh́n chim chúa thoát
thân,
Ngỗng làm vinh dự đấng minh quân,
Và êm tai kẻ làm ân phước
Bằng những lời hay đẹp nhất trần: |
|
Trang 330: |
Trang 331:
|
|
3873. Evaṃ luddaka nandassu saha
sabbehi ñātibhi,
yathāhamajja nandāmi muttaṃ disvā dijādhipaṃ.
|
|
49. "Lạp hộ, cùng thân quyến họ
hàng,
Mong chư vị hạnh phúc muôn vàn
Như ta hạnh phúc khi nh́n thấy
Chúa chim Thiên nga được thoát nạn, |
|
3874. Ehi taṃ anusikkhāmi yathā
tvamapi lacchase,
lābhaṃ yathāyaṃ dhataraṭṭho pāpaṃ kiñci na dakkhati.
|
3874. Ông hăy đến, tôi chỉ bảo ông để ông cũng sẽ đạt
được lợi lộc, để chim chúa Dhataraṭṭha này không nh́n thấy bất
cứ điều ǵ xấu xa của ông.
|
50. Nhanh lên, ta sẽ dạy cho
người
Phương cách t́m ra thật lắm lời,
Khi thấy đại danh chim ngỗng chúa
Chẳng mang tỳ vết nhỏ nhất đời. |
|
3875. Khippamantepuraṃ gantvā
rañño dassehi no ubho,
abaddhe pakatībhūte kāje ubhayato ṭhite.
|
|
51. Mau đem ta đến chốn triều
đường,
Thân thể b́nh an được vẹn toàn,
Đứng ở mỗi đầu, không trói buộc,
Phía trên đ̣n gánh của người mang. |
|
3876. Dhataraṭṭhā mahārāja
haṃsādhipatino ime,
ayaṃ hi rājā haṃsānaṃ ayaṃ senāpatītaro.
|
|
52. Rồi người hăy nói: "Tấu Minh
quân,
Thần đến mang theo cặp ngỗng hồng,
Một chủ tướng đầu đàn ngỗng ấy,
C̣n chim kia chính Thiên nga vương". |
|
3877. Asaṃsayaṃ imaṃ disvā
haṃsarājaṃ narādhipo,
patīto sumano vitto bahuṃ dassati te dhanaṃ.
|
|
53. Chúa tể loài người ấy ngắm
xem
Thiên nga vương giả, sẽ bừng lên
Bao niềm hoan hỷ và sung sướng,
Sẽ tặng người vô số bạc tiền . |
|
3878. Evametassa vacanā ānītāme
ubho mayā,
ettheva hi ime assu ubho anumatā mayā.
|
3878. Như vậy, theo lời nói của chim ấy, cả hai con chim
này đă được thần đưa đi, và chúng đă có mặt ở ngay tại nơi này,
(mặc dù) cả hai đă được thần cho phép ra đi.
|
54. Do vậy, theo lời chim bảo ban
Thần đưa đôi ngỗng đến triều đường,
Mặc dù chúng tự do t́m kiếm
Nơi trú b́nh an ở núi ngàn. |
|
3879. Soyaṃ evaṃ gato pakkhī dijo
paramadhammiko,
mādisassa hi luddassa janayeyyātha maddavaṃ.
|
|
55. Chim kia có số phận như vầy,
Dù thật chánh chân đến thế này
Có thể chuyển lay ḷng trắc ẩn
Thợ săn hung bạo tựa thần đây. |
|
3880. Upāyanaṃ hi te deva nāññaṃ
passāmi edisaṃ,
sabbasākuṇīkagāme taṃ passa manujādhipa.
|
|
56. Thiên nga này, khải tấu Minh
quân,
Tặng vật tiểu thần đến hiến dâng,
Giữa những chốn người săn đặt bẫy,
Hiếm khi t́m được vật ngang bằng. |
|
3881. Disvā nisinnaṃ rājānaṃ
pīṭhe sovaṇṇaye subhe,
ajjhabhāsatha vakkaṅgo vācaṃ kaṇṇasukhaṃ bhaṇaṃ.
|
|
57. Giờ đây nh́n thấy đấng quân
vương
An tọa kim đôn sáng rỡ ràng,
Chim ngỗng dùng âm thanh dịu ngọt
Làm êm tai chúa tể trần gian. |
|
3882. Kacci nu bhoto kusalaṃ
kacci bhoto anāmayaṃ,
kacci raṭṭhamidaṃ phītaṃ dhammena manusissati.
|
|
58. "Đại vương, ngọc thể có khang
an,
Vạn sự Đại vương thảy vẹn toàn,
Quư quốc hẳn là đang thịnh vượng,
Được ngài cai trị thật công bằng?" |
|
3883. Kusalañceva me haṃsa atho
haṃsa anāmayaṃ,
atho raṭṭhamidaṃ phītaṃ dhammena manusissati.
|
|
59. Nga vương, trẫm vẫn được
khang an,
Vạn sự trẫm đây được vẹn toàn,
Bổn quốc hiện giờ rất thịnh vượng,
Hưởng nền cai trị thật công bằng. |
|
3884. Kacci bhoto amaccesu doso
koci na vijjati,
kaccinnu te tavatthesu nāvakaṅkhanti jīvitaṃ.
|
3884.
“Có phải bất cứ lỗi lầm nào đều không t́m thấy ở các quan đại
thần của bệ hạ? Có phải họ không tiếc rẻ mạng sống cho những mục
đích của bệ hạ?” |
60. Ngài có triều thần thật chánh
chân,
Biết khuyên nhủ chúa, chẳng sai lầm,
Nếu cần, họ sẵn sàng liều chết
V́ chánh nghĩa và danh chúa công? |
|
3885. Athopi me amaccesu doso
koci na vijjati,
athopi te mamatthesu nāvakaṅkhanti jīvitaṃ.
|
3885. “Bất cứ lỗi lầm nào cũng đều không t́m thấy ở các
quan đại thần của trẫm. Họ không tiếc rẻ mạng sống cho những mục
đích của trẫm.”
|
61. Trẫm có triều thần thật chánh
chân,
Biết khuyên nhủ trẫm, chẳng sai lầm,
Nếu cần, họ sẵn sàng liều chết
V́ chánh nghĩa và danh quả nhân. |
|
Trang 332:
|
Trang 333:
|
|
3886. Kacci te sādisī bhariyā
assavā piyabhāṇinī,
puttarūpayasūpetā tava chandavasānugā.
|
|
62. Phải chăng hoàng hậu cũng
chung ḍng,
Lời lẽ ôn nhu, biết phục ṭng,
Diễm lệ, nhiều con, danh tiếng tốt,
Vâng chiều mọi Thánh ư Minh quân? |
|
3887. Atho me sādisī bhariyā
assavā piyabhāṇinī,
puttarūpayasūpetā mama chandavasānugā.
|
|
63. Trẫm nay có chánh hậu chung
ḍng,
Lời lẽ ôn nhu biết phục ṭng,
Diễm lệ, nhiều con, danh tiếng tốt,
Vâng chiều mọi ư trẫm cầu mong. |
|
3888. Bhavaṃ tu kacci nu
mahāsattuhatthatthataṅgato,
dukkhamāpajji vipulaṃ tasmiṃ paṭhamamāpade.
|
|
64. Khi vận rủi kia đưa đẩy ngài,
Đến cừu nhân tối hiểm trên đời,
Khi ngài gặp phải tay người ấy,
Ngài đă chịu bao thống khổ rồi? |
|
3889. Kacciyaṃ nāpatitvāna
daṇḍena samapoṭhayi,
evametesaṃ jammānaṃ pākatikaṃ bhavati tāvade.
|
3889. Vậy có phải gă này đă lao đến và đánh đập ngài bằng
cây gậy? Bản tánh tự nhiên của những kẻ đáng khinh này vào lúc
ấy là như vậy.”
|
65. Gă kia có chạy, gậy trong tay
Đánh đập các ngài, nói trẫm hay?
Với những con người gian ác ấy
Trẫm thường nghe nói cách như vầy. |
|
3890. Khemamāsi mahārāja
evamāpadi saṃsati,
na cāyaṃ kiñcirasmāsu sattūva samapajjatha.
|
|
66. Ta không hề gặp bước gian nan
Trong lúc ḷng ta vẫn nhớ ơn
Kẻ ấy chẳng bao giờ đối xử
Với ta như những bọn cừu nhơn. |
|
3891. Paccakampittha nesādo
pubbeva ajjhabhāsatha,
tadāyaṃ sumukhoyeva paṇḍito paccabhāsatha.
|
|
67. Người bẫy chim run rẫy, ngạc
nhiên,
Cầu mong hỏi chuyện của đôi chim,
Và Sư-mục, tướng quân khôn nhất,
Đă trả lời ngay kẻ ấy liền. |
|
3892. Tassa taṃ vacanaṃ sutvā
pasādamayamajjhagā,
tato maṃ pāmucī pāsā anuññāsi sukhena ca.
|
|
68. Nghe những lời chim tuớng
giải bày
Người kia liền đạt phước ân ngay,
Hân hoan giải thoát ta từ bẫy,
Ra lệnh đôi ta cất cánh bay. |
|
3893. Idampi sumukheneva
etadatthāya cintitaṃ,
bhoto sakāse āgamanaṃ etassa dhanamicchatā.
|
3893. Trong khi ước muốn tài sản cho gă thợ săn, v́ lợi
ích của gă ấy, chính Sumukha đă suy xét việc đi đến yết kiến bệ
hạ.”
|
69. Tâu Đại vương, Sư-mục ước
mong
Đến đây và yết kiến long nhan,
Nghĩ rằng người bẫy chim thân hữu
Sẽ kiếm ra vô số bạc vàng. |
|
3894. Svāgatañcevidaṃ bhavataṃ
patīto casmi dassanā,
eso api bahuṃ vittaṃ labhataṃ yāvaticchati.
|
|
70. Cung nghênh các vị, đúng hoàn
toàn,
Trẫm thật hân hoan gặp bạn vàng,
Hiền hữu bẫy chim rồi sẽ nhận
Thỏa ḷng mọi tặng vật trần gian. |
|
3895. Santappayitvā nesādaṃ
bhogehi manujādhipo,
ajjhabhāsatha vakkaṅgaṃ vācaṃ kaṇṇasukhaṃ bhaṇaṃ.
|
3895. Sau khi làm thỏa măn
gă bẫy chim bằng các của cải, vị chúa của loài người, trong khi
thốt lên lời nói êm tai, đă nói với chim thiên nga chúa rằng: |
71. Quân vương rộng lượng đă
truyền ban
Người bẫy chim vô số bạc vàng,
Sau đó hồng nga cất tiếng nói
Âm thanh mê mẩn cả tâm can. |
|
3896. Yaṃ khalu dhammamadhīnaṃ
vaso vattati kiñcanaṃ,
sabbatthissariyaṃ bhavataṃ pasāsatha yadicchatha.
|
3896. “Thật vậy, quyền lực giải quyết bất cứ việc ǵ
thuộc về đạo đức, tất cả quyền hành đều thuộc về các ngài. Các
ngài hăy chỉ thị điều các ngài muốn.
|
72. Những ǵ trẫm có, đúng công
bằng
Những vật trẫm đ̣i hỏi chánh chân,
Sẽ chuyển qua quyền ngài thọ hưởng,
Nếu ngài nêu nguyện ước trong tâm. |
|
3897. Dānatthaṃ upabhottuṃ vā
yañcaññaṃ upakappati,
etaṃ dadāmi vo vittaṃ isseraṃ vissajāmi vo.
|
|
73. Dẫu ngài đem bố thí ban ân,
Hoặc sử dụng, hay muốn hưởng phần,
Trẫm nhượng quyền hành cùng tất cả,
Và giao ngài cả chiếc ngai vàng. |
|
3898. Yathā ca myāyaṃ sumukho
ajjhabhāseyya paṇḍito,
kāmasā buddhisampanno taṃ myāssa paramappiyaṃ.
|
|
74. Trí hiền Sư-mục thật tinh
thông,
Ví thử nói ra tự nguyện ḷng
Chỉ một hai lời thôi cũng đủ
Trẫm đây hạnh phúc bội muôn phần. |
|
Trang 334:
|
Trang 335:
|
|
3899. Ahaṃ khalu mahārāja
nāgarājārivantaraṃ,
paṭivattuṃ na sakkomi na me so vinayo siyā.
|
|
75. Xin tâu Chúa thượng, trước
Minh quân,
Đúng phép, tôi không dám nói năng
Dù chỉ một đôi lời nhỏ mọn,
Khác nào vương tử của Long thần. |
|
3900. Amhākañceva yo seṭṭho
tvañca uttamasattavo,
bhūmipālo manussindo pūjā bahūhi hetuhi.
|
|
76. V́ chúa hồng nga hiện diện
đây,
Và ngài Đại đế tối cao vầy,
Có quyền đ̣i hỏi đầy chân chánh
Niềm kính trọng tôi phải tỏ bày. |
|
3901. Tesaṃ ubhinnaṃ bhaṇataṃ
vattamāne vinicchaye,
nāntaraṃ paṭivattabbaṃ pessena manujādhipa.
|
|
77. Thần tôi hèn mọn, tấu Quân
vương,
Nên chẳng dám can thiệp luận bàn,
Khi nhị Đại vương đang nghị sự
Bao điều quan trọng giữa triều đường. |
|
3902. Dhammena kira nesādo
paṇḍito aṇḍajo iti,
naheva akatattassa nayo etādiso siyā.
|
|
78. Người bẫy chim ca tụng nhiệt
t́nh
Chim này trí tuệ, tuyệt thông minh,
Tinh khôn như vậy đâu t́m thấy
Ở kẻ trí chưa được học hành. |
|
3903. Evaṃ aggapakatimā evaṃ
uttamasattavo,
yāvatatthi mayā diṭṭhā nāññaṃ passāmi edisaṃ.
|
|
79. Trong đám chim cao quư trẫm
xem
Chim này vô địch giữa đàn em,
Tối cao đức tính chim đầy đủ
Đệ nhất hữu t́nh vượt hẳn lên. |
|
3904. Tuṭṭhosmi vo pakatiyā
vākyena madhurena ca,
eso cāpi mama chando ciraṃ passeyya vo ubho.
|
|
80. H́nh dáng thanh cao, giọng
ngọt ngào
Khiến ḷng mê mẩn biết dường nào,
Ước mong của trẫm là hai vị
Ở măi bên ḿnh thỏa ước. |
|
3905. Yaṃ kiccaṃ parame mitte
katarasmāsu taṃ tayā,
pattā nissaṃsayaṃ tyamhā bhattirasmāsu yā tava.
|
3905. “Việc nào cần phải làm cho bạn bè chí thân, việc ấy
đă được bệ hạ thực hiện đối với chúng tôi. Chúng tôi đă đạt được
sự không nghi ngờ của bệ hạ, điều ấy là sự tận tụy của bệ hạ
dành cho chúng tôi.
|
81. Ngài đối đăi đây với chúng
thần
Như người đối với đại thân bằng,
Này đây Chúa thượng vừa ban phát
Hèn mọn đội chim hưởng phước ân. |
|
3906. Aduñca nūna sumahā
ñātisaṅghassamantaraṃ,
adassanena asmākaṃ dukkhaṃ bahūsu pakkhisu.
|
|
82. Song đàn chim quyến thuộc kêu
than
Xa vắng lâu ngày đă bặt tăm,
Và có nhiều chim đầy khổ năo
V́ không c̣n thấy bóng Nga vương. |
|
3907. Tesaṃ sokavighātāya tayā
anumatā mayaṃ,
taṃ padakkhiṇato katvā ñātī passemarindama.
|
|
83. Vậy để xua tan nỗi khổ này,
Đại vương, xin thả chúng thần ngay,
Cúi xin Chúa thượng nay cho phép
Gặp lại thân bằng, cất cánh bay. |
|
3908. Addhāhaṃ vipulaṃ pītiṃ
bhavataṃ vindāmi dassanā,
eso cāpi mahā attho ñātivissāsanā siyā.
|
3908. Tôi quả thật t́m được sự hỷ lạc vô bờ do việc gặp
gỡ các ông. Việc ấy có thể tạo niềm tin cho thân quyến và c̣n có
lợi ích lớn lao nữa.”
|
84. Hôm nay hạnh ngộ đấng Quân
vương,
Thần thấy tâm hoan hỷ ngập tràn,
Thần chắc từ nay toàn bạn hữu
Chẳng c̣n duyên cớ để kinh hoàng. |
|
3909. Idaṃ vatvā dhataraṭṭhā
haṃsarājā narādhipaṃ,
uttamajavamattāya ñātisaṅghamupāgamuṃ.
|
|
85. Như vầy với chúa tể loài
người,
Chim chúa Dha-ta đă đáp lời,
Sau đó t́m thân bằng quyến thuộc,
Tung đôi cánh mạnh nhất lên trời. |
|
3910. Te aroge anuppatte disvāna
parame dvije,
kekātimakaruṃ haṃsā puthu saddo ajāyatha.
|
|
86. Nh́n chủ tướng chim được vạn
an
Trở về từ cơi chết nhân gian,
Đàn chim vỗ cánh kêu ầm ĩ
Chào đón chúa chim lại họp đàn. |
|
Trang 336:
|
Trang 337:
|
|
3911. Te patītā pamuttena
bhattunā bhattugāravā,
samantā parikariṃsu aṇḍajā laddhapaccayā.
|
|
87. Vây quanh chúa tể chúng tôn
sùng,
Tin tưởng, giờ đây đám ngỗng hồng
Kính cẩn nghiêng ḿnh chào chúa tể
Hân hoan v́ chúa được an thân. |
|
3912. Evaṃ mittavataṃ atthā sabbe
honti padakkhiṇā,
haṃsā yathā dhataraṭṭhā ñātisaṅghamupāgamun ”ti.
|
|
88. Ai có từ tâm ắt đạt thành
Việc ǵ các vị ấy thi hành,
Như Thiên nga trở về bằng hữu
Lần nữa đôi chim được trọn lành.
Câu chuyện
533 |
|
Cullahaṃsajātakaṃ.
*** |
Tiểu Bổn Sanh Thiên Nga. [533]
*** |
| <Trang trước> |
<Trang Kế> |