|
02.
SĀMAÑÑAPHALASUTTAṂ
(tiếp theo)
|
|
02.
SĀMAÑÑAPHALASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ |
02. KINH SA MÔN QUẢ - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07 |
|
Majjhimasīla
195. Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni
bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṃ bījagāmabhūtagāmasamārambhaṃ
anuyuttā viharanti. Seyyathidaṃ, mūlabījaṃ khandhabījaṃ
phaḷubījaṃ aggabījaṃ bījabījameva pañcamaṃ, iti evarūpā
bījagāmabhūtagāmasamārambhā paṭivirato hoti. Idampissa hoti
sīlasmiṃ.
|
46. Trong khi một số Sa-môn,
Bà-la-môn, dầu đă dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn c̣n
sống làm hại các hạt giống và cây cối như hạt giống từ rễ sanh,
hạt giống từ nhánh cây sanh, hạt giống từ đốt cây sanh, hạt
giống từ chiết cây sanh, và thứ năm là hạt giống từ hạt giống
sanh. C̣n vị ấy th́ không làm hại hạt giống hay cây cỏ nào. Như
vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật. |
|
196. Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni
bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṃ sannidhikāraparibhogaṃ anuyuttā
viharanti. Seyyathidaṃ, annasannidhiṃ pānasannidhiṃ
vatthasannidhiṃ yānasannidhiṃ sayanasannidhiṃ gandhasannidhiṃ
āmisasannidhiṃ iti vā, iti evarūpā sannidhikāraparibhogā
paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṃ.
|
47. Trong khi một số Sa-môn,
Bà-la-môn, dầu đă dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn c̣n
sống cất chứa và thọ hưởng các đồ vật như cất chứa các món ăn,
cất chứa các đồ uống, cất chứa vải, cất chứa xe cộ, cất chứa các
đồ nằm, cất chứa các hương liệu, cất chứa các mỹ vị. C̣n vị ấy
th́ từ bỏ cất chứa các vật trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy
trong giới luật.
|
|
197. Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni
bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṃ visūkadassanaṃ anuyuttā
viharanti. Seyyathidaṃ, naccaṃ gītaṃ vāditaṃ pekkhaṃ akkhānaṃ
pāṇissaraṃ vetāḷaṃ kumbhathūṇaṃ sobhanakaṃ caṇḍālaṃ vaṃsaṃ
dhovanaṃ hatthiyuddhaṃ assayuddhaṃ mahiṃsayuddhaṃ usabhayuddhaṃ
ajayuddhaṃ meṇḍayuddhaṃ kukkuṭayuddhaṃ vaṭṭakayuddhaṃ
daṇḍayuddhaṃ muṭṭhiyuddhaṃ nibbuddhaṃ uyyodhikaṃ balaggaṃ
senābyūhaṃ anīkadassanaṃ iti vā, iti evarūpā visūkadassanā
paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṃ.
|
48. Trong khi một số Sa-môn,
Bà-la-môn, dầu đă dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn c̣n
sống theo các du hí không chơn chánh như múa, hát, nhạc kịch,
ngâm vịnh, nhịp tay, tụng chú, đánh trống, diễn các tuồng thần
tiên, măi vơ, đấu voi, đấu ngựa, đấu trâu, đấu ḅ đực, đấu dê,
đấu cừu, đấu gà, đấu chim cun cút, đấu gậy, đấu quyền, đấu vật,
đánh giặc giả, dàn trận, thao dượt, diễn binh. C̣n vị ấy th́ từ
bỏ các du hí không chơn chánh như trên. Như vậy là giới hạnh của
vị ấy trong giới luật.
|
|
198. Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni
bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṃ jūtappamādaṭṭhānānuyogaṃ
anuyuttā viharanti. Seyyathidaṃ, aṭṭhapadaṃ dasapadaṃ ākāsaṃ
parihārapathaṃ santikaṃ khalikaṃ ghaṭikaṃ salākahatthaṃ akkhaṃ
paṅgacīraṃ vaṅkakaṃ mokkhacikaṃ ciṅgulikaṃ pattāḷhakaṃ rathakaṃ
dhanukaṃ akkharikaṃ manesikaṃ yathāvajjaṃ iti vā, iti evarūpā
jūtappamādaṭṭhānānuyogā paṭivirato hoti. Idampissa hoti
sīlasmiṃ.
|
49. Trong khi một số Sa-môn,
Bà-la-môn, dầu đă dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn c̣n
sống đánh bài và theo các tṛ giải trí. Như cờ tám h́nh vuông,
cờ mười h́nh vuông, cờ trên không, tṛ chơi trên đất, chỉ bước
vào những ô có quyền bước, tṛ chơi quăng thẻ rồi chụp nhưng
không cho sụp đống thẻ, chơi súc sắc, chơi khăng, lấy tay làm
viết, chơi banh, chơi thổi kèn bằng lá, cày với chiếc cày giả,
nhảy lộn nhào, chơi chong chóng, chơi với đồ chơi bằng lá, chơi
xe con, chơi cung nhỏ, chơi đoán chữ viết thiết trên không hay
trên lưng, chơi đoán tư tưởng, chơi bắt chước bộ điệu. C̣n vị ấy
th́ từ bỏ đánh bài và các loại giải trí như trên. Như vậy là
giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
|
|
199. Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni
bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṃ uccāsayanamahāsayanaṃ anuyuttā
viharanti. Seyyathidaṃ, āsandiṃ pallaṅkaṃ gonakaṃ cittakaṃ
paṭikaṃ paṭalikaṃ tūlikaṃ vikatikaṃ uddalomiṃ ekantalomiṃ
kaṭṭissaṃ koseyyaṃ kuttakaṃ hatthattharaṃ assattharaṃ
rathattharaṃ ajinappaveṇiṃ kadalimigapavarapaccattharaṇaṃ
sa-uttaracchadaṃ ubhatolohitakūpadhānaṃ iti vā, iti evarūpā
uccāsayanamahāsayanā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṃ.
|
50. Trong khi một số Sa-môn,
Bà-la-môn, dầu đă dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng
vẫn sống dùng các giường cao và giường lớn như ghế bành, ghế
trường kỷ, nệm trải giường bằng len, vải trải giường nhiều tấm
nhiều màu, chăn len trắng, chăn len thêu bông, nệm bông, nệm
thêu h́nh các con thú, mền bằng lông thú cả hai phía mền bằng
lông thú một phía, mền có đính ngọc, mền bằng lụa, tấm khảm lớn
có thể chứa mười sáu người múa, mền voi, mền ngựa, mền xe, mền
bằng da sơn dương khâu lại với nhau, mền bằng da con sơn dương
khâu lại gọi là Kadali, tấm thảm với lều che phía trên, ghế dài
có gối đầu, gối chân màu đỏ. C̣n vị ấy th́ từ bỏ không dùng các
giường cao và giường lớn như trên. Như vậy là giới hạnh của vị
ấy trong giới luật.
|
|
200. Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni
bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṃ maṇḍanavibhūsanaṭṭhānānuyogaṃ
anuyuttā viharanti. Seyyathidaṃ, ucchādanaṃ parimaddanaṃ
nhāpanaṃ sambāhanaṃ ādāsaṃ añjanaṃ mālāgandhavilepanaṃ
mukhacuṇṇaṃ mukhalepanaṃ hatthabandhaṃ sikhābandhaṃ daṇḍaṃ
nāḷikaṃ asiṃ (Khaggaṃ
- Sī, I; asiṃ khaggaṃ - Syā, Kaṃ; khaggaṃ asiṃ - Ka)
chattaṃ citrupāhanaṃ uṇhīsaṃ maṇiṃ vālabījaniṃ odātāni vatthāni
dīghadasāni iti vā, iti evarūpā maṇḍanavibhūsanaṭṭhānānuyogā
paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṃ.
|
51. Trong khi một số Sa-môn,
Bà-la-môn, dầu đă dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng
vẫn sống dùng các đồ trang sức và mỹ phẩm như thoa dầu, đấm bóp,
tắm, đập tay chân cho mềm dẻo, gương kem đánh mặt, ṿng hoa và
phấn son, phấn mặt và sáp mặt, ṿng tay tóc giả trên đầu, gậy
cầm tay, ống thuốc, gươm, lọng, dép thêu, khăn đầu, ngọc, phất
trần, vải trắng có viền tua dài. C̣n vị ấy th́ không dùng các
loại trang sức và mỹ phẩm như trên. Như vậy là giới hạnh của vị
ấy trong giới luật.
|
|
201. Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni
bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṃ tiracchānakathaṃ anuyuttā
viharanti. Seyyathidaṃ, rājakathaṃ corakathaṃ mahāmattakathaṃ
senākathaṃ bhayakathaṃ yuddhakathaṃ annakathaṃ pānakathaṃ
vatthakathaṃ sayanakathaṃ mālākathaṃ gandhakathaṃ ñātikathaṃ
yānakathaṃ gāmakathaṃ nigamakathaṃ nagarakathaṃ janapadakathaṃ
itthikathaṃ (Itthikathaṃ
purisakathaṃ kumārakathaṃ kumārikathaṃ - Ka)
sūrakathaṃ visikhākathaṃ kumbhaṭṭhānakathaṃ pubbapetakathaṃ
nānattakathaṃ lokakkhāyikaṃ samuddakkhāyikaṃ itibhavābhavakathaṃ
iti vā, iti evarūpāya tiracchānakathāya paṭivirato hoti.
Idampissa hoti sīlasmiṃ.
|
52. Trong khi một số Sa-môn,
Bà-la-môn, dầu đă dùng các món ăn do tín thí cúng dường, cũng
vẫn sống nói những câu chuyện vô ích tầm thường như câu chuyện
nói về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần,
câu chuyện về binh lính, câu chuyện về hăi hùng, câu chuyện về
chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu
chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về ṿng
hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện
về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị tứ, câu
chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn
bà, câu chuyện về đàn ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện
bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người
đă chết, các câu chuyện tạp thoại, các câu chuyện biến trạng của
thế giới, câu chuyện về biến trạng của đại vương, câu chuyện về
sự hiện hữu và sự không hiện hữu. C̣n vị ấy th́ từ bỏ nói những
chuyện vô ích, tầm thường kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị
ấy trong giới luật.
|
|
202. Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni
bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṃ viggāhikakathaṃ anuyuttā
viharanti. Seyyathidaṃ, na tvaṃ imaṃ Dhammavinayaṃ ājānāsi, ahaṃ
imaṃ Dhammavinayaṃ ājānāmi, kiṃ tvaṃ imaṃ Dhammavinayaṃ
ājānissasi, micchā paṭipanno tvamasi, ahamasmi sammā paṭipanno,
sahitaṃ me, asahitaṃ te, pure vacanīyaṃ pacchā avaca, pacchā
vacanīyaṃ pure avaca, adhiciṇṇaṃ te viparāvattaṃ, āropito te
vādo, niggahito tvamasi, cara vādappamokkhāya, nibbeṭhehi vā
sace pahosīti iti vā, iti evarūpāya viggāhikakathāya paṭivirato
hoti. Idampissa hoti sīlasmiṃ.
|
53. Trong khi một số Sa-môn,
Bà-la-môn, dầu đă dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn c̣n
sống bàn luận tranh chấp như nói: "Ngươi không biết pháp và luật
này, tôi biết pháp và luật này. Sao ngươi có thể biết pháp và
luật này? Ngươi đă phạm vào tà kiến, tôi nói mới thật đúng chánh
kiến. Lời tôi nói mới tương ưng, lời nói của người không tương
ưng. Những điều đáng nói trước, ngươi lại nói sau. Những điều
đáng nói sau ngươi lại nói trước. Chủ kiến của ngươi đă bị bài
bác, câu nói của ngươi đă bị thách đấu. Ngươi đă bị thuyết bại.
Hăy đến mà giải vây lời nói ấy. Nếu có thể được, gắng thoát ra
khỏi lối bí". C̣n vị ấy th́ từ bỏ những cuộc biện luận, tranh
chấp kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
|
|
203. Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni
bhojanāni bhuñjitvā te evarūpaṃ dūteyyapahiṇagamanānuyogaṃ
anuyuttā viharanti. Seyyathidaṃ, raññaṃ, rājamahāmattānaṃ,
khattiyānaṃ, brāhmaṇānaṃ, gahapatikānaṃ, kumārānaṃ “Idha gaccha,
amutrāgaccha, idaṃ hara, amutra idaṃ āharā”ti iti vā, iti
evarūpā dūteyyapahiṇagamanānuyogā paṭivirato hoti. Idampissa
hoti sīlasmiṃ.
|
54. Trong khi một số Sa-môn,
Bà-la-môn, dầu đă dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn c̣n
sống cho đưa các tin tức, hoặc tự đứng làm môi giới như cho các
vua, các đại thần của vua, cho các vị Sát-đế-lỵ, cho các vị
Bà-la-môn, cho các gia chủ cho các thanh niên và nói rằng: "Hăy
đi đến chỗ ấy, hăy đi lại chỗ kia, mang cái này lại, đem cái này
đến chỗ kia". C̣n vị ấy th́ từ bỏ đưa các tin tức và đứng làm
môi giới. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
|
|
204. Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni
bhojanāni bhuñjitvā te kuhakā ca honti lapakā ca nemittikā ca
nippesikā ca lābhena lābhaṃ nijigīsitāro ca, iti evarūpā
kuhanalapanā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṃ.
Majjhimasīlaṃ
niṭṭhitaṃ.
|
55. Trong khi một số Sa-môn,
Bà-la-môn, dầu đă dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn c̣n
sống lừa đảo, nói lời siểm nịnh, gợi ư, dèm pha, cầu lợi. C̣n vị
ấy th́ từ bỏ nói lời lừa đảo và siểm nịnh như trên. Như vậy là
giới hạnh của vị ấy trong giới luật. |
|
Mahāsīla
205. Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni
bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena
jīvitaṃ kappenti. Seyyathidaṃ, aṅgaṃ nimittaṃ uppātaṃ supinaṃ
lakkhaṇaṃ mūsikacchinnaṃ aggihomaṃ dabbihomaṃ thusahomaṃ
kaṇahomaṃ taṇḍulahomaṃ sappihomaṃ telahomaṃ mukhahomaṃ
lohitahomaṃ aṅgavijjā vatthuvijjā khattavijjā sivavijjā
bhūtavijjā bhūrivijjā ahivijjā visavijjā vicchikavijjā
mūsikavijjā sakuṇavijjā vāyasavijjā pakkajjhānaṃ saraparittāṇaṃ
migacakkaṃ iti vā, iti evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvā
paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṃ.
|
56. Trong khi một số Sa-môn,
Bà-la-môn, dầu đă dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn c̣n
tự nuôi sống bằng những tà hạnh như xem tướng tay chân, chiêm
tướng, triệu tướng, mộng tướng, thân tướng, dấu chuột cắn, tế
lửa, tế muỗng, dùng miệng phun hạt cải v. v... vào lửa, tế vỏ
lúa, tế tấm, tế gạo, tế thục tô, tế máu, khoa xem chi tiết, khoa
xem địa lư, khoa xem mộng, khoa cầu thần ban phước, khoa cầu quỷ
ma, khoa dùng bùa chú khi ở trong nhà bằng đất, khoa rắn, khoa
thuốc độc, khoa ḅ cạp, khoa chim, khoa chim quạ, khoa đoán số
mạng, khoa ngừa tên bắn, khoa biết tiếng nói của chim. C̣n vị ấy
th́ tránh xa những tà hạnh kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị
ấy trong giới luật.
|
|
206. Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni
bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena
jīvitaṃ kappenti. Seyyathidaṃ, maṇilakkhaṇaṃ vatthalakkhaṇaṃ
daṇḍalakkhaṇaṃ satthalakkhaṇaṃ asilakkhaṇaṃ usulakkhaṇaṃ
dhanulakkhaṇaṃ āvudhalakkhaṇaṃ itthilakkhaṇaṃ purisalakkhaṇaṃ
kumāralakkhaṇaṃ kumārilakkhaṇaṃ dāsalakkhaṇaṃ dāsilakkhaṇaṃ
hatthilakkhaṇaṃ assalakkhaṇaṃ mahiṃsalakkhaṇaṃ usabhalakkhaṇaṃ
golakkhaṇaṃ ajalakkhaṇaṃ meṇḍalakkhaṇaṃ kukkuṭalakkhaṇaṃ
vaṭṭakalakkhaṇaṃ godhālakkhaṇaṃ kaṇṇikalakkhaṇaṃ
kacchapalakkhaṇaṃ migalakkhaṇaṃ iti vā, iti evarūpāya
tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato hoti. Idampissa hoti
sīlasmiṃ.
|
57. Trong khi một số Sa-môn,
Bà-la-môn, dầu đă dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn c̣n
tự nuôi sống bằng những tà mạng như xem tướng các ḥn ngọc,
tướng que gậy, tướng áo quần, tướng gươm kiếm, tướng mũi tên,
tướng cây cung, tướng vơ khí, tướng đàn bà, tướng đàn ông, tướng
thiếu niên, tướng thiếu nữ, tướng đầy tớ nam, tướng đầy tớ nữ,
tướng voi, tướng ngựa, tướng trâu, tướng ḅ đực, tướng ḅ cái,
tướng dê, tướng cừu, tướng gia cầm, tướng chim cun cút, tướng
con cắc kè, tướng vật tai dài, tướng ma, tướng thú vật. C̣n vị
ấy th́ tránh xa những tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của
vị ấy trong giới luật.
|
|
207. Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni
bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena
jīvitaṃ kappenti. Seyyathidaṃ, raññaṃ niyyānaṃ bhavissati,
raññaṃ aniyyānaṃ bhavissati, abbhantarānaṃ raññaṃ upayānaṃ
bhavissati, bāhirānaṃ raññaṃ apayānaṃ bhavissati, bāhirānaṃ
raññaṃ upayānaṃ bhavissati, abbhantarānaṃ raññaṃ apayānaṃ
bhavissati, abbhantarānaṃ raññaṃ jayo bhavissati, bāhirānaṃ
raññaṃ parājayo bhavissati, bāhirānaṃ raññaṃ jayo bhavissati,
abbhantarānaṃ raññaṃ parājayo bhavissati, iti imassa jayo
bhavissati, imassa parājayo bhavissati iti vā, iti evarūpāya
tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato hoti. Idampissa hoti
sīlasmiṃ.
|
58. Trong khi một số Sa-môn,
Bà-la-môn, dầu đă dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn c̣n
tự nuôi sống bằng những tà mạng, như đoán trước: "Vua sẽ tiến
quân, vua sẽ lùi quân, vua bản xứ sẽ tấn công, vua ngoại bang sẽ
triệt thối, vua bản xứ sẽ thắng trận, vua ngoại bang sẽ thắng
trận, vua bản xứ sẽ bại trận. Như vậy sẽ có sự thắng trận cho
phe bên này, sẽ có sự bại trận cho phe bên kia". C̣n vị ấy th́
từ bỏ những tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy
trong giới luật.
|
|
208. Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni
bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena
jīvitaṃ kappenti. Seyyathidaṃ, candaggāho bhavissati,
sūriyaggāho bhavissati, nakkhattaggāho bhavissati,
candimasūriyānaṃ pathagamanaṃ bhavissati, candimasūriyānaṃ
uppathagamanaṃ bhavissati, nakkhattānaṃ pathagamanaṃ bhavissati,
nakkhattānaṃ uppathagamanaṃ bhavissati, ukkāpāto bhavissati,
disāḍāho bhavissati, bhūmicālo bhavissati, devadudrabhi
bhavissati, candimasūriyanakkhattānaṃ uggamanaṃ ogamanaṃ
saṃkilesaṃ vodānaṃ bhavissati, evaṃvipāko candaggāho bhavissati,
evaṃvipāko sūriyaggāho bhavissati, evaṃvipāko nakkhattaggāho
bhavissati, evaṃvipākaṃ candimasūriyānaṃ pathagamanaṃ
bhavissati, evaṃvipākaṃ candimasūriyānaṃ uppathagamanaṃ
bhavissati, evaṃvipākaṃ nakkhattānaṃ pathagamanaṃ bhavissati,
evaṃvipākaṃ nakkhattānaṃ uppathagamanaṃ bhavissati, evaṃvipāko
ukkāpāto bhavissati, evaṃvipāko disāḍāho bhavissati, evaṃvipāko
bhūmicālo bhavissati, evaṃvipāko devadudrabhi bhavissati,
evaṃvipākaṃ candimasūriyanakkhattānaṃ uggamanaṃ ogamanaṃ
saṃkilesaṃ vodānaṃ bhavissati iti vā, iti evarūpāya
tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato hoti. Idampissa hoti
sīlasmiṃ.
|
59. Trong khi có một số Sa-môn,
Bà-la-môn, dầu đă dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn c̣n
nuôi sống bằng những tà mạng, như đoán trước: "Sẽ có nguyệt
thực, sẽ có nhật thực, sẽ có tinh thực, mặt trăng, mặt trời sẽ
đi đúng chánh đạo, mặt trăng mặt trời sẽ đi ngoài chánh đạo, sẽ
có sao băng, các tinh tú sẽ đi đúng chánh đạo, các tinh tú sẽ đi
ngoài chánh đạo, sẽ có sao bằng, sẽ có lửa cháy các phương
hướng, sẽ có động, sẽ có sấm trời, mặt trăng mặt trời các sao sẽ
mọc, sẽ lặn, sẽ mờ, sẽ sáng, nguyệt thực sẽ có kết quả như thế
này, nhật thực sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi
đúng chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, mặt trăng mặt trời đi
ngoài chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, các tinh tú đi đúng
chánh đạo sẽ có kết quả như thế này, các tinh tú đi ngoài chánh
đạo sẽ có kết quả như thế này, sao băng sẽ có kết quả như thế
này, lửa cháy các phương sẽ có kết quả như thế này, động đất sẽ
có kết quả như thế này, sấm trời sẽ có kết quả như thế này, mặt
trăng mặt trời các sao mọc lặn sáng mờ sẽ có kết quả như thế
này". C̣n vị ấy th́ tránh xa không tự nuôi sống bằng tà mạng kể
trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
|
|
209. Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni
bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena
jīvitaṃ kappenti. Seyyathidaṃ, suvuṭṭhikā bhavissati,
dubbuṭṭhikā bhavissati, subhikkhaṃ bhavissati, dubbhikkhaṃ
bhavissati, khemaṃ bhavissati, bhayaṃ bhavissati, rogo
bhavissati, ārogyaṃ bhavissati, muddā, gaṇanā, saṅkhānaṃ,
kāveyyaṃ, lokāyataṃ iti vā, iti evarūpāya tiracchānavijjāya
micchājīvā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṃ.
|
60. Trong khi một số Sa-môn,
Bà-la-môn, dầu đă dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn c̣n
tự nuôi sống bằng tà mạng, như đoán trước: "Sẽ có nhiều mưa, sẽ
có đại hạn, sẽ được mùa, sẽ mất mùa, sẽ được an ổn, sẽ bị hiểm
họa, sẽ có bệnh, sẽ không có bệnh, hay làm các nghề như đếm trên
ngón tay, kế toán, cộng số lớn, làm thư, làm theo thế t́nh". C̣n
vị ấy th́ tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của
vị ấy trong giới luật.
|
|
210. Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni
bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena
jīvitaṃ kappenti. Seyyathidaṃ, āvāhanaṃ vivāhanaṃ saṃvaraṇaṃ
vivaraṇaṃ saṃkiraṇaṃ vikiraṇaṃ subhagakaraṇaṃ dubbhagakaraṇaṃ
viruddhagabbhakaraṇaṃ jivhānibandhanaṃ hanusaṃhananaṃ
hatthābhijappanaṃ hanujappanaṃ kaṇṇajappanaṃ ādāsapañhaṃ
kumārikapañhaṃ devapañhaṃ ādiccupaṭṭhānaṃ mahatupaṭṭhānaṃ
abbhujjalanaṃ sirivhāyanaṃ iti vā, iti evarūpāya
tiracchānavijjāya micchājīvā paṭivirato hoti. Idampissa hoti
sīlasmiṃ.
|
61. Trong khi một số Sa-môn,
Bà-la-môn, dầu đă dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn c̣n
tự nuôi sống bằng những tà mạng, như sắp đặt ngày lành để rước
dâu hay rễ về nhà, sắp đặt ngày lành để đưa dâu hay rễ, lựa ngày
giờ tốt để ḥa giải, lựa ngày giờ tốt để chia rẽ, lựa ngày giờ
tốt để đ̣i nợ, lựa ngày giờ tốt để cho mượn hay tiêu tiền, dùng
bùa chú để giúp người được may mắn, dùng bùa chú để khiến người
bị rủi ro, dùng bùa chú để phá thai, dùng bùa chú làm cóng lưỡi,
dùng bùa chú khiến quai hàm không cử động, dùng bùa chú khiến
người phải bỏ tay xuống, dùng bùa chú khiến tai bị điếc, hỏi
gương soi, hỏi phù đồng thiếu nữ, hỏi thiên thần để biết họa
phước, thờ mặt trời, thờ đại địa, phun ra lửa, cầu Siri thần
tài. C̣n vị ấy th́ tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới
hạnh của vị ấy trong giới luật.
|
|
211. Yathā vā paneke bhonto samaṇabrāhmaṇā saddhādeyyāni
bhojanāni bhuñjitvā te evarūpāya tiracchānavijjāya micchājīvena
jīvitaṃ kappenti. Seyyathidaṃ, santikammaṃ paṇidhikammaṃ
bhūtakammaṃ bhūrikammaṃ vassakammaṃ vossakammaṃ vatthukammaṃ
vatthuparikammaṃ ācamanaṃ nhāpanaṃ juhanaṃ vamanaṃ virecanaṃ
uddhaṃvirecanaṃ adhovirecanaṃ sīsavirecanaṃ kaṇṇatelaṃ
nettatappanaṃ natthukammaṃ añjanaṃ paccañjanaṃ sālākiyaṃ
sallakattiyaṃ dārakatikicchā, mūlabhesajjānaṃ anuppadānaṃ,
osadhīnaṃ paṭimokkho iti vā, iti evarūpāya tiracchānavijjāya
micchājīvā paṭivirato hoti. Idampissa hoti sīlasmiṃ.
|
62. Trong khi một số Sa-môn,
Bà-la-môn, dầu đă dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn c̣n
tự nuôi sống bằng những tà mạng, như dùng các ảo thuật để được
yên ổn, để khỏi làm các điều đă hứa, để được che chở khi ở trong
nhà bằng đất, để dương được thịnh, để làm người liệt dương, để
t́m đất tốt làm nhà, để cầu phước cho nhà mới, lễ rửa miệng, lễ
tắm, lễ hy sinh, làm cho mửa, làm cho xổ, bài tiết các nhơ bẩn
về phía trên, bài tiết các nhơ bẩn về phía dưới, tẩy tịnh trong
đầu, thoa dầu trong tai, nhỏ thuốc mắt, cho thuốc qua lỗ mũi,
xức thuốc mắt, thoa dầu cho mắt, chữa bệnh cho mắt, làm thầy
thuốc, mổ xẻ chữa bệnh cho con nít, cho thuốc uống bằng các loại
rễ cây, ngăn ngừa công hiệu của thuốc. C̣n vị ấy th́ tránh xa
các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới
luật.
|
|
212. Sa kho so mahārāja bhikkhu evaṃ sīlasampanno na kutoci
bhayaṃ samanupassati, yadidaṃ sīlasaṃvarato. Seyyathāpi mahārāja
rājā khattiyo muddhābhisitto nihatapaccāmitto na kutoci bhayaṃ
samanupassati, yadidaṃ paccatthikato. Evameva kho mahārāja
bhikkhu evaṃ sīlasampanno na kutoci bhayaṃ samanupassati,
yadidaṃ sīlasaṃvarato, so iminā ariyena sīlakkhandhena
samannāgato ajjhattaṃ anavajjasukhaṃ paṭisaṃvedeti. Evaṃ kho
mahārāja bhikkhu sīlasampanno hoti.
Mahāsīlaṃ niṭṭhitaṃ.
|
63. Và như vậy, Đại vương, vị
Tỷ-kheo ấy, nhờ đầy đủ giới luật nên không thấy sợ hăi từ một
chỗ nào về phương diện hộ tŕ giới luật. Đại vương, như một vị
Sát đế lỵ đă làm lễ quán đảnh, đă hàng phục kẻ thù địch, không
c̣n thấy sợ hăi từ chỗ nào nữa về phương diện thù địch. Cũng
vậy, này Đại vương, Tỷ-kheo ấy nhờ đầy đủ giới luật, nên không
thấy sợ hăi từ một chỗ nào về phương diện hộ tŕ giới luật. Vị
ấy nhờ đầy đủ giới luật cao quư này, nên hưởng lạc thọ, nội tâm
không vẩn đục. Như vậy, này Đại vương, Tỷ-kheo đầy đủ giới luật.
|
|
Indriyasaṃvara
213. Kathañca mahārāja bhikkhu indriyesu guttadvāro hoti. Idha
mahārāja bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā na nimittaggāhī hoti
nānubyañjanaggāhī, yatvādhikaraṇamenaṃ cakkhundriyaṃ asaṃvutaṃ
viharantaṃ abhijjhā domanassā pāpakā akusalā dhammā
anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya paṭipajjati, rakkhati
cakkhundriyaṃ, cakkhundriye saṃvaraṃ āpajjati, sotena saddaṃ
sutvā ‑pa‑ ghānena gandhaṃ ghāyitvā ‑pa‑ jivhāya rasaṃ sāyitvā
‑pa‑ kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā ‑pa‑ manasā dhammaṃ viññāya na
nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī, yatvādhikaraṇamenaṃ
manindriyaṃ asaṃvutaṃ viharantaṃ abhijjhā domanassā pāpakā
akusalā dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya paṭipajjati,
rakkhati manindriyaṃ, manindriye saṃvaraṃ āpajjati, so iminā
ariyena indriyasaṃvarena samannāgato ajjhattaṃ abyāsekasukhaṃ
paṭisaṃvedeti. Evaṃ kho mahārāja bhikkhu indriyesu guttadvāro
hoti.
|
64. Đại vương, thế nào là Tỷ-kheo
hộ tŕ các căn? Này Đại vương, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không
nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên
nhân ǵ, khiến nhăn căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu
bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên
nhân ấy, hộ tŕ nhăn căn, thực hành sự hộ tŕ nhăn căn. Khi tai
nghe tiếng... mũi ngửi hương... thân cảm xúc... ư nhận thức các
pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng
riêng. Những nguyên nhân ǵ khiến ư căn không được chế ngự,
khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo
chế ngự nguyên nhân ấy, hộ tŕ ư căn, thực hành sự hộ tŕ ư căn.
Vị ấy, nhờ sự hộ tŕ cao quư các căn ấy, nên hưởng lạc thọ nội
tâm, không vẩn đục. Như vậy, này Đại vương, Tỷ-kheo hộ tŕ các
căn. |
|
Satisampajañña
214. Kathañca mahārāja bhikkhu satisampajaññena samannāgato
hoti. Idha mahārāja bhikkhu abhikkante paṭikkante sampajānakārī
hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite
sampajānakārī hoti, saṃghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī
hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti,
uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte
jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti. Evaṃ kho
mahārāja bhikkhu satisampajaññena samannāgato hoti.
|
65. Đại vương, thế nào là Tỷ-kheo
chánh niệm tỉnh giác? Đại vương, ở đây, Tỷ-kheo khi đi tới, khi
đi lui đều tỉnh giác; khi nh́n thẳng, khi nh́n quanh đều tỉnh
giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép,
b́nh bát, thượng y đều tỉnh giác, khi ăn, uống, nhai, nuốt đều
tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi,
đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này
Đại vương, Tỷ-kheo chánh niệm tỉnh giác.
|
|
Santosa
215. Kathañca mahārāja bhikkhu santuṭṭho hoti. Idha mahārāja
bhikkhu santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena
kucchiparihārikena piṇḍapātena, so yena yeneva pakkamati,
samādāyeva pakkamati. Seyyathāpi mahārāja pakkhī sakuṇo yena
yeneva ḍeti, sapattabhārova ḍeti. Evameva kho mahārāja bhikkhu
santuṭṭho hoti kāyaparihārikena cīvarena kucchiparihārikena
piṇḍapātena, so yena yeneva pakkamati, samādāyeva pakkamati.
Evaṃ kho mahārāja bhikkhu santuṭṭho hoti.
|
66. Đại vương, thế nào là Tỷ-kheo
biết đủ? Ở đây Tỷ-kheo bằng ḷng với tấm y để che thân, với đồ
ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo (y và
b́nh bát). Đại vương, cũng như con chim bay đến chỗ nào cũng
mang theo hai cánh; cũng vậy, Đại vương, vị Tỷ-kheo bằng ḷng
với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại
chỗ nào cũng mang theo. Như vậy, này Đại vương, là Tỷ-kheo biết
đủ.
|
|
Nīvaraṇappahāna
216. So iminā ca ariyena sīlakkhandhena samannāgato iminā ca
ariyena indriyasaṃvarena samannāgato iminā ca ariyena
satisampajaññena samannāgato imāya ca ariyāya santuṭṭhiyā
samannāgato vivittaṃ senāsanaṃ bhajati araññaṃ rukkhamūlaṃ
pabbataṃ kandaraṃ giriguhaṃ susānaṃ vanapatthaṃ abbhokāsaṃ
palālapuñjaṃ. So pacchābhattaṃ piṇḍapātappaṭikkanto nisīdati
pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ
upaṭṭhapetvā.
|
67. Vị ấy, với giới uẩn cao quư
này, với sự hộ tŕ các căn cao quư này, với chánh niệm tỉnh giác
cao quư này, với hạnh biết đủ cao quư này, lựa một chỗ thanh
vắng, tịch mịch, như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, băi tha
ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn
xong, vị ấy ngồi kiết già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an
trú chánh niệm trước mặt.
|
|
217. So abhijjhaṃ loke pahāya vigatābhijjhena cetasā viharati,
abhijjhāya cittaṃ parisodheti. Byāpādapadosaṃ pahāya
abyāpannacitto viharati sabbapāṇabhūtahitānukampī, byāpādapadosā
cittaṃ parisodheti. Thinamiddhaṃ pahāya vigatathinamiddho
viharati ālokasaññī sato sampajāno, thinamiddhā cittaṃ
parisodheti. Uddhaccakukkuccaṃ pahāya anuddhato viharati
ajjhattaṃ vūpasantacitto, uddhaccakukkuccā cittaṃ parisodheti.
Vicikicchaṃ pahāya tiṇṇavicikiccho viharati akathaṃkathī
kusalesu dhammesu, vicikicchāya cittaṃ parisodheti.
|
68. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời,
sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ
sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, ḷng từ mẫn thương
xót tất cả chúng hữu t́nh, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn
trầm, thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm và thụy miên; với
tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm
hết hôn trầm, thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống
không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối
tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân
vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
|
|
218. Seyyathāpi mahārāja puriso iṇaṃ ādāya kammante payojeyya,
tassa te kammantā samijjheyyuṃ, so yāni ca porāṇāni iṇamūlāni,
tāni ca byantiṃ kareyya (Byantīkareyya
- Sī, Syā, Kaṃ),
siyā cassa uttariṃ avasiṭṭhaṃ dārabharaṇāya. Tassa evamassa
“Ahaṃ kho pubbe iṇaṃ ādāya kammante payojesiṃ, tassa me te
kammantā samijjhiṃsu, sohaṃ yāni ca porāṇāni iṇamūlāni, tāni ca
byantiṃ akāsiṃ, atthi ca me uttariṃ avasiṭṭhaṃ dārabharaṇāyā”ti.
So tatonidānaṃ labhetha pāmojjaṃ, adhigaccheyya somanassaṃ.
|
69. Này Đại vương, như một người
mắc nợ, liền làm các nghề nghiệp. Những nghề này được phát đạt,
người ấy không những trả được nợ cũ, c̣n có tiền dư để nuôi
dưỡng vợ. Người ấy nghĩ: "Ta trước kia mắc nợ nên làm các nghề
nghiệp. Những nghề này được phát đạt, ta không những trả được nợ
cũ, c̣n có tiền dư để nuôi dưỡng vợ". Người ấy nhờ vậy được sung
sướng, hoan hỷ.
|
|
219. Seyyathāpi mahārāja puriso ābādhiko assa dukkhito
bāḷhagilāno, bhattañcassa nacchādeyya, na cassa kāye balamattā,
so aparena samayena tamhā ābādhā mucceyya, bhattañcassa
chādeyya, siyā cassa kāye balamattā. Tassa evamassa “Ahaṃ kho
pubbe ābādhiko ahosiṃ dukkhito bāḷhagilāno, bhattañca me
nacchādesi, na ca me āsi (Na
cassa me - Ka)
kāye balamattā, somhi etarahi tamhā ābādhā mutto, bhattañca me
chādeti, atthi ca me kāye balamattā”ti. So tatonidānaṃ labhetha
pāmojjaṃ, adhigaccheyya somanassaṃ.
|
70. Này Đại vương, như một người
bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy
yếu. Sau một thời gian người ấy khỏi bệnh, ăn uống tiêu thông,
thể lực khôi phục. Người ấy nghĩ: "Ta trước kia bị bệnh, đau đớn
trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể lực suy yếu. Nay ta khỏi
bệnh, ăn uống tiêu thông, thể lực khôi phục". Người ấy nhờ vậy
được sung sướng hoan hỷ.
|
|
220. Seyyathāpi mahārāja puriso bandhanāgāre baddho assa, so
aparena samayena tamhā bandhanāgārā mucceyya sotthinā abbhayena
(Abbayena
- Sī, Ka),
na cassa kiñci bhogānaṃ vayo. Tassa evamassa “Ahaṃ kho pubbe
bandhanāgāre baddho ahosiṃ, somhi etarahi tamhā bandhanāgārā
mutto sotthinā abbhayena, natthi ca me kiñci bhogānaṃ vayo”ti.
So tatonidānaṃ labhetha pāmojjaṃ, adhigaccheyya somanassaṃ.
|
71. Này Đại vương, như một người
bị nhốt trong ngục. Người ấy sau một thời gian, được khỏi tù
tội, an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. Người ấy nghĩ:
"Ta trước kia bị nhốt trong ngục, nay ta được khỏi tù tội, an
lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn". Người ấy nhờ vậy được
sung sướng hoan hỷ.
|
|
221. Seyyathāpi mahārāja puriso dāso assa anattādhīno parādhīno
na yenakāmaṃgamo, so aparena samayena tamhā dāsabyā mucceyya
attādhīno aparādhīno bhujisso yenakāmaṃgamo. Tassa evamassa
“Ahaṃ kho pubbe dāso ahosiṃ anattādhīno parādhīno na
yenakāmaṃgamo, somhi etarahi tamhā dāsabyā mutto attādhīno
aparādhīno bhujisso yenakāmaṃgamo”ti. So tatonidānaṃ labhetha
pāmojjaṃ, adhigaccheyya somanassaṃ.
|
72. Này Đại vương, như một người
nô lệ, không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do
đi lại. Người ấy, sau một thời gian, thoát khỏi cảnh nô lệ, được
tự chủ, không lệ thuộc người khác, một người được giải thoát,
được tự do đi lại. Người ấy nghĩ: "Ta trước kia bị cảnh nô lệ,
không được tự chủ, lệ thuộc người khác, không được tự do đi lại.
Nay ta thoát cảnh nô lệ, được tự chủ, không lệ thuộc người khác,
một người được giải thoát, được tự do đi lại". Người ấy nhờ vậy
được sung sướng hoan hỷ.
|
|
222. Seyyathāpi mahārāja puriso sadhano sabhogo
kantāraddhānamaggaṃ paṭipajjeyya dubbhikkhaṃ sappaṭibhayaṃ, so
aparena samayena taṃ kantāraṃ nitthareyya, sotthinā gāmantaṃ
anupāpuṇeyya khemaṃ appaṭibhayaṃ. Tassa evamassa “Ahaṃ kho pubbe
sadhano sabhogo kantāraddhānamaggaṃ paṭipajjiṃ dubbhikkhaṃ
sappaṭibhayaṃ, somhi etarahi taṃ kantāraṃ nitthiṇṇo, sotthinā
gāmantaṃ anuppatto khemaṃ appaṭibhayan”ti, so tatonidānaṃ
labhetha pāmojjaṃ, adhigaccheyya somanassaṃ.
|
73. Này Đại vương, như một người
giàu có, nhiều tài sản, đang đi qua băi sa mạc, thiếu lương
thực, đầy những nguy hiểm. Người ấy, sau một thời gian đă đi
khỏi sa mạc, đến đầu làng vô sự, yên ổn, không có nguy hiểm.
Người ấy nghĩ: "Ta trước kia giàu có, nhiều tài sản, đi qua băi
sa mạc thiếu lương thực, đầy những nguy hiểm. Nay ta đă đi qua
khỏi băi sa mạc ấy, đến đầu làng vô sự, yên ổn, không có nguy
hiểm". Người ấy nhờ vậy được sung sướng hoan hỷ.
|
|
223. Evameva kho mahārāja bhikkhu yathā iṇaṃ yathā rogaṃ yathā
bandhanāgāraṃ yathā dāsabyaṃ yathā kantāraddhānamaggaṃ. Evaṃ ime
pañca nīvaraṇe appahīne attani samanupassati.
|
74. Như vậy, này Đại vương,
Tỷ-kheo tự ḿnh quán năm triền cái chưa xả ly, như món nợ, như
bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường sa mạc.
|
|
224. Seyyathāpi mahārāja yathā āṇaṇyaṃ yathā ārogyaṃ yathā
bandhanāmokkhaṃ yathā bhujissaṃ yathā khemantabhūmiṃ. Evameva
kho mahārāja bhikkhu ime pañca nīvaraṇe pahīne attani
samanupassati.
|
Này Đại vương, cũng như không mắc
nợ, như không bệnh tật, như được khỏi tù tội, như được tự do,
như đất lành yên ổn, này Đại vương, Tỷ-kheo quán năm triền cái
khi diệt trừ chúng.
|
|
225. Tassime pañca nīvaraṇe pahīne attani samanupassato pāmojjaṃ
jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati,
passaddhakāyo sukhaṃ vedeti, sukhino cittaṃ samādhiyati.
|
75. Khi quán tự thân đă xả ly năm
triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan nên hỷ sanh; do tâm
hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do
lạc thọ, tâm được định tĩnh. |
|
Paṭhamajhāna
226. So vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ
savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja
viharati, so imameva kāyaṃ vivekajena pītisukhena abhisandeti
parisandeti paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato
kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṃ hoti.
|
Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp, chứng
và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với
tầm, với tứ. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung măn, tràn
đầy thân ḿnh với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào trên
toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần. |
|
227. Seyyathāpi mahārāja dakkho nhāpako vā nhāpakantevāsī vā
kaṃsathāle nhānīyacuṇṇāni ākiritvā udakena paripphosakaṃ
paripphosakaṃ sanneyya, sāyaṃ nhānīyapiṇḍi snehānugatā
snehaparetā santarabāhirā phuṭā snehena, na ca paggharaṇī.
Evameva kho mahārāja bhikkhu imameva kāyaṃ vivekajena
pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati,
nāssa kiñci sabbāvato kāyassa vivekajena pītisukhena apphuṭaṃ
hoti.
Idampi kho mahārāja sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ purimehi
sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca.
|
76. Này Đại vương, như một người
hầu tắm lăo luyện hay đệ tử người hầu tắm. Sau khi rắc bột tắm
trong thau bằng đồng, liền nhồi bột ấy với nước, cục bột tắm ấy
được thấm nhuần nước ướt, nhào trộn với nước ướt, thấm ướt cả
trong lẫn ngoài với nước, nhưng không chảy thành giọt. Cũng vậy,
này Đại vương, Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung măn,
tràn đầy thân h́nh với hỷ lạc do ly dục sanh, không một chỗ nào
trên toàn thân không được hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần.
Này Đại vương, đó là quả thiết
thực hiện tại của hạnh Sa-môn, c̣n vi diệu thù thắng hơn những
quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.
|
|
Dutiyajhāna
228. Puna caparaṃ mahārāja bhikkhu vitakkavicārānaṃ vūpasamā
ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ
samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati, so
imameva kāyaṃ samādhijena pītisukhena abhisandeti parisandeti
paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa
samādhijena pītisukhena apphuṭaṃ hoti.
|
77. Lại nữa, này Đại vương,
Tỷ-kheo ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng
thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm
Tỷ-kheo ấy thấm nhuần, tẩm ướt làm cho sung măn, tràn đầy thân
ḿnh với hỷ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân
không được hỷ lạc do định sanh ấy thấm nhuần.
|
|
229. Seyyathāpi mahārāja udakarahado gambhīro ubbhidodako (Ubbhitodako
- Syā, Kaṃ, Ka)
tassa nevassa puratthimāya disāya udakassa āyamukhaṃ, na
dakkhiṇāya disāya udakassa āyamukhaṃ, na pacchimāya disāya
udakassa āyamukhaṃ, na uttarāya disāya udakassa āyamukhaṃ, devo
ca na kālenakālaṃ sammādhāraṃ anuppaveccheyya. Atha kho tamhāva
udakarahadā sītā vāridhārā ubbhijjitvā tameva udakarahadaṃ
sītena vārinā abhisandeyya parisandeyya paripūreyya
paripphareyya, nāssa kiñci sabbāvato udakarahadassa sītena
vārinā apphuṭaṃ assa. Evameva kho mahārāja bhikkhu imameva kāyaṃ
samādhijena pītisukhena abhisandeti parisandeti paripūreti
parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa samādhijena
pītisukhena apphuṭaṃ hoti.
Idampi kho mahārāja sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ purimehi
sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantarañca paṇītatarañca.
|
78. Này Đại vương, ví như một hồ
nước, nước tự trong dâng lên, phương Đông không có lỗ nước chảy
ra, phương Tây không có lỗ nước chảy ra, phương Bắc không có lỗ
nước chảy ra, phương Nam không có lỗ nước chảy ra, và thỉnh
thoảng trời lại mưa lớn. Suối nước mát từ hồ nước ấy phun ra
thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung măn tràn đầy hồ nước ấy, với
nước mát lạnh, không một chỗ nào của hồ nước ấy không được nước
mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, này Đại vương, Tỷ-kheo thấm nhuần
tẩm ướt, làm cho sung măn tràn đầy thân ḿnh với hỷ lạc do định
sanh, không một chỗ nào trên toàn thân, không được hỷ lạc do
định sanh ấy thấm nhuần.
Này Đại vương, đó là quả thiết
thực hiện tại của hạnh Sa-môn, c̣n vi diệu thù thắng hơn những
quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.
|
|
Tatiyajhāna
230. Puna caparaṃ mahārāja bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca
viharati sato sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ
ariyā ācikkhanti “Upekkhako satimā sukhavihārī”ti, tatiyaṃ
jhānaṃ upasampajja viharati, so imameva kāyaṃ nippītikena
sukhena abhisandeti parisandeti paripūreti parippharati, nāssa
kiñci sabbāvato kāyassa nippītikena sukhena apphuṭaṃ hoti.
|
79. Lại nữa, này Đại vương,
Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ
mà các bậc Thánh gọi là "Xả niệm lạc trú", chứng và an trú thiền
thứ ba. Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho sung măn tràn đầy
thân ḿnh với lạc thọ không có hỷ ấy, không một chỗ nào trên
toàn thân, không được lạc thọ không có hỷ ấy thấm nhuần.
|
|
231. Seyyathāpi mahārāja uppaliniyaṃ vā paduminiyaṃ vā
puṇḍarīkiniyaṃ vā appekaccāni uppalāni vā padumāni vā
puṇḍarīkāni vā udake jātāni udake saṃvaḍḍhāni udakānuggatāni
antonimuggaposīni, tāni yāva caggā yāva ca mūlā sītena vārinā
abhisannāni parisannāni (Abhisandāni
parisandāni - Ka)
paripūrāni paripphuṭāni (Paripphuṭṭhāni
- I),
nāssa kiñci sabbāvataṃ uppalānaṃ vā padumānaṃ vā puṇḍarīkānaṃ vā
sītena vārinā apphuṭaṃ assa. Evameva kho mahārāja bhikkhu
imameva kāyaṃ nippītikena sukhena abhisandeti parisandeti
paripūreti parippharati, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa
nippītikena sukhena apphuṭaṃ hoti.
Idampi
kho mahārāja sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ purimehi sandiṭṭhikehi
sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca.
|
80. Này Đại vương, ví như trong
hồ sen xanh, hồ sen hồng, hồ sen trắng, có những sen xanh, sen
hồng hay sen trắng. Những bông sen ấy sanh trong nước, lớn lên
trong nước, không vượt khỏi nước, nuôi sống dưới nước, từ đầu
ngọn cho đến gốc rễ đều thấm nhuần tẩm ướt, đầy tràn thấu suốt
bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào của toàn thể sen xanh,
sen hồng hay sen trắng không được nước mát lạnh ấy thấm nhuần.
Cũng vậy, này Đại vương Tỷ-kheo thấm nhuần, tẩm ướt, làm cho
sung măn, tràn đầy thân ḿnh với lạc thọ không có hỷ ấy, không
một chỗ nào trên toàn thân không được lạc thọ không có hỷ ấy
thấm nhuần.
Này Đại vương, đó là quả thiết
thực hiện tại của hạnh Sa-môn, c̣n vi diệu thù thắng hơn những
quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.
|
|
Catutthajhāna
232. Puna caparaṃ mahārāja bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa
ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā
adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ
upasampajja viharati, so imameva kāyaṃ parisuddhena cetasā
pariyodātena pharitvā nisinno hoti, nāssa kiñci sabbāvato
kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena apphuṭaṃ hoti.
|
81. Lại nữa, này Đại vương,
Tỷ-kheo, xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đă cảm thọ trước, chứng và
trú vào thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Tỷ-kheo ấy thấm nhuần toàn thân ḿnh với tâm thuần tịnh trong
sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh
trong sáng ấy thấm nhuần.
|
|
233. Seyyathāpi mahārāja puriso odātena vatthena sasīsaṃ
pārupitvā nisinno assa, nāssa kiñci sabbāvato kāyassa odātena
vatthena apphuṭaṃ assa. Evameva kho mahārāja bhikkhu imameva
kāyaṃ parisuddhena cetasā pariyodātena pharitvā nisinno hoti,
nāssa kiñci sabbāvato kāyassa parisuddhena cetasā pariyodātena
apphuṭaṃ hoti.
Idampi kho mahārāja sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ purimehi
sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca.
|
82. Này Đại vương, ví như một
người ngồi, dùng tấm vải trắng trùm đầu, không một chỗ nào trên
toàn thân không được vải trắng ấy che thấu. Cũng vậy, này Đại
vương, Tỷ-kheo thấm nhuần toàn thân ḿnh với tâm thuần tịnh,
trong sáng, không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm
thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần.
Này Đại vương, đó là quả thiết
thực hiện tại của hạnh Sa-môn, c̣n vi diệu, thù thắng hơn những
quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.
|
|
Vipassanāñāṇa (1)
234. So (Puna
caparaṃ mahārāja bhikkhu so - Ka)
evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe
vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte
ñāṇadassanāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti, so evaṃ
pajānāti “Ayaṃ kho me kāyo rūpī cātumahābhūtiko
mātāpettikasambhavo odanakummāsūpacayo
aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṃsanadhammo, idañca pana
me viññāṇaṃ ettha sitaṃ ettha paṭibaddhan”ti.
|
83. Với tâm định tĩnh, thuần
tịnh, không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng,
vững chắc, b́nh thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến
chánh trí, chánh kiến. Vị ấy biết: Thân này của ta là sắc pháp,
do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô
thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, trong thân
ấy thức ta lại nương tựa và bị trói buộc.
|
|
235. Seyyathāpi mahārāja maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṃso
suparikammakato accho vippasanno anāvilo sabbākārasampanno,
tatrāssa suttaṃ āvutaṃ nīlaṃ vā pītaṃ vā lohitaṃ vā (Pītakaṃ
vā lohitakaṃ vā - Ka)
odātaṃ vā paṇḍusuttaṃ vā, tamenaṃ cakkhumā puriso hatthe karitvā
paccavekkheyya “Ayaṃ kho maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṃso
suparikammakato accho vippasanno anāvilo sabbākārasampanno,
tatridaṃ suttaṃ āvutaṃ nīlaṃ vā pītaṃ vā lohitaṃ vā odātaṃ vā
paṇḍusuttaṃ vā”ti. Evameva kho mahārāja bhikkhu evaṃ samāhite
citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte
kammaniye ṭhite āneñjappatte ñāṇadassanāya cittaṃ abhinīharati
abhininnāmeti, so evaṃ pajānāti “Ayaṃ kho me kāyo rūpī
cātumahābhūtiko mātāpettikasambhavo odanakummāsūpacayo
aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṃsanadhammo, idañca pana
me viññāṇaṃ ettha sitaṃ ettha paṭibaddhan”ti.
Idampi kho mahārāja sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ purimehi
sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca.
|
84. Này Đại vương, ví như một ḥn
lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo
mài, sáng chói, không uế trược, đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và một
sợi giây được xâu qua ḥn ngọc ấy, sợi giây màu xanh, màu vàng,
màu đỏ, màu trắng hay màu vàng nhạt. Một người có mắt cầm ḥn
ngọc ấy trên tay sẽ thấy: Ḥn lưu ly bảo châu này, đẹp đẽ, trong
suốt, có tám mặt, khéo dũa, khéo mài, sáng chói, không uế trược,
đầy đủ tất cả mỹ tướng. Và sợi giây này được xâu qua ḥn ngọc
ấy, sợi giây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng
nhạt. Cũng vậy, này Đại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh,
không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững
chắc, b́nh thản như vậy. Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến chánh
trí, chánh kiến. Vị ấy biết: Thân này của ta là sắc pháp, do bốn
đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường,
biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt. Trong thân ấy thức
ta lại nương tựa và bị trói buộc.
Này Đại vương, đó là quả thiết
thực, hiện tại của hạnh Sa-môn, c̣n vi diệu và thù thắng hơn
những quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.
|
|
Manomayiddhiñāṇa
(2)
236. So evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe
vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte manomayaṃ
kāyaṃ abhinimmānāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti, so imamhā
kāyā aññaṃ kāyaṃ abhinimmināti rūpiṃ manomayaṃ sabbaṅgapaccaṅgiṃ
ahīnindriyaṃ.
|
85. Với tâm định tĩnh, thuần
tịnh, không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng,
vững chắc, b́nh thản như vậy, Tỷ-kheo chú tâm, hướng tâm đến sự
hóa hiện một thân do ư làm ra. Vị ấy tạo một thân khác từ nơi
thân này, cũng là sắc pháp, do ư làm ra, đầy đủ các chi tiết lớn
nhỏ, không thiếu một căn nào.
|
|
237. Seyyathāpi mahārāja puriso muñjamhā īsikaṃ pavāheyya (Pabbāheyya
- Syā, Ka).
Tassa evamassa “Ayaṃ muñjo, ayaṃ īsikā, añño
muñjo aññā īsikā, muñjamhā tveva īsikā pavāḷhā”ti (Pabbāḷhāti
- Syā, Ka).
Seyyathā vā pana mahārāja puriso asiṃ kosiyā
pavāheyya. Tassa evamassa “Ayaṃ asi, ayaṃ kosi, añño asi, aññā
kosi, kosiyā tveva asi pavāḷho”ti. Seyyathā vā pana mahārāja
puriso ahiṃ karaṇḍā uddhareyya. Tassa evamassa “Ayaṃ ahi, ayaṃ
karaṇḍo. Añño ahi, añño karaṇḍo, karaṇḍā tveva ahi ubbhato”ti (Uddharito
- Syā, Kaṃ).
Evameva kho mahārāja bhikkhu evaṃ samāhite citte
parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte
kammaniye ṭhite āneñjappatte manomayaṃ kāyaṃ abhinimmānāya
cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti, so imamhā kāyā aññaṃ kāyaṃ
abhinimmināti rūpiṃ manomayaṃ sabbaṅgapaccaṅgiṃ ahīnindriyaṃ.
Idampi kho mahārāja sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ purimehi
sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca.
|
86. Này Đại vương, ví như mọt
người rút một cây lau ra ngoài vỏ. Người ấy nghĩ: Đây là vỏ, đây
là cây lau; vỏ khác, cây lau khác và cây lau từ vỏ rút ra. Này
Đại vương, ví như một người rút thanh kiếm từ bao kiếm; thanh
kiếm khác, bao kiếm khác, và thanh kiếm từ nơi bao kiếm rút ra.
Này Đại vương, ví như một người lột xác một con rắn. Người ấy
nghĩ: Đây là con rắn, đây là xác rắn, con rắn khác, xác rắn
khác, và con rắn từ nơi xác rắn được lột ra. Cũng vậy, này Đại
vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không
phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, b́nh thản như vậy,
Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến sự hiện hóa một thân do ư làm ra.
Vị ấy tạo một thân khác từ nơi thân này, cũng là sắc pháp, do ư
tạo thành, đầy đủ các chi tiết lớn nhỏ, không thiếu một căn nào.
Này Đại vương, đó là quả thiết
thực hiện tại của hạnh Sa-môn, c̣n vi diệu thù thắng hơn những
quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.
|
|
Iddhividhañāṇa
(3)
238. So evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe
vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte
iddhividhāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti, so anekavihitaṃ
iddhividhaṃ paccanubhoti, ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi
hutvā eko hoti, āvibhāvaṃ tirobhāvaṃ tirokuṭṭaṃ tiropākāraṃ
tiropabbataṃ asajjamāno gacchati seyyathāpi ākāse. Pathaviyāpi
ummujjanimujjaṃ karoti seyyathāpi udake. Udakepi abhijjamāne (Abhijjamāno
- Sī, Ka)
gacchati seyyathāpi pathaviyā.
Ākāsepi
pallaṅkena kamati seyyathāpi pakkhī sakuṇo. Imepi candimasūriye
evaṃmahiddhike evaṃmahānubhāve pāṇinā parāmasati parimajjati.
Yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vatteti.
|
87. Với tâm định tĩnh, thuần
tịnh, không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng,
vững chắc, b́nh thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến các
thần thông. Vị ấy chứng được các loại thần thông, một thân hiện
ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện h́nh, biến h́nh
đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn
thổ, trồi lên ngang qua đất liền, như ở trong nước; đi trên nước
không ch́m như trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như
con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những
vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến
cơi Phạm thiên.
|
|
239. Seyyathāpi mahārāja dakkho kumbhakāro vā kumbhakārantevāsī
vā suparikammakatāya mattikāya yaṃ yadeva bhājanavikatiṃ
ākaṅkheyya, taṃ tadeva kareyya abhinipphādeyya. Seyyathā vā pana
mahārāja dakkho dantakāro vā dantakārantevāsī vā
suparikammakatasmiṃ dantasmiṃ yaṃ yadeva dantavikatiṃ
ākaṅkheyya, taṃ tadeva kareyya abhinipphādeyya. Seyyathā vā pana
mahārāja dakkho suvaṇṇakāro vā suvaṇṇakārantevāsī vā
suparikammakatasmiṃ suvaṇṇasmiṃ yaṃ yadeva suvaṇṇavikatiṃ
ākaṅkheyya, taṃ tadeva kareyya abhinipphādeyya. Evameva kho
mahārāja bhikkhu evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte
anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte
iddhividhāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti, so anekavihitaṃ
iddhividhaṃ paccanubhoti, ekopi hutvā bahudhā hoti, bahudhāpi
hutvā eko hoti, āvibhāvaṃ tirobhāvaṃ tirokuṭṭaṃ tiropākāraṃ
tiropabbataṃ asajjamāno gacchati seyyathāpi ākāse. Pathaviyāpi
ummujjanimujjaṃ karoti seyyathāpi udake. Udakepi abhijjamāne
gacchati seyyathāpi pathaviyā.
Ākāsepi
pallaṅkena kamati seyyathāpi pakkhī sakuṇo. Imepi candimasūriye
evaṃmahiddhike evaṃmahānubhāve pāṇinā parāmasati parimajjati.
Yāva brahmalokāpi kāyena vasaṃ vatteti.
Idampi kho mahārāja sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ purimehi
sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca.
|
88. Này Đại vương, ví như một
người thợ gốm khéo tay, hay đệ tử người thợ gốm, với đất sét
khéo nhồi nhuyễn, có thể làm các loại đồ gốm tùy theo sở thích.
Này Đại vương, ví như một người thợ ngà khéo tay, hay đệ tử
người thợ ngà, với ngà khéo đẽo dũa có thể làm các loại đồ ngà
tùy theo sở thích. Này Đại vương, ví như người thợ vàng khéo tay
hay đệ tử người thợ vàng, với vàng khéo tinh nhuyễn có thể làm
các loại đồ vàng tùy theo sở thích. Cũng vậy này Đại vương, với
tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu
nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, b́nh thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn
tâm hướng tâm đến các thần thông. Vị ấy chứng được các thần
thông một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân;
hiện h́nh biến h́nh, đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như
đi ngang qua hư không; độn thổ trồi lên, ngang qua đất liền như
ở trong nước; đi trên nước không ch́m như đi trên đất liền; ngồi
kiết già đi trên hư không như c̣n chim; với bàn tay chạm và rờ
mặt trời và mặt trăng, những vật có đại oai lực, đại oai thần
như vậy; có thể tự thân bay đến cơi Phạm thiên.
Này Đại vương đó là quả thiết
thực hiện tại của hạnh Sa-môn c̣n vi diệu thù thắng hơn những
quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước.
|
|
Dibbasotañāṇa (4)
240. So evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe
vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte dibbāya
sotadhātuyā cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti, so dibbāya
sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇāti
dibbe ca mānuse ca ye dūre santike ca.
|
89. Với tâm định tĩnh, thuần
tịnh, không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng,
vững chắc, b́nh thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến
thiên nhĩ thông. Tỷ-kheo với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân có
thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và Người, xa và gần.
|
|
241. Seyyathāpi mahārāja puriso addhānamaggappaṭipanno, so
suṇeyya bherisaddampi mudiṅgasaddampi (Mutiṅgasaddampi
- Sī, I)
saṅkhapaṇavadindimasaddampi (Saṅkhapaṇavadeṇḍimasaddampi
- Sī, I; saṅkhasaddaṃpi paṇavasaddaṃpi dendimasaddaṃpi - Syā,
Kaṃ).
Tassa evamassa “Bherisaddo” itipi, “Mudiṅgasaddo”
itipi, “Saṅkhapaṇavadindimasaddo” itipi (Saṅkhasaddo
itipi paṇavasaddo itipi dendimasaddo itipi - Syā, Kaṃ).
Evameva kho mahārāja bhikkhu evaṃ samāhite citte
parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte
kammaniye ṭhite āneñjappatte dibbāya sotadhātuyā cittaṃ
abhinīharati abhininnāmeti, so dibbāya sotadhātuyā visuddhāya
atikkantamānusikāya ubho sadde suṇāti dibbe ca mānuse ca ye dūre
santike ca. Idampi kho mahārāja sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ
purimehi sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca
paṇītatarañca.
|
90. Này Đại vương, ví như một
người đang đi qua đường, nghe tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ,
tiếng loa, tiếng xập xơa và tiếng kiểng. Người ấy nghĩ: "Đây là
tiếng trống lớn, đây là tiếng trống nhỏ, đây là tiếng loa, tiếng
xập xơa, tiếng kiểng". Cũng vậy, này Đại vương, với tâm định
tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến,
dễ sử dụng, vững chắc, b́nh thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng
tâm đến thiên nhĩ thông. Tỷ-kheo với thiên nhĩ thanh tịnh siêu
nhân, có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và Người, xa và gần.
Này Đại vương, đó là quả thiết
thực hiện tại của hạnh Sa-môn, c̣n vi diệu thù thắng hơn những
quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước. |
|
Cetopariyañāṇa
(5)
242. So evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe
vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte
cetopariyañāṇāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti, so
parasattānaṃ parapuggalānaṃ cetasā ceto paricca pajānāti,
sarāgaṃ vā cittaṃ “Sarāgaṃ cittan”ti pajānāti, vītarāgaṃ vā
cittaṃ “Vītarāgaṃ cittan”ti pajānāti, sadosaṃ vā cittaṃ “Sadosaṃ
cittan”ti pajānāti, vītadosaṃ vā cittaṃ “Vītadosaṃ cittan”ti
pajānāti, samohaṃ vā cittaṃ “Samohaṃ cittan”ti pajānāti,
vītamohaṃ vā cittaṃ “Vītamohaṃ cittan”ti pajānāti, saṃkhittaṃ vā
cittaṃ “Saṃkhittaṃ cittan”ti pajānāti, vikkhittaṃ vā cittaṃ
“Vikkhittaṃ cittan”ti pajānāti, mahaggataṃ vā cittaṃ “Mahaggataṃ
cittan”ti pajānāti, amahaggataṃ vā cittaṃ “Amahaggataṃ cittan”ti
pajānāti, sa-uttaraṃ vā cittaṃ “Sa-uttaraṃ cittan”ti pajānāti,
anuttaraṃ vā cittaṃ “Anuttaraṃ cittan”ti pajānāti, samāhitaṃ vā
cittaṃ “Samāhitaṃ cittan”ti pajānāti, asamāhitaṃ vā cittaṃ
“Asamāhitaṃ cittan”ti pajānāti, vimuttaṃ vā cittaṃ “Vimuttaṃ
cittan”ti pajānāti, avimuttaṃ vā cittaṃ “Avimuttaṃ cittan”ti
pajānāti.
|
91. Với tâm định tĩnh, thuần
tịnh, không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng,
vững chắc, b́nh thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến tha
tâm thông. Tỷ-kheo sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của
loài người với tâm của ḿnh, vị ấy biết được như sau:
Tâm có tham, biết là tâm có
tham. Tâm không có tham, biết là tâm không có tham.
Tâm có sân, biết là tâm có sân. Tâm không có sân, biết là
tâm không có sân.
Tâm có si, biết là tâm có si. Tâm không có si, biết là tâm
không có si.
Tâm chuyên chú, biết là tâm chuyên chú. Tâm tán loạn, biết
là tâm tán loạn.
Đại hành tâm, biết là đại hành tâm. Không phải đại hành tâm,
biết không phải là đại hành tâm.
Tâm chưa vô thượng, biết là tâm chưa vô thượng, Tâm vô
thượng, biết là tâm vô thượng.
Tâm thiền định, biết là tâm thiền định. Tâm không thiền
định, biết là tâm không thiền định.
Tâm giải thoát, biết là tâm giải thoát. Tâm không giải
thoát, biết là tâm không giải thoát.
|
|
243. Seyyathāpi mahārāja itthī vā puriso vā daharo yuvā
maṇḍanajātiko ādāse vā parisuddhe pariyodāte acche vā udakapatte
sakaṃ mukhanimittaṃ paccavekkhamāno sakaṇikaṃ vā “Sakaṇikan”ti
jāneyya, akaṇikaṃ vā “Akaṇikan”ti jāneyya. Evameva kho mahārāja
bhikkhu evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe
vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte
cetopariyañāṇāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti, so
parasattānaṃ parapuggalānaṃ cetasā ceto paricca pajānāti,
sarāgaṃ vā cittaṃ “Sarāgaṃ cittan”ti pajānāti, vītarāgaṃ vā
cittaṃ “Vītarāgaṃ cittan”ti pajānāti, sadosaṃ vā cittaṃ “Sadosaṃ
cittan”ti pajānāti, vītadosaṃ vā cittaṃ “Vītadosaṃ cittan”ti
pajānāti, samohaṃ vā cittaṃ “Samohaṃ cittan”ti pajānāti,
vītamohaṃ vā cittaṃ “Vītamohaṃ cittan”ti pajānāti, saṃkhittaṃ vā
cittaṃ “Saṃkhittaṃ cittan”ti pajānāti, vikkhittaṃ vā cittaṃ
“Vikkhittaṃ cittan”ti pajānāti, mahaggataṃ vā cittaṃ “Mahaggataṃ
cittan”ti pajānāti, amahaggataṃ vā cittaṃ “Amahaggataṃ cittan”ti
pajānāti, sa-uttaraṃ vā cittaṃ “Sa-uttaraṃ cittan”ti pajānāti,
anuttaraṃ vā cittaṃ “Anuttaraṃ cittan”ti pajānāti, samāhitaṃ vā
cittaṃ “Samāhitaṃ cittan”ti pajānāti, asamāhitaṃ vā cittaṃ
“Asamāhitaṃ cittan”ti pajānāti, vimuttaṃ vā cittaṃ “Vimuttaṃ
cittaṃn”ti pajānāti, avimuttaṃ vā cittaṃ “Avimuttaṃ cittan”ti
pajānāti. Idampi kho mahārāja sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ
purimehi sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca
paṇītatarañca.
|
92. Này Đại vương, ví như một
người đàn bà, một người đàn ông, một thiếu niên trẻ hay một
thanh niên ưa trang sức, nh́n mặt của ḿnh trong tấm gương trong
sạch, sáng suốt hay một chậu nước trong. Nếu mặt có tỳ vết, liền
biết mặt có tỳ vết; nếu mặt không có tỳ vết, liền biết mặt không
có tỳ vết. Cũng vậy, này Đại vương, với tâm định tĩnh, không cấu
nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, b́nh
thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến tha tâm thông.
Tỷ-kheo sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của mọi người với
tâm của ḿnh, vị ấy biết được như sau:
Tâm có tham, biết tâm có
tham. Tâm không có tham, biết tâm không có tham.
Tâm có sân biết tâm có sân. Tâm không có sân, biết tâm không
có sân.
Tâm có si, biết tâm có si. Tâm không có si, biết tâm không
có si.
Tâm chuyên chú, biết là tâm chuyên chú. Tâm tán loạn, biết
là tâm tán loạn.
Đại hành tâm, biết là đại hành tâm; không phải là đại hành
tâm, biết không phải là đại hành tâm.
Tâm chưa vô thượng, biết là tâm chưa vô thượng. Tâm vô
thượng, biết là tâm vô thượng.
Tâm thiền định, biết là tâm thiền định. Tâm không thiền
định, biết là tâm không thiền định.
Tâm giải thoát, biết là tâm giải thoát. Tâm không giải thoát
biết là tâm không giải thoát.
|
|
Pubbenivāsānussatiñāṇa (6)
244. So evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe
vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte
pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti, so
anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati, seyyathidaṃ, ekampi jātiṃ
dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo
dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṃsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo
paññāsampi jātiyo jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi
anekepi saṃvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi
saṃvaṭṭavivaṭṭakappe, “Amutrāsiṃ evaṃnāmo evaṃgotto evaṃvaṇṇo
evamāhāro evaṃsukhadukkhappaṭisaṃvedī evamāyupariyanto, so tato
cuto amutra udapādiṃ, tatrāpāsiṃ evaṃnāmo evaṃgotto evaṃvaṇṇo
evamāhāro evaṃsukhadukkhappaṭisaṃvedī evamāyupariyanto, so tato
cuto idhūpapanno”ti, iti sākāraṃ sa-uddesaṃ anekavihitaṃ
pubbenivāsaṃ anussarati.
|
93. Với tâm định tĩnh, thuần
tịnh, không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng,
vững chắc, b́nh thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến túc
mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai
đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi
đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một
ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp,
nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: "Tại chỗ kia ta có tên
như thế này, ḍng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ
lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại
chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như
thế này, ḍng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc
như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ
nọ, ta được sanh ra ở đây". Như vậy Tỷ-kheo nhớ đến nhiều đời
sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.
|
|
245. Seyyathāpi mahārāja puriso sakamhā gāmā aññaṃ gāmaṃ
gaccheyya, tamhāpi gāmā aññaṃ gāmaṃ gaccheyya, so tamhā gāmā
sakaṃyeva gāmaṃ paccāgaccheyya. Tassa evamassa “Ahaṃ kho sakamhā
gāmā amuṃ gāmaṃ agacchiṃ (Agañchiṃ
- Syā, Kaṃ), tatra
evaṃ aṭṭhāsiṃ, evaṃ nisīdiṃ, evaṃ abhāsiṃ, evaṃ tuṇhī ahosiṃ,
tamhāpi gāmā amuṃ gāmaṃ agacchiṃ, tatrāpi evaṃ aṭṭhāsiṃ, evaṃ
nisīdiṃ, evaṃ abhāsiṃ, evaṃ tuṇhī ahosiṃ, somhi tamhā gāmā
sakaṃyeva gāmaṃ paccāgato”ti. Evameva kho mahārāja bhikkhu evaṃ
samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese
mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya
cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti, so anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ
anussarati, seyyathidaṃ, ekampi jātiṃ dvepi jātiyo tissopi
jātiyo catassopi jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsampi
jātiyo tiṃsampi jātiyo cattālīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo
jātisatampi jātisahassampi jātisatasahassampi anekepi
saṃvaṭṭakappe anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṃvaṭṭavivaṭṭakappe,
“Amutrāsiṃ evaṃnāmo evaṃgotto evaṃvaṇṇo evamāhāro
evaṃsukhadukkhappaṭisaṃvedī evamāyupariyanto, so tato cuto
amutra udapādiṃ, tatrāpāsiṃ evaṃnāmo evaṃgotto evaṃvaṇṇo
evamāhāro evaṃsukhadukkhappaṭisaṃvedī evamāyupariyanto, so tato
cuto idhūpapanno”ti, iti sākāraṃ sa-uddesaṃ anekavihitaṃ
pubbenivāsaṃ anussarati. Idampi kho mahārāja sandiṭṭhikaṃ
sāmaññaphalaṃ purimehi sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi
abhikkantatarañca paṇītatarañca.
|
94. Này Đại vương, ví như một
người đi từ làng ḿnh đến làng khác, từ làng ấy đi đến một làng
khác nữa, và từ làng này lại trở về làng của ḿnh. Người ấy
nghĩ: "Ta từ làng của ḿnh đi đến làng kia, nơi đây ta đă đứng
như thế này, đă ngồi như thế này, đă nói như thế này, đă yên
lặng như thế này. Từ nơi làng nọ, ta đă trở về làng của ta". Như
vậy, này Đại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu
nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, b́nh
thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng minh. Vị
ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời,
bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi
đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một
trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại
kiếp và thành kiếp. Vị ấy nhớ: "Tại chỗ kia, ta có tên như thế
này, ḍng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế
này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau
khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra chỗ nọ, tại đây, ta có tên
như thế này, ḍng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống
như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế
này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây". Như vậy,
Tỷ-kheo nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại
cương và các chi tiết.
Này Đại vương, đó là quả thiết
thực hiện tại của hạnh Sa-môn, c̣n vi diệu, thù thắng hơn những
quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước. |
|
Dibbacakkhuñāṇa
(7)
246. So evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe
vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṃ
cutūpapātañāṇāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti, so dibbena
cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne
upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate,
yathākammūpage satte pajānāti “Ime vata bhonto sattā
kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā
manoduccaritena samannāgatā ariyānaṃ upavādakā micchādiṭṭhikā
micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ
duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapannā. Ime vā pana bhonto sattā
kāyasucaritena samannāgatā vacīsucaritena samannāgatā
manosucaritena samannāgatā ariyānaṃ anupavādakā sammādiṭṭhikā
sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ
saggaṃ lokaṃ upapannā”ti, iti dibbena cakkhunā visuddhena
atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne
paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate, yathākammūpage satte
pajānāti.
|
95. Với tâm định tĩnh, thuần
tịnh, không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng,
vững chắc, b́nh thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến trí
huệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhăn thuần tịnh,
siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rơ
rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô
xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng:
"Này các Hiền giả, những Tôn giả này làm những điều ác hạnh về
thân, lời và ư, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các
nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng
chung, phải sanh vào cơi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các
Hiền giả, c̣n những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân,
lời và ư, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các
nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng
chung, được sanh lên các thiện thú, cơi trời, trên đời này. Như
vậy vị ấy với thiên nhăn thuần tịnh siêu nhân thấy sự sống chết
của chúng sanh. Vị ấy biết rơ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ
cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh,
đều do hạnh nghiệp của chúng.
|
|
247. Seyyathāpi mahārāja majjhe siṅghāṭake pāsādo, tattha
cakkhumā puriso ṭhito passeyya manusse gehaṃ pavisantepi
nikkhamantepi rathikāyapi vīthiṃ sañcarante (Rathiyāpi
rathiṃ sañcarante - Sī; rathiyāya vithiṃ sañcarantepi - Syā)
majjhe siṅghāṭake nisinnepi. Tassa evamassa “Ete manussā gehaṃ
pavisanti, ete nikkhamanti, ete rathikāya vīthiṃ sañcaranti, ete
majjhe siṅghāṭake nisinnā”ti. Evameva kho mahārāja bhikkhu evaṃ
samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese
mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṃ cutūpapātañāṇāya
cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti, so dibbena cakkhunā
visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne
upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate,
yathākammūpage satte pajānāti “Ime vata bhonto sattā
kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena samannāgatā
manoduccaritena samannāgatā ariyānaṃ upavādakā micchādiṭṭhikā
micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā apāyaṃ
duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapannā.
|
96. Này Đại vương, ví như một ṭa
lầu có thượng đài, giữa ngă tư đường, một người có mắt đứng trên
ấy, sẽ thấy những người đi vào nhà, đi từ nhà ra, đi qua lại
trên đường, ngồi ở giữa ngă tư hay trên đài thượng. Người ấy
nghĩ: "Những người này đi vào nhà, những người này đi từ nhà ra,
những người này đi qua lại trên đường, những người này ngồi giữa
ngă tư, trên đài thượng". Cũng vậy, này Đại vương với tâm định
tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến,
dễ sử dụng, vững chắc, b́nh thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng
tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhăn
thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị
ấy biết rơ rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp
đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của
chúng: Này các Hiền giả, những chúng sanh này làm những ác hạnh
về thân, lời và ư, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các
nghiệp theo tà kiến, những người này sau khi thân hoại mạng
chung, phải sanh vào cơi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. |
|
Ime vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā
vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā ariyānaṃ
anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa
bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapannā”ti, iti dibbena
cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne
upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate,
yathākammūpage satte pajānāti. Idampi kho mahārāja sandiṭṭhikaṃ
sāmaññaphalaṃ purimehi sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi
abhikkantatarañca paṇītatarañca.
|
Này các Hiền giả, c̣n những
chúng sanh nào làm các thiện hạnh về thân, lời và ư, không phỉ
báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh
kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh
lên các thiện thú, cơi trời, trên đời này. Như vậy, với thiên
nhăn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh, vị
ấy biết rơ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp
đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của
chúng. Này Đại vương, đó là quả thiết thực, hiện tại của hạnh
Sa-môn, c̣n vi diệu thù thắng hơn những quả thiết thực hiện tại
của hạnh Sa-môn trước.
|
|
Āsavakkhayañāṇa
(8)
248. So evaṃ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe
vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṃ
khayañāṇāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti, so idaṃ dukkhanti
yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ dukkhasamudayoti yathābhūtaṃ
pajānāti, ayaṃ dukkhanirodhoti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ
dukkhanirodhagāminī paṭipadāti yathābhūtaṃ pajānāti. Ime āsavāti
yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ āsavasamudayoti yathābhūtaṃ pajānāti,
ayaṃ āsavanirodhoti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ
āsavanirodhagāminī paṭipadāti yathābhūtaṃ pajānāti. Tassa evaṃ
jānato evaṃ passato kāmāsavāpi cittaṃ vimuccati, bhavāsavāpi
cittaṃ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṃ vimuccati, vimuttasmiṃ
vimuttamiti ñāṇaṃ hoti, “Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ,
kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā”ti pajānāti.
|
97. "Với tâm định tĩnh, thuần
tịnh, không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng,
vững chắc, b́nh thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến lậu
tận trí. Vị ấy biết như thật "đây là khổ", biết như thật "đây là
nguyên nhân của khổ", biết như thật "đây là khổ diệt", biết như
thật "đây là con đường đưa đến khổ diệt", biết như thật "đây là
những lậu hoặc", biết như thật "đây là nguyên nhân của lậu
hoặc", biết như thật "đây là sự diệt trừ các lậu hoặc", biết như
thật "đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc". Nhờ
hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi
dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự
thân đă giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: Ta đă giải
thoát. Vị ấy biết: Sanh đă tận, phạm hạnh đă thành, việc cần làm
đă làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa.
|
|
249. Seyyathāpi mahārāja pabbatasaṅkhepe udakarahado accho
vippasanno anāvilo, tattha cakkhumā puriso tīre ṭhito passeyya
sippikasambukampi sakkharakathalampi macchagumbampi carantampi
tiṭṭhantampi. Tassa evamassa “Ayaṃ kho udakarahado accho
vippasanno anāvilo, tatrime sippikasambukāpi sakkharakathalāpi
macchagumbāpi carantipi tiṭṭhantipī”ti. Evameva kho mahārāja
bhikkhu evaṃ samehite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe
vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṃ
khayañāṇāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmeti, so idaṃ dukkhanti
yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ dukkhasamudayoti yathābhūtaṃ
pajānāti, ayaṃ dukkhanirodhoti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ
dukkhanirodhagāminī paṭipadāti yathābhūtaṃ pajānāti. Ime āsavāti
yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ āsavasamudayoti yathābhūtaṃ pajānāti,
ayaṃ āsavanirodhoti yathābhūtaṃ pajānāti, ayaṃ
āsavanirodhagāminī paṭipadāti yathābhūtaṃ pajānāti. Tassa evaṃ
jānato evaṃ passato kāmāsavāpi cittaṃ vimuccati, bhavāsavāpi
cittaṃ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṃ vimuccati, vimuttasmiṃ
vimuttamiti ñāṇaṃ hoti, “Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ,
kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā”ti pajānāti.
Idaṃ kho mahārāja sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ purimehi
sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Imasmā ca pana mahārāja sandiṭṭhikā sāmaññaphalā aññaṃ
sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ uttaritaraṃ vā paṇītataraṃ vā
natthī"ti.
|
98. Này Đại vương, ví như tại dăy
núi lớn có một hồ nước, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm.
Một người có mắt, đứng trên bờ sẽ thấy con hến, con ṣ, những
ḥn đá, ḥn sạn, những đàn cá bơi qua lại hay đứng một chỗ. Vị
ấy nghĩ: "Đây là hồ nước thuần tịnh, trong sáng, không cấu
nhiễm. Đây là những con hến, con ṣ, những ḥn đá, ḥn sạn,
những đàn cá đang bơi qua lại hay đứng yên một chỗ". Cũng vậy,
này Đại vương, với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm,
không phiền năo, nhu nhuyến dễ sử dụng, vững chắc, b́nh thản như
vậy. Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như
thật: "Đây là khổ", biết như thật "đây là nguyên nhân của khổ",
biết như thật "đây là khổ diệt", biết như thật "đây là con đường
đưa đến khổ diệt", biết như thật "đây là những lậu hoặc", biết
như thật "đây là nguyên nhân của lậu hoặc", biết như thật "đây
là sự diệt trừ các lậu hoặc", biết như thật "đây là con đường
đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc". Nhờ hiểu biết như vậy, nhờ
nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi
hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đă giải thoát,
vị ấy biết: Sanh đă tận, phạm hạnh đă thành, những việc cần làm
đă làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa.
Này Đại vương, đó là quả thiết
thực hiện tại của hạnh Sa-môn, c̣n vi diệu thù thắng hơn những
quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn trước. Này Đại vương,
không có một quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn nào vi diệu
và thù thắng hơn quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn này.
|
|
Ajātasattuupāsakattapaṭivedanā
250. Evaṃ vutte rājā Māgadho Ajātasattu Vedehiputto Bhagavantaṃ
etadavoca “Abhikkantaṃ bhante abhikkantaṃ bhante, seyyathāpi
bhante nikkujjitaṃ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā vivareyya,
mūḷhassa vā maggaṃ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṃ
dhāreyya ‘Cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti, evamevaṃ bhante
Bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṃ bhante
Bhagavantaṃ saraṇaṃ gacchāmi Dhammañca Bhikkhusaṃghañca,
upāsakaṃ maṃ Bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gataṃ,
accayo maṃ bhante accagamā yathābālaṃ yathāmūḷhaṃ
yathā-akusalaṃ, yohaṃ pitaraṃ dhammikaṃ dhammarājānaṃ
issariyakāraṇā jīvitā voropesiṃ, tassa me bhante Bhagavā accayaṃ
accayato paṭiggaṇhātu āyatiṃ saṃvarāyā”ti.
|
99. Được nghe nói vậy,
Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha bạch Thế Tôn: "Thật
là vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu thay, bạch Thế
Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những ǵ bị che kín,
chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối
để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đă được
Thế Tôn dùng nhiều phương tiện tŕnh bày, giải thích. Và nay con
xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế
Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chúng, con
trọn đời quy ngưỡng. Bạch Thế Tôn, con đă phạm một trọng tội. V́
ngu si, v́ vô minh, v́ bất thiện, con đă hại mạng phụ vương con,
một vị vua chơn chánh, để đạt vương quyền. Mong Thế Tôn nhận cho
con tội ấy là một tội để con ngăn chận về tương lai".
|
|
251. Taggha tvaṃ mahārāja accayo accagamā yathābālaṃ yathāmūḷhaṃ
yathā-akusalaṃ, yaṃ tvaṃ pitaraṃ dhammikaṃ dhammarājānaṃ jīvitā
voropesi, yato ca kho tvaṃ mahārāja accayaṃ accayato disvā
yathādhammaṃ paṭikarosi, taṃ te mayaṃ paṭiggaṇhāma, vuddhihesā
mahārāja ariyassa vinaye, yo accayaṃ accayato disvā yathādhammaṃ
paṭikaroti, āyatiṃ saṃvaraṃ āpajjatīti.
|
100. - Đại vương, thật là một
trọng tội. V́ ngu si, v́ vô minh, v́ bất thiện, Đại vương đă hại
mạng phụ vương, một vị vua chơn chánh, để đoạt vương quyền. V́
Đại vương đă thấy tội ấy là một tội, đă thú tội đúng với Chánh
pháp, Ta nhận tội ấy cho Đại vương. Đó là một sự tiến bộ, này
Đại vương, trong luật pháp của bậc Thánh, những ai thấy tội là
tội, thú tội đúng với Chánh pháp, và ngăn chận ở tương lai.
|
|
252. Evaṃ vutte rājā Māgadho Ajātasattu Vedehiputto Bhagavantaṃ
etadavoca “Handa ca dāni mayaṃ bhante gacchāma bahukiccā mayaṃ
bahukaraṇīyā”ti.
Yassadāni tvaṃ mahārāja kālaṃ maññasīti.
Atha kho rājā Māgadho Ajātasattu Vedehiputto Bhagavato bhāsitaṃ
abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā Bhagavantaṃ abhivādetvā
padakkhiṇaṃ katvā pakkāmi.
|
101. Được nghe nói vậy,
Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha bạch Thế Tôn: "Bạch
Thế Tôn, nay chúng con phải cáo từ, chúng con có nhiều bổn phận,
nhiều việc phải làm".
- Đại vương hăy làm những ǵ Đại
vương nghĩ ra là phải thời.
Lúc bấy giờ, Ajàtasattu, con bà
Videhi, vua nước Magadha hoan hỷ tán thán lời dạy của Thế Tôn,
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về
Thế Tôn và từ biệt.
|
|
253. Atha kho Bhagavā acirapakkantassa rañño Māgadhassa
Ajātasattussa Vedehiputtassa bhikkhū āmantesi
“Khatāyaṃ bhikkhave rājā, upahatāyaṃ bhikkhave rājā, sacāyaṃ
bhikkhave rājā pitaraṃ dhammikaṃ dhammarājānaṃ jīvitā na
voropessatha, imasmiṃyeva āsane virajaṃ vītamalaṃ dhammacakkhuṃ
uppajjissathā”ti.
Idamavoca Bhagavā. Attamanā te bhikkhū Bhagavato bhāsitaṃ
abhinandunti.
|
102. Lúc bấy giờ, khi Ajàtasattu,
con bà Videhi, vua nước Magadha đi chưa bao lâu, Thế Tôn liền
bảo các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, tâm vua ấy rất
ăn năn, này các Tỷ-kheo, tâm vua ấy rất hối lỗi. Nếu vua ấy
không hại mạng vua cha, một vị vua rất chân chánh, th́ tại ngay
chỗ ngồi này, vua ấy đă chứng được pháp nhăn, không trần cấu,
không ô uế.
Thế Tôn thuyết pháp như vậy. Các
Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
|
|
Sāmaññaphalasuttaṃ niṭṭhitaṃ
dutiyaṃ.
|
|
|
<Trang Trước> |
<Bài Kinh Kế> |
|