|
02.
SĀMAÑÑAPHALASUTTAṂ
|
|
02.
SĀMAÑÑAPHALASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ |
02. KINH SA MÔN QUẢ - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07 |
|
Rājāmaccakathā
150. Evaṃ me sutaṃ, ekaṃ samayaṃ
Bhagavā Rājagahe viharati Jīvakassa Komārabhaccassa ambavane
mahatā bhikkhusaṃghena saddhiṃ aḍḍhateḷasehi bhikkhusatehi. Tena
kho pana samayena rājā Māgado Ajātasattu Vedehiputto
tadahuposathe pannarase komudiyā cātumāsiniyā puṇṇāya puṇṇamāya
rattiyā rājāmaccaparivuto uparipāsādavaragato nisinno hoti. Atha
kho rājā Māgadho Ajātasattu Vedehiputto tadahuposathe udānaṃ
udānesi:
|
1. Như vậy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá) nơi vườn xoài của
J́vaka (Kỳ-bà) Komàrabhacca, cùng với đại chúng Tỷ-kheo một
ngh́n hai trăm năm mươi vị. Lúc bấy giờ Ajàtasattu (A-xà-thế)
con bà Vihehi (Vi-đề-hi) vua xứ Magadha (Ma-kiệt-đà) nhân lễ Bố
Tát vào ngày rằm tháng tư Komudi (cây súng) đang ngồi trên lầu
cao trang nghiêm, chung quanh có nhiều đại thần hầu hạ. Lúc bấy
giờ Ajàtasattu con bà Videhi, vua xứ Magadha, nhân ngày Bố Tát
cảm hứng nói rằng: |
|
“Ramaṇīyā vata bho dosinā ratti,
abhirūpā vata bho dosinā ratti, dassanīyā vata bho dosinā ratti,
pāsādikā vata bho dosinā ratti, lakkhaññā vata bho dosinā ratti,
kaṃ nu khvajja samaṇaṃ vā brāhmaṇaṃ vā payirupāseyyāma, yaṃ no
payirupāsato cittaṃ pasīdeyyā”ti.
|
"Thật khả ái thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật diễm
lệ thay, này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật mỹ miều thay,
này các khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật êm dịu thay, này các
khanh, đêm rằm sáng trăng! Thật điềm lành thay, này các khanh,
đêm rằm sáng trăng! Nay chúng ta nên đến chiêm bái vị Sa-môn hay
Bà-la-môn nào, nhờ sự chiêm bái này tâm chúng ta được tịnh tín?"
|
|
151. Evaṃ vutte aññataro
rājāmacco rājānaṃ Māgadhaṃ Ajātasattuṃ Vedehiputtaṃ etadavoca
“Ayaṃ deva Pūraṇo Kassapo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto
yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa rattaññū
cirapabbajito addhagato vayo-anuppatto, taṃ devo Pūraṇaṃ
Kassapaṃ payirupāsatu, appeva nāma devassa Pūraṇaṃ Kassapaṃ
payirupāsato cittaṃ pasīdeyyā”ti. Evaṃ vutte rājā Māgadho
Ajātasattu Vedehiputto tuṇhī ahosi.
|
Khi nghe nói vậy, một đại thần tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi
vua nước Magadha: "Tâu Đại vương, có Pùrana Kassapa (Phú-la Ca-diếp)
là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng
tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng,
dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đă lâu năm, đă đến tuổi
trưởng thượng. Mong Đại vương đến chiêm bái Pùrana Kassapa này.
Chiêm bái Pùrana Kassapa có thể khiến tâm Đại vương được tịnh
tín". Khi nghe nói vậy Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước
Magadha yên lặng không nói ǵ.
|
|
152. Aññataropi kho rājāmacco
rājānaṃ Māgadhaṃ Ajātasattuṃ Vedehiputtaṃ etadavoca “Ayaṃ deva
Makkhali Gosālo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī
titthakaro sādhusammato bahujanassa rattaññū cirapabbajito
addhagato vayo-anuppatto, taṃ devo Makkhaliṃ Gosālaṃ
payirupāsatu, appeva nāma devassa Makkhaliṃ Gosālaṃ payirupāsato
cittaṃ pasīdeyyā”ti. Evaṃ vutte rājā Māgadho Ajātasattu
Vedehiputto tuṇhī ahosi.
|
3. Lại
một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước
Magadha: "Tâu Đại vương, có Makkhali Gosàla (Mặc-già-lê
Cù-xá-lợi) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội,
có tiếng tốt, có danh vọng khai tổ giáo phái, được quần chúng
tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đă lâu năm, đă
đến tuổi trưởng thượng. Mong Đại vương chiêm bái Makkhali Gosàla
này. Chiêm bái vị Makkhali Gosàla có thể khiến tâm Đại vương
được tịnh tín". Khi nghe nói vậy. Ajàtasattu, con bà Videhi vua
nước Magadha yên lặng không nói ǵ.
|
|
153. Aññataropi kho rājāmacco
rājānaṃ Māgadhaṃ Ajātasattuṃ Vedehiputtaṃ etadavoca “Ayaṃ deva
Ajito Kesakambalo saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī
titthakaro sādhusammato bahujanassa rattaññū cirapabbajito
addhagato vayo-anuppatto, taṃ devo Ajitaṃ Kesakambalaṃ
payirupāsatu, appeva nāma devassa Ajitaṃ Kesakambalaṃ
payirupāsatu, appeva nāma devassa Ajitaṃ Kesakambalaṃ
payirupāsato cittaṃ pasīdeyyā”ti. Evaṃ vutte rājā Māgadho
Ajātasattu Vedehiputto tuṇhī ahosi. |
4. Lại
một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước
Magadha: "Tâu Đại vương, có Ajita Kesakambàli (A-kỳ-đa
Kỳ-xá-khâm-bà-la) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng
giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được
quần chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đă
lâu năm, đă đến tuổi trưởng thượng. Mong Đại vương đến chiêm bái
Ajita Kesakambàli này. Chiêm bái Ajita Kesakambàli có thể khiến
tâm Đại vương được tịnh tín". Khi nghe nói vậy, Ajàtasattu, con
bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói ǵ.
|
|
154. Aññataropi kho rājāmacco
rājānaṃ Māgadhaṃ Ajātasattuṃ Vedehiputtaṃ etadavoca “Ayaṃ deva
Pakudho (Pakuddho - Sī) Kaccāyano saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo
ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa rattaññū
cirapabbajito addhagato vayo-anuppatto, taṃ devo Pakudhaṃ
Kaccāyanaṃ payirupāsatu, appeva nāma devassa Pakudhaṃ Kaccāyanaṃ
payirupāsato cittaṃ pasīdeyyā”ti. Evaṃ vutte rājā Māgadho
Ajātasattu Vedehiputto tuṇhī ahosi.
|
5. Lại
một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi vua nước
Magadha: "Tâu Đại vương, có Pakudha Kaccayana (Bà-phù-đà Ca-chiên-nê)
là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng
tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng,
dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đă lâu năm, đă đến tuổi
trưởng thượng. Mong Đại vương đến chiêm bái Pakudha Kaccàyana
này. Chiêm bái Pakudha Kaccayana này có thể khiến tâm Đại vương
được tịnh tín". Khi nghe nói vậy. Ajàtasattu, con bà Videhi, vua
nước Magadha yên lặng không nói ǵ.
|
|
155. Aññataropi kho rājāmacco
rājānaṃ Māgadhaṃ Ajātasattuṃ Vedehiputtaṃ etadavoca “Ayaṃ deva
Sañcayo (Sañjayo - Sī, Syā) Belaṭṭhaputto (Bellaṭṭhiputto - Sī;
velaṭṭhaputto - Syā) saṅghī ceva gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto
yasassī titthakaro sādhusammato bahujanassa rattaññū
cirapabbajito addhagato vayo-anuppatto, taṃ devo Sañcayaṃ
Belaṭṭhaputtaṃ payirupāsatu, appeva nāma devassa Sañcayaṃ
Belaṭṭhaputtaṃ payirupāsato cittaṃ pasīdeyyā”ti. Evaṃ vutte rājā
Māgadho Ajātasattu Vedehiputto tuṇhī ahosi. |
6. Lại
một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước
Magadha: "Tâu Đại vương, có Sanjaya Belathiputta (Tán-nhă-di
Tỳ-la-phê-phất) là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo
hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần
chúng tôn sùng, dồi dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đă lâu
năm, đă đến tuổi trưởng thượng. Mong Đại vương đến chiêm bái
Sanjaya Belathiputta này. Chiêm bái Sanjaya Belathiputta này có
thể khiến tâm Đại vương tịnh tín". Khi nghe nói vậy, Ajàtasattu,
con bà Videhi, vua nước Magadha yên lặng không nói ǵ.
|
|
156. Aññataropi kho rājāmacco
rājānaṃ Māgadhaṃ Ajātasattuṃ Vedehiputtaṃ etadavoca “Ayaṃ deva
Nigaṇṭho Nāṭaputto (Nāthaputto - Sī; nātaputto - I) saṅghī ceva
gaṇī ca gaṇācariyo ca ñāto yasassī titthakaro sādhusammato
bahujanassa rattaññū cirapabbajito addhagato vayo-anuppatto, taṃ
devo Nigaṇṭhaṃ Nāṭaputtaṃ payirupāsatu, appeva nāma devassa
Nigaṇṭhaṃ Nāṭaputtaṃ payirupāsato cittaṃ pasīdeyyā”ti. Evaṃ
vutte rājā Māgadho Ajātasattu Vedehiputto tuṇhī ahosi. |
7. Lại
một đại thần khác tâu với Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước
Magadha: "Tâu Đại vương, có Nigantha Nàtaputta (Ni-kiền-tử) là
vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt,
có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, dồi
dào kinh nghiệm lâu ngày, xuất gia đă lâu năm, đă đến tuổi
trưởng thượng. Mong Đại vương đến chiêm bái Nigantha Nàtaputta
này. Chiêm bái Nigantha Nàtaputta có thể khiến tâm Đại vương
được tịnh tín". Khi nghe nói vậy, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua
nước Magadha yên lặng không nói ǵ.
|
Komārabhaccajīvakakathā
157. Tena kho pana samayena Jīvako
Komārabhacco rañño Māgadhassa Ajātasattussa
Vedehiputtassa avidūre tuṇhībhūto nisinno hoti. Atha kho
rājā Māgadho Ajātasattu Vedehiputto Jīvakaṃ
Komārabhaccaṃ etadavoca “Tvaṃ pana samma Jīvaka kiṃ
tuṇhī”ti.
|
8. Lúc
bấy giờ J́vaka Komàrabhacca ngồi yên lặng cách Ajàtasattu, con
bà Videhi, vua nước Magadha không xa bao nhiêu. Khi ấy
Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, nói với J́vaka
Komàrabhacca:
- Này
khanh J́vaka, sao ngươi lại yên lặng như vậy?
|
|
Ayaṃ deva Bhagavā Arahaṃ
Sammāsambuddho amhākaṃ ambavane viharati mahatā bhikkhusaṃghena
saddhiṃ aḍḍhateḷasehi bhikkhusatehi, taṃ kho pana Bhagavantaṃ
(Bhagavantaṃ gotamaṃ - Sī, Ka, I) evaṃ kalyāṇo kittisaddo
abbhuggato “Itipi so Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho
Vijjācaraṇasampanno Sugato Lokavidū Anuttaro purisadammasārathi
Satthā devamanussānaṃ Buddho Bhagavā”ti. Taṃ devo Bhagavantaṃ
payirupāsatu, appeva nāma devassa Bhagavantaṃ payirupāsato
cittaṃ pasīdeyyāti.
158. Tena hi samma jīvaka hatthiyānāni kappāpehīti.
|
- Tâu
Đại vương, chính tại vườn xoài này của chúng con, có Thế Tôn,
bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, hiện đang trú ngụ với đại
chúng Tỷ-kheo một ngh́n hai trăm năm mươi vị. Thế Tôn Gotama có
tiếng đồn tốt đẹp sau đây lan rộng: "Đây là Thế Tôn, bậc
A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư,
Phật, Thế Tôn". Đại vương hăy đến chiêm bái Thế Tôn này. Rất có
thể, nhờ chiêm bái Thế Tôn, tâm của Đại vương được tịnh tín.
- Vậy
khanh J́vaka, hăy cho thắng kiệu voi.
|
|
“Evaṃ devā”ti kho Jīvako
Komārabhacco rañño Māgadhassa Ajātasattussa Vedehiputtassa
paṭissuṇitvā pañcamattāni hatthinikāsatāni kappāpetvā rañño ca
ārohaṇīyaṃ nāgaṃ, rañño Māgadhassa Ajātasattussa Vedehiputtassa
paṭivedesi “Kappitāni kho te deva hatthiyānāni, yassadāni kālaṃ
maññasī”ti.
|
- Vâng,
tâu Đại vương.
9.
J́vaka Komàrabhacca vâng theo lời dạy của Ajàtasattu, con bà
Videhi, vua nước Magadha, sai người thắng năm trăm con voi cái,
và con vương tượng vua thường cởi, rồi tâu với Ajàtasattu, con
bà Videhi, vua nước Magadha: "Tâu Đại vương, các kiệu voi đă sẵn
sàng. Ngài hăy làm những ǵ Ngài xem là phải thời".
|
|
159. Atha kho
rājā Māgadho Ajātasattu Vedehiputto pañcasu hatthinikāsatesu
paccekā itthiyo āropetvā ārohaṇīyaṃ nāgaṃ abhiruhitvā ukkāsu
dhāriyamānāsu Rājagahamhā niyyāsi mahaccarājānubhāvena, yena
Jīvakassa Komārabhaccassa ambavanaṃ tena pāyāsi. |
Khi bấy giờ
Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha biểu các cung phi
leo lên năm trăm con voi cái mỗi người một con, c̣n ḿnh th́ leo
lên vương tượng vua thường cởi, xuất hành ra khỏi Ràjagaha, dưới
ánh sáng của các ngọn đuốc được cầm cao, với oai nghi của bậc
đại vương, thẳng tiến đến vườn xoài của J́vaka Komàrabhacca.
|
|
Atha kho
rañño Māgadhassa Ajātasattussa Vedehiputtassa avidūre
ambavanassa ahudeva bhayaṃ, ahu chambhitattaṃ, ahu lomahaṃso.
Atha kho rājā Māgadho Ajātasattu Vedehiputto bhīto saṃviggo
lomahaṭṭajāto Jīvakaṃ Komārabhaccaṃ etadavoca “Kacci maṃ samma
Jīvaka na vañcesi, kacci maṃ samma Jīvaka na palambhesi, kacci
maṃ samma Jīvaka na paccatthikānaṃ desi. Kathaṃ hi nāma tāva
mahato bhikkhusaṃghassa aḍḍhateḷasānaṃ bhikkhusatānaṃ neva
khipitasaddo bhavissati, na ukkāsitasaddo, na nigghoso”ti. |
10. Khi Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi đến không xa
vườn xoài, ngài bỗng sợ hăi, kinh hoàng, tóc dựng lên. Lúc bấy
giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha sợ hăi, kinh
hoàng, tóc dựng lên, nói với J́vaka Komàrabhacca:
- Này
khanh J́vaka, người phản ta chăng? Này khanh J́vaka, người lường
gạt ta chăng? Này khanh J́vaka, ngươi nạp ta cho kẻ thù chăng?
Tại sao trong một đại chúng lớn như thế này gần một ngh́n hai
trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng hắng, không có một
tiếng ho, không một tiếng ồn?
|
Mā bhāyi
mahārāja, mā bhāyi mahārāja, na taṃ deva vañcemi, na taṃ
deva palambhāmi, na taṃ deva paccatthikānaṃ demi, abhikkama
mahārāja, abhikkama mahārāja, ete maṇḍalamāḷe dīpā (Padīpā
- Sī, Syā)
jhāyantīti.
|
- Tâu
Đại vương, thần không phản lại Ngài, thần không lường gạt Ngài,
tâu Đại vương, thần không nạp Ngài cho kẻ thù, tâu Đại Vương,
hăy đi thẳng tới; tâu Đại vương hăy đi thẳng tới. Tại chỗ kia
trong căn nhà tṛn chỗ có những ngọn đèn đang thắp sáng.
|
|
Sāmaññaphalapucchā
160. Atha kho
rājā Māgadho Ajātasattu Vedehiputto yāvatikā nāgassa bhūmi
nāgena gantvā nāgā paccorohitvā pattikova (Padikova
- Syā)
yena maṇḍalamālassa dvāraṃ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā Jīvakaṃ
Komārabhaccaṃ etadavoca “Kahaṃ pana samma Jīvaka Bhagavā”ti. Eso
mahārāja Bhagavā, eso mahārāja Bhagavā majjhimaṃ thambhaṃ
nissāya puratthābhimukho nisinno purakkhato bhikkhusaṃghassāti.
|
11.
Lúc bấy giờ, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi cho
đến chỗ voi có thể đi được, rồi xuống voi đi đến cửa căn nhà
tṛn. Khi đến nơi liền nói với J́vaka Komàrabhacca:
- Này
khanh J́vaka, Thế Tôn ở tại đâu?
- Tâu
Đại vương, vị ấy là Thế Tôn. Tâu Đại vương, Thế Tôn ngồi dựa vào
cột chính giữa, mặt hướng phía Nam, ngồi trước mặt chúng Tỷ-kheo.
|
|
161. Atha kho
rājā Māgadho Ajātasattu Vedehiputto yena Bhagavā tenupasaṅkami,
upasaṅkamitvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Ekamantaṃ ṭhito kho rājā
Māgadho Ajātasattu Vedehiputto tuṇhībhūtaṃ bhikkhusaṃghaṃ
anuviloketvā rahadamiva vippasannaṃ udānaṃ udānesi “Iminā me
upasamena Udayabhaddo (Udāyibhaddo
- Sī, I)
kumāro samannāgato hotu, yenetarahi upasamena bhikkhusaṃgho
samannāgato”ti. Agamā kho tvaṃ mahārāja yathāpemanti. |
12.
Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha liền tiến đến chỗ
Thế Tôn. Khi đến rồi, vua đứng một bên. Sau đi đứng một bên,
Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha nh́n khắp chúng
Tỷ-kheo đang yên lặng an tịnh như một hồ nước trong, cảm hứng
nói rằng: "Mong hoàng tử Udàyibhadda (Ưu-đà-di-bạt-đà) cũng được
sự trầm lặng như sự trầm lặng của các vị Tỷ-kheo này vậy".
- Đại
vương, h́nh như tâm trí của Đại vương nặng nhiều về t́nh thương
th́ phải?
|
|
Piyo me bhante Udayabhaddo kumāro, iminā me bhante upasamena
udayabhaddo kumāro samannāgato hotu, yenetarahi upasamena
bhikkhusaṃgho samannāgatoti.
|
- Bạch
Thế Tôn, con thương hoàng tử Udàyibhadda rất nhiều. Mong rằng
hoàng tử Udàyibhadda cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của
chúng Tỷ-kheo này vậy. |
|
162. Atha kho
rājā Māgadho Ajātasattu Vedehiputto Bhagavantaṃ abhivādetvā
bhikkhusaṃghassa añjaliṃ paṇāmetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ
nisinno kho rājā Māgadho Ajātasattu Vedehiputto Bhagavantaṃ
etadavoca “Puccheyyāmahaṃ bhante Bhagavantaṃ kañcideva desaṃ (Kiñcideva
desaṃ lesamattaṃ - Syā, Kaṃ, Ka)
sace me Bhagavā okāsaṃ karoti pañhassa veyyākaraṇāyā”ti. Puccha
mahārāja, yadākaṅkhasīti. |
13.
Lúc bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, đảnh lễ
Thế Tôn, chấp tay vái chào chúng Tỷ-kheo, và ngồi xuống một bên.
Sau khi ngồi xuống một bên, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước
Magadha bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, con muốn hỏi Thế Tôn một vấn đề này, nếu Ngài cho phép
con hỏi.
- Đại
vương cứ hỏi tùy theo ư muốn của Đại vương.
|
|
163. Yathā nu
kho imāni bhante puthusippāyatanāni, seyyathidaṃ, hatthārohā
assārohā rathikā dhanuggahā celakā calakā piṇḍadāyakā uggā
rājaputtā pakkhandino mahānāgā sūrā cammayodhino dāsikaputtā
āḷārikā kappakā nhāpakā (Nahāpikā
- Sī; nhāpikā - Syā)
sūdā mālakārā rajakā pesakārā naḷakārā kumbhakārā gaṇakā
muddikā, yāni vā panaññānipi evaṃgatāni puthusippāyatanāni, te
diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṃ sippaphalaṃ upajīvanti, te tena
attānaṃ sukhenti pīṇenti (Pīnenti
- Katthaci),
mātāpitaro sukhenti pīṇenti, puttadāraṃ sukhenti pīṇenti,
mittāmacce sukhenti pīṇenti, samaṇabrāhmaṇesu (Samaṇesu
brāhmaṇesu - Ka)
uddhaggikaṃ dakkhiṇaṃ patiṭṭhapenti sovaggikaṃ sukhavipākaṃ
saggasaṃvattanikaṃ. Sakkā nu kho bhante evameva diṭṭheva dhamme
sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ paññapetunti.
|
14. -
Cũng như các công nghệ chức nghiệp này, như điều tượng sư, điều
mă sư, xa thuật sư, quân thuật sư, quân kỳ binh, nguyên súy,
chiến sĩ, thượng sĩ quan, thám tử, dơng sĩ can đảm như voi chúa,
anh hùng, trang giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ
hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm bánh, nhà làm ṿng hoa, thợ
giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn
bản và các công nghệ chức nghiệp khác, chúng hưởng được kết quả
thiết thực hiện tại từ công nghiệp chức nghiệp của chúng. Chúng
giúp cho tự thân được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho vợ
con được sống an lạc hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống
an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho bạn bè được sống an lạc hạnh
phúc. Chúng dâng các vật cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn, sự
cúng dường này có ảnh hưởng đến đời sau, liên hệ đến thiên giới,
thọ hưởng phước báo an lạc, thác sanh lên cơi trời. Bạch Thế
Tôn, Ngài có thể chỉ cho rơ ràng kết quả thiết thực, hiện tại
của hạnh Sa-môn chăng?
|
|
164.
Abhijānāti no tvaṃ mahārāja imaṃ pañhaṃ aññe samaṇabrāhmaṇe
pucchitāti.
Abhijānāmahaṃ
bhante imaṃ pañhaṃ aññe samaṇabrāhmaṇe pucchitāti.
Yathā kathaṃ
pana te mahārāja byākariṃsu, sace te agaru, bhāsassūti.
Na kho me
bhante garu, yatthassa Bhagavā nisinno Bhagavantarūpo vāti (Cāti
- Sī, Ka).
Tena hi
mahārāja bhāsassūti. |
15. -
Này Đại vương, Đại vương có nhớ đă hỏi câu hỏi ấy với các vị
Sa-môn, Bà-la-môn khác chăng?
- Bạch
Ngài, con nhớ đă hỏi câu hỏi ấy với Sa-môn, Bà-la-môn khác.
- Này
Đại vương, hăy nói lại cho nghe, các vị ấy đă trả lời với Đại
vương như thế nào, nếu Đại vương không thấy ǵ trở ngại.
- Bạch
Thế Tôn, con không thấy ǵ trở ngại đối với đức Thế Tôn và các
bậc như đức Thế Tôn.
- Vậy
Đại vương hăy nói đi.
|
|
Pūraṇakassapavāda
165.
Ekamidāhaṃ bhante samayaṃ yena Pūraṇo Kassapo tenupasaṅkamiṃ,
upasaṅkamitvā Pūraṇena Kassapena saddhiṃ sammodiṃ, sammodanīyaṃ
kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdiṃ. Ekamantaṃ
nisinno kho ahaṃ bhante Pūraṇaṃ Kassapaṃ etadavocaṃ “Yathā nu
kho imāni bho Kassapa puthusippāyatanāni, seyyathidaṃ hatthārohā
assārohā rathikā dhanuggahā celakā calakā piṇḍadāyakā uggā
rājaputtā pakkhandino mahānāgā sūrā cammayodhino dāsikaputtā
āḷārikā kappakā nhāpakā sūdā mālakārā rajakā pesakārā naḷakārā
kumbhakārā gaṇakā muddikā, yāni vā panaññānipi evaṃgatāni
puthusippāyatanāni, te diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṃ sippaphalaṃ
upajīvanti, te tena attānaṃ sukhenti pīṇenti, mātāpitaro
sukhenti pīṇenti, puttadāraṃ sukhenti pīṇenti, mittāmacce
sukhenti pīṇenti, samaṇabrāhmaṇesu uddhaggikaṃ dakkhiṇaṃ
patiṭṭhapenti sovaggikaṃ sukhavipākaṃ saggasaṃvattanikaṃ. Sakkā
nu kho bho Kassapa evameva diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṃ
sāmaññaphalaṃ paññapetun”ti.
|
16. -
Bạch Thế Tôn, một thời con đến Pùrana Kassapa, khi đến nơi, con
nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xă giao với
Pùrana Kassapa và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên,
con nói với Pùrana Kassapa: "Ngài Kassapa, cũng như các công
nghệ, chức nghiệp này, như điều tượng sư, điều mă sư, xa thuật
sư, cung thuật sư, quân kỳ binh, nguyên súy, chiến sĩ, thượng sĩ
quan, thám tử, dơng sĩ can đảm như voi chúa, anh hùng, trang
giáp binh, nô lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu
tắm, thợ làm bánh, nhà làm ṿng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm
thúng rổ, thợ đồ gốm, nhà toán số, nhà ấn bản và các công nghệ
chức nghiệp khác, chúng hưởng được kết quả thiết thực, hiện tại
công nghệ chức nghiệp của chúng. Chúng giúp cho tự thân được
sống an lạc, hạnh phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc,
hạnh phúc. Chúng giúp cho vợ con được sống an lạc, hạnh phúc.
Chúng giúp cho bạn bè được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng dâng
các vật cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn, sự cúng dường này có
ảnh hưởng đến đời sau, liên hệ đến thiên giới, thọ hưởng phước
báo an lạc, thác sanh lên cơi trời. Bạch Ngài, Ngài có thể cho
biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?"
|
|
166. Evaṃ
vutte bhante Pūraṇo Kassapo maṃ etadavoca “Karoto kho mahārāja
kārayato, chindato chedāpayato, pacato pācāpayato, socayato
socāpayato, kilamato kilamāpayato, phandato phandāpayato,
pāṇamatipātāpayato, adinnaṃ ādiyato, sandhiṃ chindato, nillopaṃ
harato, ekāgārikaṃ karoto, paripanthe tiṭṭhato, paradāraṃ
gacchato, musā bhaṇato, karoto na karīyati pāpaṃ.
Khurapariyantena cepi cakkena yo imissā pathaviyā pāṇe ekaṃ
maṃsakhalaṃ ekaṃ maṃsapuñjaṃ kareyya, natthi tatonidānaṃ pāpaṃ,
natthi pāpassa āgamo. Dakkhiṇañcepi gaṅgāya tīraṃ gaccheyya
hananto ghātento chindanto chedāpento pacanto pācāpento, natthi
tatonidānaṃ pāpaṃ, natthi pāpassa āgamo. Uttarañcepi gaṅgāya
tīraṃ gaccheyya dadanto dāpento yajanto yajāpento, natthi
tatonidānaṃ puññaṃ, natthi puññassa āgamo. Dānena damena
saṃyamena saccavajjena natthi puññaṃ, natthi puññassa āgamo”ti.
|
17.
Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Pùrana Kassapa đă nói với con:
"Này Đại vương, tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến
người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn
hay khiến người gây phiền muộn, gây áo năo hay khiến người gây
áo năo, tự ḿnh gây sợ hăi hay khiến người gây sợ hăi, sát sanh,
lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một
nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo,
hành động như vậy không có tội ác ǵ. Nếu lấy một bánh xe sắc
bén giết hại tất cả chúng sanh trên cơi đất thành một đống thịt,
thành một chồng chịt, cũng không v́ vậy mà có tội ác, mà gây ra
tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn
sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt
nấu, cũng không v́ vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác. Nếu có
người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí,
tế lễ, khiến người tế lễ, cũng không v́ vậy mà có phước báo".
|
|
Itthaṃ kho me bhante Pūraṇo Kassapo sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ
puṭṭho samāno akiriyaṃ byākāsi.
Seyyathāpi
bhante ambaṃ vā puṭṭho labujaṃ byākareyya, labujaṃ vā puṭṭho
ambaṃ byākareyya. Evameva kho me bhante Pūraṇo Kassapo
sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ puṭṭho samāno akiriyaṃ byākāsi,
|
Bạch
Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả hiện tại thiết thực của hạnh
Sa-môn, Pùrana Kassapa đă trả lời với thuyết vô nghiệp. Bạch Thế
Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi
về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, Bạch Thế Tôn,
khi được hỏi về kết quả hiện tại thiết thực của hạnh Sa-môn,
Purana Kassapa đă trả lời với thuyết vô nghiệp.
|
|
Tassa mayhaṃ bhante etadahosi “Kathaṃ hi nāma mādiso samaṇaṃ vā
brāhmaṇaṃ vā vijite vasantaṃ apasādetabbaṃ maññeyyā”ti. So kho
ahaṃ bhante Pūraṇassa Kassapassa bhāsitaṃ neva abhinandiṃ
nappaṭikkosiṃ, anabhinanditvā apaṭikkositvā anattamano
anattamanavācaṃ anicchāretvā tameva vācaṃ anuggaṇhanto
anikkujjanto (Anikkujjento
- Syā, Kaṃ, Ka)
uṭṭhāyāsanā pakkamiṃ (Pakkāmiṃ
- Sī, Syā, Kaṃ, I).
|
Bạch Thế
Tôn, con nghĩ: "Làm sao một người như con lại có thể làm một vị
Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui ḷng?" V́
vậy bạch Thế Tôn, con không tán thán, cũng không cật nạn lời nói
của Pùrana Kassapa. Không tán thán, không cật nạn, dầu không măn
nguyện cũng không thốt ra lời bất măn, không công nhận cũng như
không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
|
|
Makkhaligosālavāda
167.
Ekamidāhaṃ bhante samayaṃ yena Makkhali Gosālo tenupasaṅkamiṃ,
upasaṅkamitvā Makkhalinā Gosālena saddhiṃ sammodiṃ, sammodanīyaṃ
kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdiṃ. Ekamantaṃ
nisinno kho ahaṃ bhante Makkhaliṃ Gosālaṃ etadavocaṃ “Yatthā nu
kho imāni bho Gosāla puthusippāyatanāni ‑pa‑. Sakkā nu kho bho
Gosāla evameva diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ
paññapetun”ti.
|
19.
Bạch Thế Tôn, một thời con đến Makkhali Gosàla
(Mạt-già-lê-cù-xá-lợi). Khi đến nơi, con nói lên những lời đón
chào tụng thân hữu và xă giao với Makkhali Gosàla và ngồi xuống
một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con nói với Makkhali
Gosàla: "Ngài Gosàla, cũng như các công kỹ nghệ chức nghiệp như
điều tượng sư... (như trên)... Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết
kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?" |
|
168. Evaṃ
vutte bhante Makkhali Gosālo maṃ etadavoca “Natthi mahārāja hetu
natthi paccayo sattānaṃ saṃkilesāya, ahetū (Ahetu
- Katthaci)
apaccayā sattā saṃkilissanti. Natthi hetu natthi paccayo
sattānaṃ visuddhiyā, ahetū apaccayā sattā visujjhanti. Natthi
attakāre, natthi parakāre, natthi purisakāre, natthi balaṃ,
natthi vīriyaṃ, natthi purisathāmo, natthi purisaparakkamo,
sabbe sattā sabbe pāṇā sabbe bhūtā sabbe jīvā avasā abalā
avīriyā niyatisaṃgatibhāvapariṇatā chasvevābhijātīsu
sukhadukkhaṃ (Sukhañca
dukkhañca - Syā)
paṭisaṃvedenti. |
20.
Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Makkhali Gosàla đă nói với con:
"Này Đại vương, không có nhơn, không có duyên, các loài hữu t́nh
bị nhiễm ô; vô nhân, vô duyên, các loài hữu t́nh bị nhiễm ô.
Không có nhân, không có duyên, các loài hữu t́nh được thanh tịnh;
vô nhân, vô duyên, các loài hữu t́nh được thanh tịnh. Không có
tự tác, không có tha tác, không có nhân tác, không có lực, không
có tinh tấn, không có nhân lực, không có sự cố gắng của người.
Tất cả loài hữu t́nh, tất cả sanh vật, tất cả sinh loại, tất cả
sinh mạng đều không tự tại, không lực, không tinh tấn. Chúng bị
dắt dẫn, chi phối bởi định mệnh, bởi điều kiện bộ loại của chúng,
bởi cá tánh của chúng. Chúng hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu loại
thác sanh của chúng.
|
|
Cuddasa kho
panimāni yonipamukhasatasahassāni saṭṭhi ca satāni cha ca satāni
pañca ca kammuno satāni pañca ca kammāni tīṇi ca kammāni kamme
ca aḍḍhakamme ca dvaṭṭhipaṭipadā dvaṭṭhantarakappā
chaḷābhijātiyo aṭṭha purisabhūmiyo ekūnapaññāsa ājīvakasate
ekūnapaññāsa paribbājakasate ekūnapaññāsa nāgāvāsasate vīse
indriyasate tiṃse nirayasate chattiṃsa rajodhātuyo satta
saññīgabbhā satta asaññīgabbhā satta nigaṇṭhigabbhā satta devā
satta mānusā satta pisācā satta sarā satta pavuṭā (Sapuṭā
- Ka; pabuṭā - Sī)
satta pavuṭasatāni satta papātā satta papātasatāni satta supinā
satta supinasatāni cullāsīti mahākappino (Mahākappuno
- Ka—Sī, I)
satasahassāni, yāni bāle ca paṇḍite ca sandhāvitvā saṃsaritvā
dukkhassantaṃ karissanti, |
Có tất cả là một triệu bốn trăm ngàn chủng
loại thác sanh, lại có thể sáu ngàn và có thêm sáu trăm nữa. Có
năm trăm loại nghiệp và có năm nghiệp (theo năm căn), lại có ba
nghiệp (về thân, khẩu, ư) lại có toàn nghiệp (thân và khẩu) và
bán nghiệp (ư), có sáu mươi hai đạo, sau mươi hai trung kiếp,
sáu giai cấp, tám nhân địa, bốn ngàn chín trăm sanh nghiệp, bốn
ngàn chín trăm kẻ du hành, bốn ngàn chín trăm chỗ ở của loài
Naga, hai ngh́n căn, ba ngh́n cảnh địa ngục, ba mươi sáu trần
giới, bảy tưởng thai, bảy vô tưởng thai, bảy tiết thai (sanh từ
đốt), bảy loài thiên, bảy loài người, bảy loài quỷ, bảy hồ nước,
bảy pavutas (rừng hay hồ nhỏ) bảy trăm pavutas bảy vực thẳm, bảy
trăm papatas (vực thẳm), bảy mộng, bảy trăm mộng, có tám trăm
bốn mươi vạn đại kiếp, trong thời gian ấy kẻ ngu và người hiền
sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau.
|
|
tattha natthi
‘Imināhaṃ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā
aparipakkaṃ vā kammaṃ paripācessāmi, paripakkaṃ vā kammaṃ phussa
phussa byantiṃ karissāmī’ti hevaṃ natthi. Doṇamite sukhadukkhe,
pariyantakate saṃsāre natthi hāyanavaḍḍhane, natthi
ukkaṃsāvakaṃse. Seyyathāpi nāma suttaguḷe Khitte
nibbeṭhiyamānameva paleti, evameva bāle ca paṇḍite ca
sandhāvitvā saṃsaritvā dukkhassantaṃ karissantī”ti. |
Không có lời
nguyện: với giới hạnh này, với kỷ luật này, với khổ hạnh này hay
với phạm hạnh này, tôi sẽ làm cho chín muồi những nghiệp chưa
được thuần thục, hoặc trừ diệt những nghiệp đă thuần thục bởi
những nhẫn thọ liên tục, không thể đo lường khổ và lạc với những
vật đo lường, trong khi luân hồi không có giảm tăng, không có
thặng dư, thiếu thốn. Ví như một cuộn chỉ được tung ra sẽ được
kéo dài đến mức độ nào đó. Cũng như vậy, kẻ ngu và người hiền
sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau".
|
|
169. Itthaṃ
kho me bhante Makkhali Gosālo sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ puṭṭho
samāno saṃsārasuddhiṃ byākāsi. Seyyathāpi bhante ambaṃ vā puṭṭho
labujaṃ byakareyya, labujaṃ vā puṭṭho ambaṃ byākareyya. Evameva
kho me bhante Makkhali Gosālo sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ puṭṭho
samāno saṃsārasuddhiṃ byākāsi. Tassa mayhaṃ bhante etadahosi
“Kathaṃ hi nāma mādiso samaṇaṃ vā brāhmaṇaṃ vā vijite vasantaṃ
apasādetabbaṃ maññeyyā”ti. So kho ahaṃ bhante Makkhalissa
Gosālassa bhāsitaṃ neva abhinandiṃ nappaṭikkosiṃ, anabhinanditvā
appaṭikkositvā anattamano anattamanavācaṃ anicchāretvā tameva
vācaṃ anuggaṇhanto anikkujjanto uṭṭhāyāsanā pakkamiṃ. |
21.
Bạch Thế Tôn, khi được con hỏi kết quả thiết thực hiện tại của
hạnh Sa-môn, Makkhali Gosàla đă trả lời với thuyết luân hồi tịnh
hóa. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái
mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy,
bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của
hạnh Sa-môn, Makkhali Gosàla đă trả lời với thuyết luân hồi tịnh
hóa. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: "Làm sao một người như con,
lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con
không được vui ḷng? "V́ vậy, bạch Thế Tôn, con không tán thán
cũng không cật nạn lời nói của Makkhali Gosàla; không tán thán,
không cật nạn, dầu không măn nguyện cũng không thốt ra lời bất
măn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy
ra về.
|
Ajitakesakambalavāda
170.
Ekamidāhaṃ bhante samayaṃ yena Ajito
Kesakambalo tenupasaṅkamiṃ,
upasaṅkamitvā Ajitena Kesakambalena
saddhiṃ sammodiṃ, sammodanīyaṃ kathaṃ
sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdiṃ,
ekamantaṃ nisinno kho ahaṃ bhante Ajitaṃ
Kesakambalaṃ etadavocaṃ “Yathā nu kho
imāni bho Ajita puthusippāyatanāni ‑pa‑.
Sakkā nu kho bho Ajita evameva diṭṭheva
dhamme sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ
paññapetun’ti.
|
22.
Bạch Thế Tôn, một thời con đến Ajita Kesakambàli (A-kỳ-đa-xí-xá-khâm-bà-la)
khi đến nơi con nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu
và xă giao với Ajita Kesakambàli , và ngồi xuống một bên. Sau
khi ngồi xuống một bên, con nói với Ajita Kesakambala: "Ngài
Ajita Kesakambàli , cũng như các công nghệ chức nghiệp như điều
tượng sư... (như trên)... Bạch Ngài, Ngài có thể chỉ cho biết
kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?"
|
|
171. Evaṃ
vutte bhante Ajito Kesakambalo maṃ etadavoca “Natthi mahārāja
dinnaṃ, natthi yiṭṭhaṃ, natthi hutaṃ, natthi sukatadukkaṭānaṃ
kammānaṃ phalaṃ vipāko, natthi ayaṃ loko, natthi paro loko (Paraloko
- Syā),
natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke
samaṇabrāhmaṇā sammaggatā (Samaggatā
- Ka; samaggagatā - Syā)
sammāpaṭipannā, ye imañca lokaṃ parañca lokaṃ sayaṃ abhiññā
sacchikatvā pavedenti. Cātumahābhūtiko ayaṃ puriso, yadā kālaṃ
karoti, pathavī pathavikāyaṃ anupeti anupagacchati, āpo āpokāyaṃ
anupeti anupagacchati, tejo tejokāyaṃ anupeti anupagacchati,
vāyo vāyokāyaṃ anupeti anupagacchati, ākāsaṃ indriyāni
saṅkamanti, āsandipañcamā purisā mataṃ ādāya gacchanti,
yāvāḷāhanā padāni paññāyanti, kāpotakāni aṭṭhīni bhavanti,
bhassantā āhutiyo, dattupaññattaṃ yadidaṃ dānaṃ, tesaṃ tucchaṃ
musā vilāpo, ye keci atthikavādaṃ vadanti, bāle ca paṇḍite ca
kāyassa bhedā ucchijjanti vinassanti, na honti paraṃ maraṇā”ti. |
23. Bạch Thế Tôn, khi được nói
vậy, Ajita Kesakambàli đă nói với con: "Này Đại vương, không có
bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị
thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác,
không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không
có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh,
đă tự ḿnh chứng tri giác ngộ đời này đời khác và truyền dạy
lại. Con người này do bốn đại hợp thành, khi mệnh chung, địa đại
trở về trả lại cho địa giới, thủy đại trở về trả lại cho thủy
giới, hỏa đại trở về trả lại cho hỏa giới, phong đại trở về trả
lại cho phong giới, các căn nhập vào hư không. Bốn người gánh
quan tài với người nằm trong quan tài là năm, gánh người chết
mang đi đến chỗ hỏa táng, thốt ra những lời tán tụng, các xương
trắng như màu bồ câu và những vật cúng dường trở thành tro bụi,
chỉ có người ngu mới tán dương sự bố thí, lời nói của chúng
trống không, giả dối, khi chúng chấp thuyết có sự sống. Kẻ ngu
cũng như người hiền, sau khi thân hoại mạng chung sẽ đoạn diệt,
tiêu thất, không c̣n tồn tại sau khi chết. "
|
|
172. Itthaṃ
kho me bhante Ajito Kesakambalo sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ
puṭṭho samāno ucchedaṃ byākāsi. Seyyathāpi bhante ambaṃ vā
puṭṭho labujaṃ byākareyya, labujaṃ vā puṭṭho ambaṃ byākareyya.
Evameva kho me bhante Ajito Kesakambalo sandiṭṭhikaṃ
sāmaññaphalaṃ puṭṭho samāno ucchedaṃ byākāsi. Tassa mayhaṃ
bhante etadahosi “Kathaṃ hi nāma mādiso samaṇaṃ vā brāhmaṇaṃ vā
vijite vasantaṃ apasādetabbaṃ maññeyyā”ti. So kho ahaṃ bhante
Ajitassa Kesakambalassa bhāsitaṃ neva abhinandiṃ nappaṭikkosiṃ,
anabhinanditvā appaṭikkositvā anattamano anattamanavācaṃ
anicchāretvā tameva vācaṃ anuggaṇhanto anikkujjanto uṭṭhāyāsanā
pakkamiṃ. |
24. Bạch Thế Tôn, khi được con
hỏi kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Ajita
Kesakambàli đă trả lời với thuyết đoạn diệt. Bạch Thế Tôn, cũng
như hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài, hỏi về trái xoài
lại trả lời về trái mít. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về
kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Ajita Kesakambàli
đă trả lời với thuyết đoạn diệt. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ:
"Làm sao một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn hay
Bà-la-môn ở trong nước con không được vui ḷng". V́ vậy bạch Thế
Tôn, con không tán thán, cũng không cật nạn lời nói của Ajita
Kesakambàli . Không tán thán, không cật nạn, dầu không măn
nguyện cũng không thốt ra lời bất măn, không công nhận cũng
không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
|
|
Pakudhakaccāyanavāda
173. Ekamidāhaṃ bhante samayaṃ yena Pakudho Kaccāyano
tenupasaṅkamiṃ, upasaṅkamitvā Pakudhena Kaccāyanena saddhiṃ
sammodiṃ, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ
nisīdiṃ, ekamantaṃ nisinno kho ahaṃ bhante Pakudhaṃ Kaccāyanaṃ
etadavocaṃ “Yathā nu kho imāni bho Kaccāyana puthusippāyatanāni
‑pa‑. Sakkā nu kho bho Kaccāyana evameva diṭṭheva dhamme
sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ paññapetun”ti.
|
25. Bạch Thế Tôn, một thời con
đến Pakudha Kaccayana (Bà-phù-đả-ca-chiên-diên). Khi đến nơi con
nói lên những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xă giao với
Pakudha Kaccàyana và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một
bên, con nói với Pakudha Kaccayana: "Ngài Pakudha Kaccayana,
cũng như các công nghệ chức nghiệp, như điều tượng sư... (như
trên)... Bạch Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện
tại của hạnh Sa-môn chăng?" |
|
174. Evaṃ vutte bhante Pakudho Kaccāyano maṃ etadavoca “Sattime
mahārāja kāyā akaṭā akaṭavidhā animmitā animmātā vañjhā kūṭaṭṭhā
esikaṭṭhāyiṭṭhitā, te na iñjanti, na vipariṇāmenti, na
aññamaññaṃ byābādhenti, nālaṃ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya
vā sukhadukkhāya vā. Katame satta, pathavikāyo, āpokāyo,
tejokāyo, vāyokāyo, sukhe, dukkhe, jīve sattame. Ime satta kāyā
akaṭā akaṭavidhā animmitā animmātā vañjhā kūṭaṭṭhā
esikaṭṭhāyiṭṭhitā, te na iñjanti, na vipariṇāmenti, na
aññamaññaṃ byābādhenti, nālaṃ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya
vā sukhadukkhāya vā. Tattha natthi hantā vā ghātetā vā, sotā vā
sāvetā vā, viññātā vā viññāpetā vā, yopi tiṇhena satthena sīsaṃ
chindati, na koci kiñci (Kañci
- Kaṃ) jīvitā voropeti, sattannaṃ tveva (Sattannaṃ
yeva - Sī, Syā, Kaṃ, I)
kāyānamantarena satthaṃ vivaramanupatatī”ti.
|
26. Bạch Thế Tôn, khi được nói
vậy, Pakudha Kaccàyana nói với con: "Này Đại vương, có bảy thân
không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng
tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ
đá. Chúng bất động không chuyển biến, không xâm lăng nhau. Chúng
không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau hoặc cả khổ và lạc. Bảy
thân ấy là ǵ? Địa thân, thủy thân, hỏa thân, phong thân, khổ,
lạc và thứ bảy là mạng. Bảy thân này khômg bị làm ra, không làm
ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường
tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động không
chuyển biến, không xâm lăng, chúng không ảnh hưởng đến lạc hay
khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc. Ở đây không có người giết hại,
hoặc có người bị giết hại, người nghe hoặc người nói, người biết
hoặc người khiến cho biết. Khi một ai dùng lưỡi kiếm sắc bén
chém đầu, thời không có ai tước đoạt sanh mạng của ai cả, lưỡi
kiếm chỉ rơi vào giữa bảy thân mà thôi".
|
|
175. Itthaṃ kho me bhante Pakudho Kaccāyano sandiṭṭhikaṃ
sāmaññaphalaṃ puṭṭho samāno aññena aññaṃ byākāsi. Seyyathāpi
bhante ambaṃ vā puṭṭho labujaṃ byākareyya, labujaṃ vā puṭṭho
ambaṃ byākareyya. Evameva kho me bhante Pakudho Kaccāyano
sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ puṭṭho samāno aññena aññaṃ byākāsi.
Tassa mayhaṃ bhante etadahosi “Kathaṃ hi nāma mādiso samaṇaṃ vā
brāhmaṇaṃ vā vijite vasantaṃ apasādetabbaṃ maññeyyā”ti. So kho
ahaṃ bhante Pakudhassa Kaccāyanassa bhāsitaṃ neva abhinandiṃ
nappaṭikkosiṃ, anabhinanditvā appaṭikkositvā anattamano
anattamanavācaṃ anicchāretvā tameva vācaṃ anuggaṇhanto
anikkujjanto uṭṭhāyāsanā pakkamiṃ.
|
27. Bạch Thế Tôn, khi được con
hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Pakudha
Kaccàyana đă trả lời một việc khác với một quan điểm khác. Bạch
Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc
hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, Bạch Thế
Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh
Sa-môn, Pakudha Kaccayana đă trả lời một việc khác với một quan
điểm khác. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: "Làm sao một người như
con lại có thể làm một vị Sa-môn, hay Bà-la-môn ở trong nước con
không được vui ḷng". V́ vậy, bạch Thế Tôn, con không tán thán,
không cật nạn, bỏ lời nói của Pakudha Kaccayana. Không tán thán,
không cật nạn, dầu không măn nguyện, cũng không thốt ra lời bất
măn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi và đứng
dậy ra về.
|
|
Nigaṇṭhanāṭaputtavāda
176.
Ekamidāhaṃ bhante samayaṃ yena Nigaṇṭho Nāṭaputto
tenupasaṅkamiṃ, upasaṅkamitvā Nigaṇṭhena Nāṭaputtena saddhiṃ
sammodiṃ, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ
nisīdiṃ, ekamantaṃ nisinno kho ahaṃ bhante Nigaṇṭhaṃ Nāṭaputtaṃ
etadavocaṃ “Yathā nu kho imāni bho aggivessana
puthusippāyatanāni ‑pa‑. Sakkā nu kho bho aggivessana evameva
diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ paññapetun”ti.
|
28. Bạch Thế Tôn, một thời con
đến Nigantha Nàtaputta (Ni-kiền-tử). Khi đến nơi, con nói lên
những lời đón chào, chúc tụng thân hữu và xă giao với Nigantha
Nàtaputta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, con
nói với Nigantha Nàtaputta: "Ngài Aggivessana, các công nghệ
chức nghiệp như điều tượng sư, ... (như trên) ... Bạch Ngài,
Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn
?" |
|
177. Evaṃ
vutte bhante Nigaṇṭho Nāṭaputto maṃ etadavoca “Idha mahārāja
Nigaṇṭho cātuyāmasaṃvarasaṃvuto hoti. Kathañca mahārāja Nigaṇṭho
cātuyāmasaṃvarasaṃvuto hoti. Idha mahārāja Nigaṇṭho
sabbavārivārito ca hoti, sabbavāriyutto ca, sabbavāridhuto ca,
sabbavāriphuṭo ca. Evaṃ kho mahārāja Nigaṇṭho
cātuyāmasaṃvarasaṃvuto hoti, yato kho mahārāja Nigaṇṭho evaṃ
cātuyāmasaṃvarasaṃvuto hoti. Ayaṃ vuccati mahārāja Nigaṇṭho (Nigaṇṭho
nāṭaputto - Syā, Ka)
gatatto ca yatatto ca ṭhitatto cā”ti. |
29. Bạch Thế Tôn, khi được hỏi
vậy, Nigantha Nàtaputta nói với con: "Này Đại vương, một người
Nigantha (Ni kiền tử) sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Này
Đại vương, thế nào là một người Nigantha sống chế ngự bởi bốn
loại cấm giới? Này Đại vương, một Nigantha sống ǵn giữ đối với
tất cả loại nước, ǵn giữ đối với mọi ác pháp, sống tẩy sạch tất
cả ác pháp và sống với ư chí ǵn giữ đối với tất cả ác pháp. Này
Đại vương, như vậy một Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm
giới. Này Đại vương, v́ một Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại
cấm giới, nên vị ấy được gọi là Gotatto (một vị đă đi đến đích),
Yatatto (một vị đă điều phục tự tâm) và Thitatto (một vị đă an
trú được tự tâm)".
|
|
178. Itthaṃ kho me bhante Nigaṇṭho Nāṭaputto sandiṭṭhikaṃ
sāmaññaphalaṃ puṭṭho samāno cātuyāmasaṃvaraṃ byākāsi. Seyyathāpi
bhante ambaṃ vā puṭṭho labujaṃ byākareyya, labujaṃ vā puṭṭho
ambaṃ byākareyya. Evameva kho me bhante Nigaṇṭho Nāṭaputto
sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ puṭṭho samāno cātuyāmasaṃvaraṃ
byākāsi. Tassa mayhaṃ bhante etadahosi “Kathaṃ hi nāma mādiso
samaṇaṃ vā brāhmaṇaṃ vā vijite vasantaṃ apasādetabbaṃ
maññeyyā”ti. So kho ahaṃ bhante Nigaṇṭhassa Nāṭaputtassa
bhāsitaṃ neva abhinandiṃ nappaṭikkosiṃ, anabhinanditvā
appaṭikkositvā anattamano anattamanavācaṃ anicchāretvā tameva
vācaṃ anuggaṇhanto anikkujjanto uṭṭhāyāsanā pakkamiṃ.
|
30. Bạch Thế Tôn, khi được con
hỏi đến kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Nigantha
Nàtaputta đă trả lời với sự chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Bạch
Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít, hoặc
hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng vậy, bạch Thế
Tôn, khi được hỏi về kết quả thiết thực hiện tại của hạnh
Sa-môn, Nigantha Nàtaputta đă trả lời với sự chế ngự bởi bốn cấm
giới. Bạch Thế Tôn, con liền nghĩ: "Làm sao một người như con
lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con
không được vui ḷng". V́ vậy, bạch Thế Tôn, con không tán thán,
cũng không cật nạn lời nói của Nigantha Nàtaputta. Không tán
thán không cật nạn, dù không măn nguyện, cũng không thốt ra lời
bất măn, không công nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng
dậy ra về.
|
|
Sañcayabelaṭṭhaputtavāda
179. Ekamidāhaṃ bhante samayaṃ yena Sañcayo Belaṭṭhaputto
tenupasaṅkamiṃ, upasaṅkamitvā Sañcayena Belaṭṭhaputtena saddhiṃ
sammodiṃ, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ
nisīdiṃ, ekamantaṃ nisinno kho ahaṃ bhante Sañcayaṃ
Belaṭṭhaputtaṃ etadavocaṃ “Yathā nu kho imāni bho Sañcaya
puthusippāyatanāni ‑pa‑. Sakkā nu kho bho Sañcaya evameva
diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ paññapetun”ti.
|
31. Bạch Thế Tôn, một hôm con đến
Sanjaya Belatthiputta (Tán-nhă-di-Tỳ-la-lê-phất). Khi đến nơi,
con nói lên những lời đón chào chúc tụng thân hữu và xă giao với
Sanjaya Belatthiputta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống
một bên, con nói với Sanjaya Belatthiputta: "Ngài Sanjaya, các
công nghệ chức nghiệp như điều tượng sư... (như trên)... Bạch
Ngài, Ngài có thể cho biết kết quả thiết thực hiện tại của hạnh
Sa-môn chăng?" |
|
180. Evaṃ vutte bhante Sañcayo Belaṭṭhaputto maṃ etadavoca
“Atthi paro lokoti iti ce maṃ pucchasi, atthi paro lokoti iti ce
me assa, atthi paro lokoti iti te naṃ byākareyyaṃ, evantipi me
no, tathātipi me no, aññathātipi me no, notipi me no, no notipi
me no. Natthi paro loko ‑pa‑. Atthi ca natthi ca paro loko ‑pa‑.
Nevatthi na natthi paro loko ‑pa‑. Atthi sattā opapātikā ‑pa‑.
Natthi sattā opapātikā ‑pa‑. Atthi ca natthi ca sattā opapātikā
‑pa‑. Nevatthi na natthi sattā opapātikā ‑pa‑. Atthi
sukatadukkaṭānaṃ kammānaṃ phalaṃ vipāko ‑pa‑. Natthi
sukatadukkaṭānaṃ kammānaṃ phalaṃ vipāko ‑pa‑. Atthi ca natthi ca
sukatadukkaṭānaṃ kammānaṃ phalaṃ vipāko ‑pa‑. Nevatthi na natthi
sukatadukkaṭānaṃ kammānaṃ phalaṃ vipāko ‑pa‑. Hoti tathāgato
paraṃ maraṇā ‑pa‑. Na hoti tathāgato paraṃ maraṇā ‑pa‑. Hoti ca
na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā ‑pa‑. Neva hoti na na hoti
tathāgato paraṃ maraṇāti iti ce maṃ pucchasi, neva hoti na na
hoti tathāgato paraṃ maraṇāti iti ce me assa, neva hoti na na
hoti tathāgato paraṃ maraṇāti iti te naṃ byākareyyaṃ, evantipi
me no, tathātipi me no, aññathātipi me no, notipi me no, no
notipi me no”ti.
|
32. Bạch Thế Tôn, khi được nói
vậy, Sanjaya Belatthiputta đă trả lời với con: "Nếu anh hỏi: "Có
một thế giới khác hay không?" Nếu tôi nghĩ: "Có một thế giới
khác", tôi có thể trả lời với anh: "Có một thế giới khác". Nhưng
tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không
nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi
không nói là không không phải như thế. Nếu anh hỏi tôi: "Không
có một thế giới khác phải không?" Nếu tôi nghĩ: "Không có một
thế giới khác", tôi có thể trả lời với anh: "Không có một thế
giới khác". Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như
kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải
như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Nếu anh hỏi
tôi: "Không có một thế giới khác phải không?" (... như trên... )
"Cũng có và cũng không có một thế giới khác?", "Cũng không có và
cũng không không có một thế giới khác?", "Có loại hữu t́nh hóa
sanh?", "Không có loại hữu t́nh hóa sanh?", "Cũng có và cũng
không có loại hữu t́nh hóa sanh?" "Cũng không có và cũng không
không có loại hữu t́nh hóa sanh?", "Có kết quả dị thục của các
nghiệp thiện và ác?", "Không có kết quả dị thục của những nghiệp
thiện và ác?", "Cũng có và cũng không có kết quả dị thục của
những nghiệp thiện và ác?", "Cũng không có và cũng không không
có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?", "Như Lai có
tồn tại sau khi chết?", "Như Lai không có tồn tại sau khi
chết?", "Như Lai có và không có tồn tại sau khi chết?", "Như Lai
không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết?". Anh hỏi
tôi như vậy. Nếu tôi nghĩ : "Như Lai không có và cũng không
không có tồn tại sau khi chết". Tôi có thể trả lời : "Như Lai
không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết". Nhưng tôi
không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là
khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói
là không không phải như thế."
|
|
181. Itthaṃ kho me bhante Sañcayo Belaṭṭhaputto sandiṭṭhikaṃ
sāmaññaphalaṃ puṭṭho samāno vikkhepaṃ byākāsi. Seyyathāpi bhante
ambaṃ vā puṭṭho labujaṃ byākareyya, labujaṃ vā puṭṭho ambaṃ
byākareyya. Evameva kho me bhante Sañcayo Belaṭṭhaputto
sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ puṭṭho samāno vikkhepaṃ byākāsi.
Tassa mayhaṃ bhante etadahosi “Ayañca imesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ
sabbabālo sabbamūḷho, kathaṃ hi nāma sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ
puṭṭho samāno vikkhepaṃ byākarissatī”ti. Tassa mayhaṃ bhante
etadahosi “Kathaṃ hi nāma mādiso samaṇaṃ vā brāhmaṇaṃ vā vijite
vasantaṃ apasādetabbaṃ maññeyyā”ti. So kho ahaṃ bhante
Sañcayassa Belaṭṭhaputtassa bhāsitaṃ neva abhinandiṃ
nappaṭikkosiṃ, anabhinanditvā appaṭikkositvā anattamano
anattamanavācaṃ anicchāretvā tameva vācaṃ anuggaṇhanto
anikkujjanto uṭṭhāyāsanā pakkamiṃ.
|
33. Bạch Thế Tôn, khi được con
hỏi kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Sanjaya
Belatthiputta đă trả lời với Ngụy biện luận. Bạch Thế Tôn, cũng
như hỏi về trái xoài lại trả lời về trái mít , hoặc hỏi trái mít
lại trả lời trái xoài . Cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi được hỏi về
kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, Sanjaya
Belatthiputta đă trả lời với Ngụy biện luận. Bạch Thế Tôn, con
liền nghĩ: "Làm sao một người như con, lại có thể làm một vị
Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con không được vui ḷng". V́
vậy, Bạch Thế Tôn, con không tán thán cũng không cật nạn lời nói
của Sanjaya Belatthiputta. Không tán thán, không cật nạn, dầu
không măn nguyện, cũng không thốt ra lời bất măn. Không công
nhận cũng không bác bỏ, con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
|
|
Paṭhamasandiṭṭhikasāmaññaphala
182. Sohaṃ
bhante Bhagavantampi pucchāmi “Yathā nu kho imāni bhante
puthusippāyatanāni. Seyyathidaṃ, hatthārohā assārohā rathikā
dhanuggahā celakā calakā piṇḍadāyakā uggā rājaputtā pakkhandino
mahānāgā sūrā cammayodhino dāsikaputtā āḷārikā kappakā nhāpakā
sūdā mālakārā rajakā pesakārā naḷakārā kumbhakārā gaṇakā
muddikā, yāni vā panaññānipi evaṃgatāni puthusippāyatanāni, te
diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṃ sippaphalaṃ upajīvanti, te tena
attānaṃ sukhenti pīṇenti, mātāpitaro sukhenti pīṇenti,
puttadāraṃ sukhenti pīṇenti, mittāmacce sukhenti pīṇenti,
samaṇabrāhmaṇesu uddhaggikaṃ dakkhiṇaṃ patiṭṭhapenti sovaggikaṃ
sukhavipākaṃ saggasaṃvattanikaṃ. Sakkā nu kho bhante evameva
diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ paññapetun”ti.
|
34. Vậy nên bạch Thế Tôn, con
cũng hỏi Thế Tôn. bạch Thế Tôn, cũng như các công nghệ chức
nghiệp. Như điều tượng sư, điều mă sư, xa thuật sư, cung thuật
sư, quân kỳ binh, nguyên soái, chiến sĩ, thượng sĩ quan, thám
tử, dũng sĩ can đảm như voi chúa, anh hùng, trang giáp binh, nô
lệ xuất thân, hỏa đầu quân, thợ hớt tóc, người hầu tắm, thợ làm
bánh, nhà ṿng hoa, thợ giặt, thợ dệt, nhà làm thúng rổ, thợ đồ
gốm, nhà toán số, nhà ấn bản, các công nghệ chức nghiệp khác.
Chúng hưởng được kết quả thiết thực hiện tại công nghệ chức
nghiệp của chúng. Chúng giúp cho tự thân được sống an lạc, hạnh
phúc. Chúng giúp cho cha mẹ được sống an lạc, hạnh phúc. Chúng
giúp cho cha mẹ được sống an lạc hạnh phúc. Chúng giúp cho bạn
bè được sống an lạc hạnh phúc. Chúng dâng các vật cúng dường cho
Sa-môn, Bà-la-môn, sự cúng dường này có ảnh hưởng đến đời sau,
liên hệ đến thiên giới, thọ hưởng phước báo an lạc, thác sanh
lên cơi trời. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho biết kết quả
thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?
|
|
183. Sakkā
mahārāja, tena hi mahārāja taññevettha paṭipucchissāmi, yathā te
khameyya, tathā taṃ byākareyyāsi.
|
- Đại vương có thể được. Này Đại
vương, ta sẽ hỏi Đại vương về vấn đề này. Đại vương hăy trả lời
tùy theo ư muốn của Đại vương.
|
|
Taṃ kiṃ maññasi mahārāja. Idha te assa puriso dāso kammakāro (Kammakaro
- Sī, Syā, Kaṃ, I)
pubbuṭṭhāyī pacchānipātī kiṃkārapaṭissāvī manāpacārī
piyavādī mukhullokako (Mukhullokiko
- Syā, Kaṃ, Ka).
Tassa evamassa “Acchariyaṃ vata bho abbhutaṃ vata
bho puññānaṃ gati puññānaṃ vipāko, ayaṃ hi rājā Māgadho
Ajātasattu Vedehiputto manusso, ahampi manusso, ayaṃ hi rājā
Māgadho Ajātasattu Vedehiputto pañcahi kāmaguṇehi samappito
samaṅgībhūto paricāreti devo maññe, ahaṃ panamhissa dāso
kammakāro pubbuṭṭhāyī pacchānipātī kiṃkārapaṭissāvī manāpacārī
piyavādī mukhullokako, so vatassāhaṃ puññāni kareyyaṃ,
yaṃnūnāhaṃ kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā
agārasmā anagāriyaṃ pabbajeyyan”ti. So aparena samayena
kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā
anagāriyaṃ pabbajeyya, so evaṃ pabbajito samāno kāyena saṃvuto
vihareyya, vācāya saṃvuto vihareyya, manasā saṃvuto vihareyya,
ghāsacchādanaparamatāya santuṭṭho, abhirato paviveke. Taṃ ce te
purisā evamāroceyyuṃ “Yagghe deva jāneyyāsi, yo te so puriso (Yo
te puriso - Sī, Ka)
dāso kammakāro pubbuṭṭhāyī pacchānipātī kiṃ kārapaṭissāvī
manāpacārī piyavādī mukhullokako, so deva kesamassuṃ ohāretvā
kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ pabbajito, so
evaṃ pabbajito samāno kāyena saṃvuto viharati, vācāya saṃvuto
viharati, manasā saṃvuto viharati, ghāsacchādanaparamatāya
santuṭṭho, abhirato paviveke”ti. Api nu tvaṃ evaṃ vadeyyāsi “Etu
me bho so puriso, punadeva hotu dāso kammakāro pubbuṭṭhāyī
pacchānipātī kiṃ kārapaṭissāvī manāpacārī piyavādī
mukhullokako”ti.
|
35. Đại vương nghĩ sao? Nếu Đại
vương có một người nô bộc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi
mệnh lệnh của chủ, làm đẹp ḷng mọi người, lời nói kính ái, chú
ư từng nét mặt (của Đại vương). Người ấy nghĩ: "Thật hy hữu
thay! Thật kỳ diệu thay quả vị thác sanh của các công đức, quả
dị thục của các công đức. Đức vua Ajàtasattu, con của bà Videhi
của nước Magadha, là người, tôi đây là người. Vị vua Ajàtasattu
con bà Videhi, của nước Magadha, sống tận hưởng đầy đủ năm món
dục lạc, tôi nghĩ không khác ǵ vị thiên thần, c̣n tôi là người
nô bộc, làm mọi công việc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi
mệnh lệnh của chủ, làm đẹp ḷng mọi người, lời nói kính ái, chú
ư từng nét mặt (của vua). Vậy ta hăy làm các công đức như vua
kia, ta hăy cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đ́nh xuất
gia tu đạo". Và người nô lệ ấy, một thời khác, cạo bỏ râu tóc,
khoác áo cà sa, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, xuất gia tu
đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, sống
chế ngự lời nói, sống chế ngự ư nghĩ, bằng ḷng với nhu cầu tối
thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỉ sống an tịnh. Nếu những người
của Đại vương đến tâu với Đại vương. "Đại vương có biết chăng?
Có người nô bộc của Đại vương, làm mọi công việc, dậy sớm, thức
khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của chủ, làm đẹp ḷng mọi người,
lời nói kính ái, chú ư từng nét mặt (của Đại vương). Tâu Đại
vương, người ấy đă cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia
đ́nh, sống không gia đ́nh, xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như
vậy, người ấy sống chế ngự thân, chế ngự lời nói, chế ngự ư
nghĩ, bằng ḷng với nhu cầu tối thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ
sống trong an tịnh". Này Đại vương, Đại vương có nói như sau
chăng?: "Người ấy hăy lại với ta, hăy làm lại người nô bộc, làm
mọi công việc, dậy sớm, thức khuya, thi hành mọi mệnh lệnh của
chủ, làm đẹp ḷng mọi người, lời nói kính ái chú ư từng nét
mặt?"
|
|
184. Nohetaṃ bhante, atha kho naṃ mayameva abhivādeyyāmapi
paccuṭṭheyyāmapi āsanenapi nimanteyyāma abhinimanteyyāmapi naṃ
cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārehi,
dhammikampissa rakkhāvaraṇaguttiṃ saṃvidaheyyāmāti.
|
36. - Bạch Thế Tôn, không như
vậy. Trái lại chúng con kính lễ người ấy, đứng dậy trước người
ấy, mời người ấy ngồi xuống ghế, cúng dường người ấy các dụng cụ
như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc men trị bệnh và chúng
con sẽ ra lệnh để bảo vệ, che chở người ấy đúng theo luật pháp.
|
|
185. Taṃ kiṃ maññasi mahārāja. Yadi evaṃ sante hoti vā
sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ no vāti.
Addhā kho bhante evaṃ sante hoti sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalanti.
Idaṃ kho te mahārāja mayā paṭhamaṃ diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṃ
sāmaññaphalaṃ paññattanti.
|
- Này Đại vương, Đại vương nghĩ
thế nào? Nếu quả như vậy, th́ đó có phải chăng là kết quả thiết
thực hiện tại hạnh Sa-môn?
- Bạch Thế Tôn, như vậy chính là
kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn.
- Này Đại vương đó là kết quả
thiết thực hiện tại thứ nhất của hạnh Sa-môn mà Ta đă tŕnh bày.
|
|
Dutiyasandiṭṭhikasāmaññaphala
186. Sakkā
pana bhante aññampi evameva diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṃ
sāmaññaphalaṃ paññapetunti.
|
37. - Bạch Thế Tôn, có thể cho
biết một kết quả thiết thực hiện tại khác hơn nữa của hạnh
Sa-môn? |
|
Sakkā mahārāja, tena hi mahārāja taññevettha paṭipucchissāmi,
yathā te khameyya, tathā naṃ byākareyyāsi. Taṃ kiṃ maññasi
mahārāja. Idha te assa puriso kassako gahapatiko karakārako
rāsivaḍḍhako. Tassa evamassa “Acchariyaṃ vata bho abbhutaṃ vata
bho puññānaṃ gati puññānaṃ vipāko, ayaṃ hi rājā Māgadho
Ajātasattu Vedehiputto manusso, ahampi manusso, ayaṃ hi rājā
Māgadho Ajātasattu Vedehiputto pañcahi kāmaguṇehi samappito
samaṅgībhūto paricāreti devo maññe, ahaṃ panamhissa kassako
gahapatiko karakārako rāsivaḍḍhako, so vatassāhaṃ puññāni
kareyyaṃ, yaṃnūnāhaṃ kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vattāni
acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ pabbajeyyan”ti. So aparena
samayena appaṃ vā bhogakkhandhaṃ pahāya mahantaṃ vā
bhogakkhandhaṃ pahāya appaṃ vā ñātiparivaṭṭaṃ pahāya mahantaṃ vā
ñātiparivaṭṭaṃ pahāya kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vatthāni
acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ pabbajeyya, so evaṃ pabbajito
samāno kāyena saṃvuto vihareyya, vācāya saṃvuto vihareyya,
manasā saṃvuto vihareyya, ghāsacchādanaparamatāya santuṭṭho,
abhirato paviveke. Taṃ ce te purisā evamāroceyyuṃ “Yagghe deva
jāneyyāsi, yo te so puriso (Yo
te puriso - Sī)
kassako gahapatiko karakārako rāsivaḍḍhako, so deva kesamassuṃ
ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ
pabbajito, so evaṃ pabbajito samāno kāyena saṃvuto viharati,
vācāya saṃvuto viharati, manasā saṃvuto viharati,
ghāsacchādanaparamatāya santuṭṭho, abhirato paviveke”ti. Api nu
tvaṃ evaṃ vadeyyāsi “Etu me bho so puriso, punadeva hotu kassako
gahapatiko karakārako rāsivaḍḍhako”ti.
|
- Này Đại vương, có thể được. Này
Đại vương. Ta sẽ hỏi Đại vương về vấn đề này. Đại vương hăy trả
lời tùy theo ư muốn của Đại vương. Đại vương nghĩ sao? Nếu Đại
vương có một người nông phu, gia chủ, nạp thuế má, làm giàu công
khố. Người ấy nghĩ: "Thật hy hữu thay! Thật kỳ diệu thay quả vị
thác sanh của các công đức, quả vị thục của các công đức. Vị vua
Ajàtasattu, con của bà Videhi, nước Magadha, là người, tôi cũng
là người. Vị vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha, sống
tận hưởng đầy đủ năm món dục lạc, tôi nghĩ không khác ǵ vị
thiên thần. C̣n tôi là người nông phu, gia chủ, nạp thuế má, làm
giàu công khố. Vậy ta hăy làm các công đức như vua kia. Ta hăy
cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia
đ́nh, xuất gia tu đạo". Và người nông phu ấy, một thời khác, cạo
bỏ râu tóc, khoác áo cà sa, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh,
xuất gia tu đạo. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự
thân, chế ngự lời nói, chế ngự ư nghĩ, bằng ḷng với nhu cầu tối
thiểu về ăn uống, y áo, hoan hỷ sống an tịnh. Nếu những người
của Đại vương đến tâu với Đại vương: "Đại vương có biết chăng?
Có người nông phu của Đại vương, người gia chủ, nạp thuế má, làm
giàu công khố. Tâu Đại vương, người ấy đă cạo bỏ râu tóc, khoác
áo cà sa, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, xuất gia tu đạo.
Sau khi xuất gia như vậy, người ấy sống chế ngự thân, chế ngự
lời nói, chế ngự ư nghĩ, bằng ḷng với nhu cầu tối thiểu về ăn
uống, y áo, hoan hỷ sống an tịnh". Này Đại vương, Đại vương có
nói: "Người hăy đến lại với ta, hăy làm lại người nông phu, gia
chủ, nạp thuế má, làm giàu công khố"? |
|
187. Nohetaṃ
bhante, atha kho naṃ mayameva abhivādeyyāmapi paccuṭṭheyyāmapi
āsanenapi nimanteyyāma abhinimanteyyāmapi naṃ
cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārehi,
dhammikampissa rakkhāvaraṇāguttiṃ saṃvidaheyyāmāti.
|
38. - Bạch Thế Tôn, không như
vậy. Trái lại chúng con kính nể người ấy, đứng dậy trước người
ấy, mời người ấy ngồi xuống ghế, cúng dường người ấy các dụng cụ
như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, thuốc men trị bịnh. Và chúng
con sẽ ra lệnh để bảo vệ, che chở người ấy đúng theo luật pháp.
|
|
188. Taṃ kiṃ maññasi mahārāja. Yadi evaṃ sante hoti vā
sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ no vāti.
Addhā kho bhante evaṃ sante hoti sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalanti.
Idaṃ kho te mahārāja mayā dutiyaṃ diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṃ
sāmaññaphalaṃ paññattanti.
|
- Này Đại vương, Đại vương nghĩ
thế nào? Nếu quả như vậy thời đó có phải là kết quả thiết thực
hiện tại của hạnh Sa-môn chăng?
- Bạch Thế Tôn, như vậy chính là
kết quả thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn.
- Này Đại vương, đó là kết quả
thiết thực hiện tại của hạnh Sa-môn, mà Ta tŕnh bày.
|
|
Paṇītatarasāmaññaphala
189. Sakkā
pana bhante aññampi diṭṭheva dhamme sandiṭṭhikaṃ sāmaññaphalaṃ
paññapetuṃ imehi sandiṭṭhikehi sāmaññaphalehi abhikkantatarañca
paṇītatarañcāti.
|
39. Bạch Thế Tôn, có thể cho biết
một kết quả thiết thực hiện tại khác nữa của hạnh Sa-môn, vi
diệu hơn, thù thắng hơn những kết quả thiết thực hiện tại của
hạnh Sa-môn vừa kể trên? |
|
Sakkā mahārāja, tena hi mahārāja suṇohi sādhukaṃ manasi karohi
bhāsissāmīti.
“Evaṃ bhante”ti kho rājā Māgadho Ajātasattu Vedehiputto
Bhagavato paccassosi.
|
- Này Đại vương có thể được. Này
Đại vương, hăy lóng tai nghe và khéo tác ư, Ta sẽ giảng.
- Vâng, Thế Tôn. Vua Ajàtasattu
con bà Videhi vua xứ Magadha trả lời Thế Tôn. Thế Tôn nói:
|
|
190. Bhagavā etadavoca, idha mahārāja Tathāgato loke uppajjati
Arahaṃ Sammāsambuddho Vijjācaraṇasampanno Sugato Lokavidū
Anuttaro purisadammasārathi Satthā devamanussānaṃ Buddho
Bhagavā, so imaṃ lokaṃ sadevakaṃ samārakaṃ sabrahmakaṃ
sassamaṇabrāhmaṇiṃ pajaṃ sadevamanussaṃ sayaṃ abhiññā
sacchikatvā pavedeti, so dhammaṃ deseti ādikalyāṇaṃ
majjhekalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ sātthaṃ sabyañjanaṃ
kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāseti.
|
40. - Này Đại vương, nay ở đời,
Như Lai xuất hiện là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự
chứng ngộ với thượng trí thế giới này với thiên giới, ma giới,
phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn,
Thiên Nhơn, lại tuyên thuyết điều Ngài đă chứng ngộ. Ngài thuyết
pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện đầy đủ văn nghĩa, Ngài
truyền dạy phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
|
|
191. Taṃ dhammaṃ suṇāti gahapati vā gahapatiputto vā
aññatarasmiṃ vā kule paccājāto, so taṃ dhammaṃ sutvā tathāgate
saddhaṃ paṭilabhati, so tena saddhāpaṭilābhena samannāgato iti
paṭisañcikkhati ‘Sambādho gharāvāso rajopatho, abbhokāso
pabbajjā, nayidaṃ sukaraṃ agāraṃ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṃ
ekantaparisuddhaṃ saṅkhalikhitaṃ brahmacariyaṃ carituṃ,
yaṃnūnāhaṃ kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā
agārasmā anagāriyaṃ pabbajeyyan’ti.
|
41. Người gia trưởng, hay con vị
gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe
pháp ấy. Sau khi nghe pháp, người ấy sanh ḷng tín ngưỡng Như
Lai. Khi có ḷng tín ngưỡng ấy, vị này suy nghĩ: "Đời sống gia
đ́nh đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Đời
sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một
người sống ở gia đ́nh có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy
đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo
bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đ́nh".
|
|
192. So aparena samayena appaṃ vā bhogakkhandhaṃ pahāya mahantaṃ
vā bhogakkhandhaṃ pahāya appaṃ vā ñātiparivaṭṭaṃ pahāya mahantaṃ
vā ñātiparivaṭṭaṃ pahāya kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vatthāni
acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ pabbajati.
|
Một thời gian sau, người ấy bỏ
tài sản nhỏ hay tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bà
con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, và xuất gia
từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh.
|
|
193. So evaṃ pabbajito samāno pātimokkhasaṃvarasaṃvuto viharati
ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya
sikkhati sikkhāpadesu, kāyakammavacīkammena samannāgato
kusalena, parisuddhājīvo sīlasampanno, indriyesu guttadvāro (Guttadvāro,
bhojane mattaññū - Ka)
satisampajaññena samannāgato santuṭṭho.
|
42. Khi đă xuất gia như vậy, vị
ấy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ
oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt,
thọ tŕ và học tập trong giới học, thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh
tịnh. Sanh hoạt trong sạch giới hạnh cụ túc, thủ hộ các căn,
chánh niệm tỉnh giác, và biết tri túc.
|
|
Cūḷasīla
194. Kathañca
mahārāja bhikkhu sīlasampanno hoti. Idha mahārāja bhikkhu
pāṇātipātaṃ pahāya pāṇātipātā paṭivirato hoti nihitadaṇḍo
nihitasattho lajjī dayāpanno, sabbapāṇabhūtahitānukampī
viharati. Idampissa hoti sīlasmiṃ.
|
43. Đại Vương! Thế nào là Tỷ-kheo
giới hạnh cụ túc? Ở đây, này Đại Vương, Tỷ-kheo từ bỏ sát sanh,
tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quư, có ḷng từ,
sống thương xót đến tất cả hạnh phúc của chúng sanh và loài hữu
t́nh. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
|
|
Adinnādānaṃ pahāya adinnādānā paṭivirato hoti dinnādāyī
dinnapāṭikaṅkhī, athenena sucibhūtena attanā viharati. Idampissa
hoti sīlasmiṃ.
|
Vị ấy từ bỏ lấy của không cho,
tránh xa lấy của không cho, chỉ lấy những vật đă cho, chỉ mong
những vật đă cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp, như
vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
|
|
Abrahmacariyaṃ pahāya brahmacārī hoti ārācārī virato methunā
gāmadhammā. Idampissa hoti sīlasmiṃ.
|
|
|
Musāvādaṃ pahāya musāvādā paṭivirato hoti saccavādī saccasandho
theto paccayiko avisaṃvādako lokassa. Idampissa hoti sīlasmiṃ.
|
44. Tỷ-kheo từ bỏ nói láo, tránh
xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc
chắn, đáng tin cậy, không lường gạt, không phản lại lời hứa đối
với đời. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
|
|
Pisuṇaṃ vācaṃ pahāya pisuṇāya vācāya paṭivirato hoti, ito sutvā
na amutra akkhātā imesaṃ bhedāya, amutra vā sutvā na imesaṃ
akkhātā amūsaṃ bhedāya, iti bhinnānaṃ vā sandhātā, sahitānaṃ vā
anuppadātā, samaggārāmo samaggarato samagganandī samaggakaraṇiṃ
vācaṃ bhāsitā hoti. Idampissa hoti sīlasmiṃ.
|
Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh
xa nói hai lưỡi, nghe điều ǵ ở chỗ này, không đến chỗ kia nói
để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều ǵ ở chỗ kia, không
đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia.
Như vậy Tỷ-kheo ấy sống ḥa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích
những kẻ ḥa hợp, hoan hỷ trong ḥa hợp, thoải mái trong ḥa
hợp, hân hoan trong ḥa hợp, nói những lời đưa đến ḥa hợp. Như
vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
|
|
Pharusaṃ
vācaṃ pahāya pharusāya vācāya paṭivirato hoti, yā sā vācā nelā
kaṇṇasukhā pemanīyā hadayaṅgamā porī bahujanakantā
bahujanamanāpā, tathārūpiṃ vācaṃ bhāsitā hoti. Idampissa hoti
sīlasmiṃ. |
Vị ấy từ bỏ lời nói độc ác, tránh
xa lời nói độc ác. Vị ấy nói những lời nói không lỗi lầm, đẹp
tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhă, đẹp ḷng nhiều
người. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
|
|
Samphappalāpaṃ pahāya samphappalāpā paṭivirato hoti kālavādī
bhūtavādī atthavādī dhammavādī vinayavādī, nidhānavatiṃ vācaṃ
bhāsitā hoti kālena sāpadesaṃ pariyantavatiṃ atthasañhitaṃ.
Idampissa hoti sīlasmiṃ. |
Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm,
tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân
thật, nói những lời có ư nghĩa, nói những lời về chánh pháp, nói
những lời về luật, nói những lời đáng được ǵn giữ, những lời
hợp thời, thuận lư, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi. Như vậy là
giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
|
|
Bījagāmabhūtagāmasamārambhā paṭivirato hoti ‑pa‑. Ekabhattiko
hoti rattūparato virato vikālabhojanā.
Naccagītavāditavisūkadassanā paṭivirato hoti.
Mālāgandhavilepanadhāraṇamaṇḍanavibhūsanaṭṭhānā paṭivirato hoti.
Uccāsayanamahāsayanā paṭivirato hoti. Jātarūparajatapaṭiggahaṇā
paṭivirato hoti.
Āmakadhaññapaṭiggahaṇā
paṭivirato hoti. Āmakamaṃsapaṭiggahaṇā
paṭivirato hoti. Itthikumārikapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti.
Dāsidāsapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti. Ajeḷakapaṭiggahaṇā
paṭivirato hoti. Kukkuṭasūkarapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti.
Hatthigavassavaḷavapaṭiggahaṇā paṭivirato hoti.
Khettavatthupaṭiggahaṇā paṭivirato hoti.
Dūteyyapahiṇagamanānuyogā paṭivirato hoti. Kayavikkayā
paṭivirato hoti. Tulākūṭakaṃsakūṭamānakūṭā paṭivirato hoti.
Ukkoṭanavañcananikatisāciyogā paṭivirato hoti.
Chedanavadhabandhanaviparāmosa-ālopasahasākārā paṭivirato hoti.
Idampissa hoti sīlasmiṃ.
Cūḷasīlaṃ
niṭṭhitaṃ.
|
45. Vị ấy từ bỏ làm hại đến các
hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn
ban đêm. Từ bỏ ăn phi thời. Từ bỏ đi xem múa, hát nhạc, diễn
kịch. Từ bỏ trang sức bằng ṿng hoa, hương liệu, dầu thoa và các
thời trang. Từ bỏ dùng giường cao và giường lớn. Từ bỏ nhận vàng
và bạc. Từ bỏ nhận các hạt sống. Từ bỏ nhận thịt sống. Từ bỏ
nhận đàn bà con gái. Từ bỏ nhận nô tỳ gái và trai. Từ bỏ nhận
cừu và dê. Từ bỏ nhận gia cầm và heo. Từ bỏ nhận voi, ḅ, ngựa
và ngựa cái. Từ bỏ nhận ruộng nương, đất đai. Từ bỏ nhận người
môi giới hoặc tự ḿnh làm môi giới. Từ bỏ buôn bán. Từ bỏ các sự
gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường. Từ bỏ các tà hạnh như
hối lộ, gian trá, lừa đảo. Từ bỏ làm thương tổn, sát hại câu
thúc, bứt đoạt, trộm cắp, cướp phá. Như vậy là giới hạnh của vị
ấy trong giới luật. (c̣n tiếp) |
|
<Bài Kinh Trước> |
<Trang Kế> |
|