|
05.
KŪṬADANTASUTTAṂ
|
|
05. KŪṬADANTASUTTAṂ - Tạng
Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ |
05. KINH
CỨU-LA-ĐÀN ĐẦU - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas, phiên bản 7.07 |
|
Khāṇumatakabrāhmaṇagahapatikā
323. Evaṃ me
sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Magadhesu cārikaṃ caramāno mahatā
bhikkhusaṃghena saddhiṃ pañcamattehi bhikkhusatehi yena
Khāṇumataṃ nāma Magadhānaṃ brāhmaṇagāmo tadavasari. Tatra sudaṃ
Bhagavā Khāṇumate viharati Ambalaṭṭhikāyaṃ. Tena kho pana
samayena Kūṭadanto brāhmaṇo Khāṇumataṃ ajjhāvasati sattussadaṃ
satiṇakaṭṭhodakaṃ sadhaññaṃ rājabhoggaṃ raññā Māgadhena seniyena
Bimbisārena dinnaṃ rājadāyaṃ brahmadeyyaṃ. Tena kho pana
samayena Kūṭadantassa brāhmaṇassa mahāyañño upakkhaṭo hoti,
satta ca usabhasatāni satta ca vacchatarasatāni satta ca
vacchatarīsatāni satta ca ajasatāni satta ca urabbhasatāni
thūṇūpanītāni honti yaññatthāya.
|
1. Như vầy
tôi nghe. Một thời đức Thế Tôn đang du hành trong xứ Magadha
(Ma-kiệt-đà) cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị và
đến tại một làng Bà-la-môn ở Magadha tên là Khànumata
(Khứ--nậu-bà-đế). Và tại đây, đức Thế Tôn trú tại vườn
Ambalatthikà ở Khànumata. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kùtadanta ở tại
Khànumata, một chỗ dân cư đông đúc, cây cỏ, ao nước, lúa gạo ph́
nhiêu, một vương địa do vua Bimbisàra (Tần-bà-ta-la) vua nước
Magadha cấp, một ân tứ của vua, một tịnh ấp. Lúc bấy giờ, một
đàn tế lớn đang được thiết lập cho Bà-la-môn Kùtadanta, bảy trăm
con trâu đực, bảy trăm con nghé đực lớn, và bảy trăm con nghé
cái lớn, bảy trăm con dê và bảy trăm con cừu đă được dắt đến trụ
tế lễ, cho đàn tế.
|
|
324. Assosuṃ kho
Khāṇumatakā brāhmaṇagahapatikā “Samaṇo khalu bho Gotamo
Sakyaputto Sakyakulā pabbajito Magadhesu cārikaṃ caramāno mahatā
bhikkhusaṃghena saddhiṃ pañcamattehi bhikkhusatehi Khāṇumataṃ
anuppatto Khāṇumate viharati Ambalaṭṭhikāyaṃ. Taṃ kho pana
Bhavantaṃ Gotamaṃ evaṃ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato ‘Itipi so
Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho Vijjācaraṇasampanno Sugato
Lokavidū Anuttaro purisadammasārathi Satthā devamanussānaṃ
Buddho Bhagavā’ti, so imaṃ lokaṃ sadevakaṃ samārakaṃ sabrahmakaṃ
sassamaṇabrāhmaṇiṃ pajaṃ sadevamanussaṃ sayaṃ abhiññā
sacchikatvā pavedeti, so dhammaṃ deseti ādikalyāṇaṃ
majjhekalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ sātthaṃ sabyañjanaṃ
kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāseti, sādhu kho
pana tathārūpānaṃ Arahataṃ dassanaṃ hotī”ti.
|
2. Bà-la-môn và gia chủ ở
Khànumata được nghe: "Sa-môn Gotama, ḍng họ Thích-ca, xuất gia
từ gia tộc Thích-ca, đang du hành trong nước Magadha với đại
chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, đă đến tại Khànumata và trú
tại vườn Ambalatthikà ở Khànumata. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây
được truyền đi về Thế Tôn Gotama: "Đây là đức Thế Tôn, bậc
A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian
Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư,... Khi
đă chứng ngộ, Ngài c̣n tuyên bố sự chứng ngộ ấy cho người khác.
Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ
túc, và giới thiệu đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong
sạch. Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy".
|
|
325. Atha kho
Khāṇumatakā brāhmaṇagahapatikā Khāṇumatā nikkhamitvā
saṅghasaṅghī gaṇībhūtā yena Ambalaṭṭhikā tenupasaṅkamanti.
326. Tena kho
pana samayena Kūṭadanto brāhmaṇo uparipāsāde divāseyyaṃ upagato
hoti. Addasā kho Kūṭadanto brāhmaṇo Khāṇumatake
brāhmaṇagahapatike Khāṇumatā nikkhamitvā saṅghasaṅghī gaṇībhūte
yena Ambalaṭṭhikā tenupasaṅkamante, disvā khattaṃ āmantesi
“Kiṃ
nu kho bho khatte Khāṇumatatā brāhmaṇagahapatikā Khāṇumatā
nikkhamitvā saṅghasaṅghī gaṇībhūtā yena Ambalaṭṭhikā
tenupasaṅkamantī”ti.
|
Rồi các Bà-la-môn và gia chủ ở
Khànumata, từng đoàn, từng đoàn, lũ lượt đi ra khỏi Khànumata và
đến tại Ambalatthikà.
3. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn
Kùtadanta đi lên trên lầu để nghỉ trưa. Bà-la-môn Kùtadanta thấy
các Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata từng đoàn, từng đoàn, lũ
lượt đi ra khỏi Khànumata và đến tại Ambalatthikà. Thấy vậy
(Bà-la-môn Kùtadanta) liền gọi người gác cửa:
- Này người gác cửa, v́ sao các
Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata, từng đoàn, từng đoàn, lũ lượt
đi ra khỏi Khànumata và đến tại Ambalatthikà?
|
|
327. Atthi kho
bho samaṇo Gotamo Sakyaputto Sakyakulā pabbajito Magadhesu
cārikaṃ caramāno mahatā bhikkhusaṃghena saddhiṃ pañcamattehi
bhikkhusatehi Khāṇumataṃ anuppatto Khāṇumate viharati
Ambalaṭṭhikāyaṃ. Taṃ kho pana bhavantaṃ Gotamaṃ evaṃ kalyāṇo
kittisaddo abbhuggato “Itipi so Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho
Vijjācaraṇasampanno Sugato Lokavidū Anuttaro purisadammasārathi
Satthā devamanussānaṃ Buddho Bhagavā”ti. Tamete bhavantaṃ
Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamantīti.
|
- Tôn giả, có Sa-môn Gotama,
ḍng họ Thích-ca, xuất gia từ gia tộc Thích-ca, đang du hành
trong nước Magadha với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, đến
tại Khànumata, và tại đấy trú ở Ambalatthikà. Tiếng đồn tốt đẹp
sau đây được truyền đi về Thế Tôn Gotama: "Đây là đức Thế Tôn,
bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư,
Phật, Thế Tôn". Nay những người ấy đi đến yết kiến Tôn giả
Gotama.
|
|
328. Atha kho
Kūṭadantassa brāhmaṇassa etadahosi “Sutaṃ kho pana metaṃ ‘Samaṇo
Gotamo tividhaṃ yaññasampadaṃ soḷasaparikkhāraṃ jānātī’ti. Na
kho panāhaṃ jānāmi tividhaṃ yaññasampadaṃ soḷasaparikkhāraṃ,
icchāmi cāhaṃ mahāyaññaṃ yajituṃ, yaṃnūnāhaṃ samaṇaṃ Gotamaṃ
upasaṅkamitvā tividhaṃ yaññasampadaṃ soḷasaparikkhāraṃ
puccheyyan”ti.
|
4. Bà-la-môn Kùtadanta liền suy
nghĩ như sau: "Ta nghe nói: "Sa-môn Gotama am hiểu ba cách thức
tế tự và mười sáu tế pháp". Ta không biết ba cách thức tế tự và
mười sáu tế pháp, và ta muốn cử hành lễ đại tế. Vậy ta hăy đến
hỏi Sa-môn Gotama ba cách thức tế tự và mười sáu tế pháp".
|
|
329. Atha kho
Kūṭadanto brāhmaṇo khattaṃ āmantesi
“Tena hi bho khatte yena
Khāṇumatakā brāhmaṇagahapatikā tenupasaṅkama, upasaṅkamitvā
Khāṇumatake brāhmaṇagahapatike evaṃ vadehi Kūṭadanto bho
brāhmaṇo evamāha āgamentu kira bhavanto, Kūṭadantopi brāhmaṇo
samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamissatī”ti.
“Evaṃ bho”ti kho
so khattā Kūṭadantassa brāhmaṇassa paṭissutvā yena Khāṇumatakā
brāhmaṇagahapatikā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā Khāṇumatake
brāhmaṇagahapatike etadavoca “Kūṭadanto bho brāhmaṇo evamāha
āgamentu kira bhonto, Kūṭadantopi brāhmaṇo samaṇaṃ Gotamaṃ
dassanāya upasaṅkamissatī”ti.
|
Rồi Bà-la-môn Kùtadanta gọi
người giữ cửa kia:
- Này người giữ cửa, hăy đi đến
các Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata, khi đến nơi, hăy nói với
những Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata như sau: "Bà-la-môn
Kùtadanta có nói: "Này các Hiền giả, hăy chờ đợi, Bà-la-môn
Kùtadanta sẽ thân hành đến yết kiến Sa-môn Gotama".
- Dạ vâng. Người gác cửa ấy vâng theo lời
bảo của Bà-la-môn Kùtadanta, đi đến các Bà-la-môn và gia chủ ở
Khànumata, khi đến xong liền nói với Bà-la-môn và gia chủ ở
Khànumata: "Bà-la-môn Kùtadanta có nói như vầy: "Này các Hiền
giả, hăy chờ đợi Bà-la-môn Kùtadanta sẽ tự thân hành đến yết
kiến Sa-môn Gotama". |
|
Kūṭadantaguṇakathā
330. Tena kho
pana samayena anekāni brāhmaṇasatāni Khāṇumate paṭivasanti
“Kūṭadantassa brāhmaṇassa mahāyaññaṃ anubhavissāmā”ti. Assosuṃ
kho te brāhmaṇā “Kūṭadanto kira brāhmaṇo samaṇaṃ Gotamaṃ
dassanāya upasaṅkamissatī”ti. Atha kho te brāhmaṇā yena
Kūṭadanto brāhmaṇo tenupasaṅkamiṃsu.
331.
Upasaṅkamitvā Kūṭadantaṃ brāhmaṇaṃ etadavocuṃ
“Saccaṃ kira
bhavaṃ Kūṭadanto samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamissatī”ti.
Evaṃ kho me bho hoti “Ahampi samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya
upasaṅkamissāmī”ti.
|
5. Lúc bấy giờ có khoảng vài
trăm Bà-la-môn ở Khànumata với ư định: "Chúng tôi sẽ dự lễ Đại
tế đàn của Bà-la-môn Kùtadanta". Khi các vị Bà-la-môn này nghe:
"Bà-la-môn Kùtadanta sẽ đến yết kiến Sa-môn Gotama", những
Bà-la-môn này đến Bà-la-môn Kùtadanta,
khi đến nơi liền nói với
Bà-la-môn Kùtadanta:
- Có phải Tôn giả Kùtadanta sẽ
đến yết kiến Sa-môn Gotama?
- Này các Hiền Giả, đó là ư định
của ta, ta sẽ đến yết kiến Sa-môn Gotama.
|
|
Mā bhavaṃ Kūṭadanto samaṇaṃ Gotamaṃ
dassanāya upasaṅkami, na arahati bhavaṃ Kūṭadanto samaṇaṃ
Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ. Sace bhavaṃ Kūṭadanto samaṇaṃ
Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamissati, bhoto Kūṭadantassa yaso
hāyissati, samaṇassa Gotamassa yaso abhivaḍḍhissati. Yampi bhoto
Kūṭadantassa yaso hāyissati, samaṇassa Gotamassa yaso
abhivaḍḍhissati, imināpaṅgena na arahati bhavaṃ Kūṭadanto
samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ, samaṇotveva Gotamo
arahati bhavantaṃ Kūṭadantaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ.
|
6. - Tôn giả Kùtadanta chớ có
đến yết kiến Sa-môn Gotama. Thật không xứng đáng cho Tôn giả
Kùtadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama. Nếu Tôn giả Kùtadanta đến
yết kiến Sa-môn Gotama, th́ danh tiếng của Tôn giả Kùtadanta bị
hao tổn, danh tiếng của Sa-môn Gotama được tăng trưởng. V́ danh
tiếng của Tôn giả Kùtadanta bị hao tổn và danh tiếng của Sa-môn
Gotama được tăng trưởng, do điểm này thật không xứng đáng cho
Tôn giả Kùtadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama. Trái lại thật xứng
đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến Tôn giả Kùtadanta.
|
|
Bhavaṃ hi
Kūṭadanto ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṃsuddhagahaṇiko
yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena.
Yampi bhavaṃ Kūṭadanto ubhato sujāto mātito ca pitito ca
saṃsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto
anupakkuṭṭho jātivādena, imināpaṅgena na arahati bhavaṃ
Kūṭadanto samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ, samaṇotveva
Gotamo arahati bhavantaṃ Kūṭadantaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ.
|
- Lại Tôn giả Kùtadanta thiện
sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy
đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào
về vấn đề huyết thống thọ sanh. V́ Tôn giả Kùtadanta thiện sanh
cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời
tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về
vấn đề huyết thống thọ sinh; do điểm này, thật không xứng đáng
cho Tôn giả Kùtadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama, trái lại thật
xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến Tôn giả Kùtadanta.
|
|
Bhavaṃ hi
Kūṭadanto aḍḍho mahaddhano mahābhogo pahūtavittūpakaraṇo
pahūtajātarūparajato ‑pa‑.
|
Lại Tôn giả Kùtadanta là nhà
giàu có, đại phú, sung túc...
|
|
Bhavaṃ hi
Kūṭadanto ajjhāyako mantadharo tiṇṇaṃ vedānaṃ pāragū
sanighaṇḍukeṭubhānaṃ sākkharappabhedānaṃ itihāsapañcamānaṃ
padako veyyākaraṇo lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo ‑pa‑.
|
Lại Tôn giả Kùtadanta là nhà
phúng tụng, là nhà tŕ chú, thông hiểu ba tập Vedà với danh
nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và lịch sử truyền thống là
thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biệt tài về Thuận thế
(tự nhiên học) và tướng của vị đại nhân.
|
|
Bhavaṃ hi
Kūṭadanto abhirūpo dassanīyo pāsādiko paramāya vaṇṇapokkharatāya
samannāgato brahmavaṇṇī brahmavacchasī akhuddāvakāso dassanāya
‑pa‑.
|
Lại Tôn giả Kùtadanta đẹp trai,
khả ái, làm đẹp ḷng mọi người, với màu da thù thắng, khôi ngô,
tuấn tú, cử chỉ trang nhă, dáng điệu cao thượng.
|
|
Bhavaṃ hi
Kūṭadanto sīlavā vuddhasīlī vuddhasīlena samannāgato ‑pa‑.
|
Lại Tôn giả Kùtadanta có đức
hạnh, đức độ cao dày, đầy đủ giới hạnh cao dày.
|
|
Bhavaṃ hi
Kūṭadanto kalyāṇavāco kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato
vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā ‑pa‑.
|
Lại Tôn giả Kùtadanta thiện
ngôn, dùng lời thiện ngôn, nói lời tao nhă, ư nghĩa minh bạch,
giọng nói không bập bẹ phều phào, giải thích nghĩa lư minh xác.
|
|
Bhavaṃ hi
Kūṭadanto bahūnaṃ ācariyapācariyo tīṇi māṇavakasatāni mante
vāceti, bahū kho pana nānādisā nānājanapadā māṇavakā āgacchanti
bhoto Kūṭadantassa santike mantatthikā mante adhiyitukāmā ‑pa‑.
|
Lại Tôn giả Kùtadanta là bậc tôn
sư trong các hàng tôn sư của nhiều người, dạy ba trăm thanh niên
Bà-la-môn tụng đọc chú thuật, thanh niên Bà-la-môn từ nhiều
phương, từ nhiều nước, thiết tha với chú thuật, đến với Tôn giả
Kùtadanta để học thuộc ḷng các chú thuật.
|
|
Bhavaṃ hi
Kūṭadanto jiṇṇo vuddho mahallako addhagato vayo-anuppatto,
samaṇo Gotamo taruṇo ceva taruṇapabbajito ca ‑pa‑.
|
Tôn giả Kùtadanta niên cao lạp
lớn, bậc lăo thành, đến tuổi trưởng thượng, c̣n Sa-môn Gotama
th́ trẻ tuổi, xuất gia chưa được nhiều năm.
|
|
Bhavaṃ hi
Kūṭadanto rañño Māgadhassa seniyassa Bimbisārassa sakkato
garukato mānito pūjito apacito ‑pa‑.
|
Tôn giả Kùtadanta được vua
Seniya Bimbisàra (Tần bà ta la) xứ Mangadha (Ma kiệt đà) kính
trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.
|
|
Bhavaṃ hi
Kūṭadanto brāhmaṇassa Pokkharasātissa sakkato garukato mānito
pūjito apacito ‑pa‑.
|
Tôn giả Kùtadanta được Bà-la-môn
Pokkhatasàdi kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng
vọng.
|
|
Bhavaṃ hi
Kūṭadanto Khāṇumataṃ ajjhāvasati sattussadaṃ satiṇakaṭṭhodakaṃ
sadhaññaṃ rājabhoggaṃ raññā Māgadhena seniyena Bimbisārena
dinnaṃ rājadāyaṃ brahmadeyyaṃ. Yampi bhavaṃ Kūṭadanto Khāṇumataṃ
ajjhāvasati sattussadaṃ satiṇakaṭṭhodakaṃ sadhaññaṃ rājabhoggaṃ
raññā Māgadhena seniyena Bimbisārena dinnaṃ rājadāyaṃ
brahmadeyyaṃ, imināpaṅgena na arahati bhavaṃ Kūṭadanto samaṇaṃ
Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ, samaṇotveva Gotamo arahati
Bhavantaṃ Kūṭadantaṃ dassanāya upasaṅkamitunti.
|
Tôn giả Kùtadanta sống ở
Khànumata, một địa phương dân chúng đông đúc, cỏ cây, ao nước
ph́ nhiêu, lúa gạo sung túc, một vương lănh địa, một tịnh thí
địa, một ân tứ của vua Seniya Bimbisàra xứ Magadha. V́ Tôn giả
Kùtadanta sống ở Khànumata, một địa phương dân chúng đông đúc,
cỏ cây, ao nước ph́ nhiêu, lúa gạo sung túc, một vương lănh địa,
một tịnh thí địa, một ân tứ của vua Seniya Bimbisàra xứ Magadha,
do điểm này thật không xứng đáng cho Tôn giả Kùtadanta đến yết
kiến Sa-môn Gotama, trái lại thật xứng đáng cho Sa-môn Gotama
đến yết kiến Tôn giả Kùtadanta.
|
|
Buddhaguṇakathā
|
7. Nghe nói vậy, Bà-la-môn
Kùtadanta nói với những vị Bà-la-môn ấy:
|
|
|
- Các Hiền giả, hăy nghe ta giải
thích v́ sao thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa-môn
Gotama, trái lại thật không xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết
kiến chúng ta. Này các Hiền giả, thật vậy Sa-môn Gotama thiện
sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy
đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào
về vấn đề huyết thống thọ sanh. Này các Hiền giả, v́ Sa-môn
Gotama thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh
cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một
dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. V́ điểm này, thật
không xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến chúng ta, trái
lại thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa-môn Gotama.
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo mahantaṃ ñātisaṃghaṃ ohāya pabbajito ‑pa‑.
|
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo pahūtaṃ hiraññasuvaṇṇaṃ ohāya pabbajito bhūmigatañca
vehāsaṭṭhañca ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, Sa-môn Gotama
xuất gia từ bỏ rất nhiều vàng bạc cả loại đang chôn dưới đất lẫn
loại trên mặt đất.
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo daharova samāno yuvā susukāḷakeso bhadrena yobbanena
samannāgato paṭhamena vayasā agārasmā anagāriyaṃ pabbajito ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, Sa-môn Gotama
trong tuổi thanh niên tóc c̣n đen nhánh, trong tuổi trẻ đẹp của
thời niên thiếu, đă xuất gia từ bỏ gia đ́nh sống không gia đ́nh.
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo akāmakānaṃ mātāpitūnaṃ assumukhānaṃ rudantānaṃ kesamassuṃ
ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ
pabbajito ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy,
Sa-môn Gotama, dầu song thân không đồng ư, khóc than nước mắt
thấm ướt cả mặt, vẫn cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, xuất gia từ
bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh.
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo abhirūpo dassanīyo pāsādiko paramāya vaṇṇapokkharatāya
samannāgato brahmavaṇṇī brahmavacchasī akhuddāvakāso dassanāya
‑pa‑. |
Này các Hiền giả, thật vậy,
Sa-môn Gotama đẹp trai, khả ái, làm đẹp ḷng mọi người, với màu
da thù thắng, khôi ngô tuấn tú, cử chỉ trang nhă, dáng điệu cao
thượng.
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo sīlavā ariyasīlī kusalasīlī kusalasīlena samannāgato
‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy,
Sa-môn Gotama có đức hạnh, ǵn giữ giới của bậc thánh, có thiện
đức, dạy đủ thiện đức.
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo kalyāṇavāco kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato
vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy,
Sa-môn Gotama thiện ngôn, dùng lời thiện ngôn, nói lời tao nhă,
ư nghĩa minh bạch, giọng nói không bập bẹ phều phào, giải thích
nghĩa lư minh xác.
|
|
Samaṇo khalu bho Gotamo bahūnaṃ ācariyapācariyo ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy,
Sa-môn Gotama là bậc tôn sư các hàng tôn sư của nhiều người.
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo khīṇakāmarāgo vigatacāpallo ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy,
Sa-môn Gotama đă diệt trừ tham dục, đă dứt bỏ mọi xao động của
tâm.
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo kammavādī kiriyavādī apāpapurekkhāro brahmaññāya pajāya
‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy,
Sa-môn Gotama chủ trương về nghiệp, chủ trương về hành động, đặt
trọng tâm vào chí thiện khi thuyết pháp với chúng Bà-la-môn.
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo uccā kulā pabbajito asambhinnakhattiyakulā ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy,
Sa-môn Gotama xuất gia từ chủng tộc cao quư, từ ḍng họ
Sát-đế-lỵ thanh tịnh.
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo aḍḍhā kulā pabbajito mahaddhanā mahābhogā ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy,
Sa-môn Gotama xuất gia từ chủng tộc khá giả, đại phú, tài sản
sung măn.
|
|
Samaṇaṃ khalu bho
Gotamaṃ tiroraṭṭhā tirojanapadā pañhaṃ pucchituṃ āgacchanti
‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy, dân
chúng băng ngàn vượt biển (băng qua nhiều địa phương, băng qua
nhiều quốc độ) đến hỏi đạo Sa-môn Gotama.
|
|
Samaṇaṃ khalu bho
Gotamaṃ anekāni devatāsahassāni pāṇehi saraṇaṃ gatāni ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy, có
hàng ngàn thiên nhân đến quy y Sa-môn Gotama.
|
|
Samaṇaṃ khalu bho
Gotamaṃ evaṃ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato ‘Itipi so Bhagavā
Arahaṃ Sammāsambuddho Vijjācaraṇasampanno Sugato Lokavidū
Anuttaro purisadammasārathi Satthā devamanussānaṃ Buddho
Bhagavā’ti ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy,
tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền bá đi về Sa-môn Gotama:
"Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn".
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇehi samannāgato ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy,
Sa-môn Gotama có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân.
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo ehisvāgatavādī sakhilo sammodako abbhākuṭiko uttānamukho
pubbabhāsī ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy,
Sa-môn Gotama nói lời chào đón, thân thiện, tao nhă, trang
trọng, chân thực, thẳng thắn, lời nói có dẫn chứng.
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo catunnaṃ parisānaṃ sakkato garukato mānito pūjito apacito
‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy,
Sa-môn Gotama được bốn chúng kính trọng tôn sùng, chiêm ngưỡng,
kính lễ trọng vọng.
|
|
Samaṇe khalu bho
Gotame bahū devā ca manussā ca abhippasannā ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, rất nhiều
thiên nhân tín ngưỡng Sa-môn Gotama.
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo yasmiṃ gāme vā nigame vā paṭivasati, na tasmiṃ gāme vā
nigame vā amanussā manusse viheṭhenti ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy ở tại
làng nào, thôn ấp nào, Sa-môn Gotama cư trú, tại làng ấy, tại
thôn ấp ấy, các loài phi nhân không làm hại loài người.
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo saṅghī gaṇī gaṇācariyo puthutitthakarānaṃ aggamakkhāyati,
yathā kho pana bho etesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ yathā vā tathā vā
yaso samudāgacchati, na hevaṃ samaṇassa Gotamassa yaso
samudāgato, atha kho anuttarāya vijjācaraṇasampadāya samaṇassa
Gotamassa yaso samudāgato ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy,
Sa-môn Gotama là giáo hội chủ, giáo phái chủ, giáo phái sư, được
tôn là tối thượng trong các giáo tổ.
Này các Hiền giả, danh tiếng của
một số Sa-môn, Bà-la-môn dựa trên những bằng chứng không đâu,
danh tiếng của Sa-môn Gotama dựa trên trí đức vô thượng của
Ngài.
|
|
Samaṇaṃ khalu bho
Gotamaṃ rājā Māgadho seniyo Bimbisāro saputto sabhariyo sapariso
sāmacco pāṇehi saraṇaṃ gato ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy, vua
Seniya Bimbisàra nước Magadha, cùng với vương tử, cung phi, thị
tùng, đại thần đều quy y Sa-môn Gotama.
|
|
Samaṇaṃ khalu bho
Gotamaṃ rājā Pasenadi Kosalo saputto sabhariyo sapariso sāmacco
pāṇehi saraṇaṃ gato ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy, vua
Pasenadi nước Kosala cùng với vương tử, cung phi, thị tùng, cận
thần đều quy y Sa-môn Gotama.
|
|
Samaṇaṃ khalu bho
Gotamaṃ brāhmaṇo Pokkharasāti saputto sabhariyo sapariso sāmacco
pāṇehi saraṇaṃ gato ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy,
Bà-la-môn Pokkharasàdi cùng với vương tử, cung phi, thị tùng,
cận thần đều quy y Sa-môn Gotama.
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo rañño Māgadhassa seniyassa Bimbisārassa sakkato garukato
mānito pūjito apacito ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy,
Sa-môn Gotama được vua Seniya Bimbisàra nước Magadha kính trọng,
tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo rañño Pasenadissa Kosalassa sakkato garukato mānito
pūjito apacito ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy,
Sa-môn Gotama được vua Pasenadi nước Kosala kính trọng, tôn
sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo brāhmaṇassa Pokkharasātissa sakkato garukato mānito
pūjito apacito ‑pa‑.
|
Này các Hiền giả, thật vậy,
Sa-môn Gotama được Bà-la-môn Pokkharasàdi kính trọng, tôn sùng,
chiêm ngưỡng, kính lễ trọng vọng.
|
|
Samaṇo khalu bho
Gotamo Khāṇumataṃ anuppatto Khāṇumate viharati Ambalaṭṭhikāyaṃ,
ye kho pana bho keci samaṇā vā brāhmaṇā vā amhākaṃ gāmakhettaṃ
āgacchanti, atithī no te honti, atithī kho panamhehi sakkātabbā
garukātabbā mānetabbā pūjetabbā apacetabbā.
|
Này các Hiền giả, thật vậy,
Sa-môn Gotama đă đến Khànumata và đang ở tại Ambalatthikà. Những
Sa-môn, những Bà-la-môn nào đến ruộng làng chúng ta đều là khách
của chúng ta. Đối với khách, chúng ta phải kính trọng, tôn sùng,
chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.
|
|
Yampi bho samaṇo
Gotamo Khāṇumataṃ anuppatto Khāṇumate viharati Ambalaṭṭhikāyaṃ,
atithimhākaṃ samaṇo Gotamo, atithī kho panamhehi sakkātabbo
garukātabbo mānetabbo pūjetabbo apacetabbo, imināpaṅgena
nārahati so bhavaṃ Gotamo amhākaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ, atha
kho mayameva arahāma taṃ bhavantaṃ Gotamaṃ dassanāya
upasaṅkamituṃ. Ettake kho ahaṃ bho tassa bhoto Gotamassa vaṇṇe
pariyāpuṇāmi, no ca kho so bhavaṃ Gotamo ettakavaṇṇo,
aparimāṇavaṇṇo hi so bhavaṃ Gotamo”ti.
|
Này các Hiền giả, nay Gotama đă
đến Khànumata đang ở tại Ambalatthikà, như vậy Sa-môn Gotama là
khách của chúng ta. Và đă là khách, chúng ta phải kính trọng,
tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng. Do điểm này, thật
không xứng đáng cho Tôn giả Gotama đến yết kiến chúng ta, thật
xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa-môn Gotama. Này các Hiền
giả, đó là những ưu điểm, mà ta được biết về Tôn giả Gotama. Tôn
giả Gotama không phải có chừng ấy ưu điểm mà thôi. Tôn giả
Gotama có đến vô lượng ưu điểm.
|
|
333. Evaṃ vutte
te brāhmaṇa Kūṭadantaṃ brāhmaṇaṃ etadavocuṃ
“Yathā kho bhavaṃ
Kūṭadanto samaṇassa Gotamassa vaṇṇe bhāsati, ito cepi so bhavaṃ
Gotamo yojanasate viharati, alameva saddhena kulaputtena
dassanāya upasaṅkamituṃ api puṭosenā”ti. Tena hi bho sabbeva
mayaṃ samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamissāmāti.
|
8. Khi nghe nói vậy, các
Bà-la-môn ấy nói với Bà-la-môn Kùtadanta:
- Tôn giả Kùtadanta đă tán thán
Sa-môn Gotama như vậy, dầu cho ai ở xa Tôn giả Gotama đến một
trăm do tuần cũng đủ cho người ấy cùng gia tộc đi đến yết kiến
Sa-môn Gotama, dầu phải đem theo lương thực. V́ vậy tất cả chúng
tôi sẽ đi đến yết kiến Sa-môn Gotama.
|
|
Mahāvijitarājayaññakathā
334. Atha kho
Kūṭadanto brāhmaṇo mahatā brāhmaṇagaṇena saddhiṃ yena
Ambalaṭṭhikā yena Bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā Bhagavatā
saddhiṃ sammodi, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā
ekamantaṃ nisīdi. Khāṇumatakāpi kho brāhmaṇagahapatikā appekacce
Bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu, appekacce Bhagavatā
saddhiṃ sammodiṃsu, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā
ekamantaṃ nisīdiṃsu, appekacce yena Bhagavā tenañjaliṃ paṇāmetvā
ekamantaṃ nisīdiṃsu, appekacce nāmagottaṃ sāvetvā ekamantaṃ
nisīdiṃsu, appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṃ nisīdiṃsu.
|
Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kùtadanta
cùng với đại chúng Bà-la-môn đi đến Ambalatthikà, đến tại chỗ
đức Thế Tôn ở, khi đi đến, liền nói lời thân ái, chào đón, chúc
tụng rồi ngồi xuống một bên. Các Bà-la-môn và gia chủ ở
Khànumata, có người đảnh lễ Sa-môn Gotama rồi ngồi xuống một
bên, có người nói lời thân ái chào đón, chúc tụng với Sa-môn
Gotama, rồi ngồi xuống một bên, có người chấp tay vái chào
Sa-môn Gotama rồi ngồi xuống một bên, có người nói tên và ḍng
họ rồi ngồi xuống một bên, có người yên lặng ngồi xuống một bên.
|
|
335. Ekamantaṃ
nisinno kho Kūṭadanto brāhmaṇo Bhagavantaṃ etadavoca
“Sutaṃ
metaṃ bho Gotama ‘Samaṇo Gotamo tividhaṃ yaññasampadaṃ
soḷasaparikkhāraṃ jānātī’ti, na kho panāhaṃ jānāmi tividhaṃ
yaññasampadaṃ soḷasaparikkhāraṃ, icchāmi cāhaṃ mahāyaññaṃ
yajituṃ, sādhu me bhavaṃ Gotamo tividhaṃ yaññasampadaṃ
soḷasaparikkhāraṃ desetū”ti.
|
9. Sau khi ngồi xuống một bên,
Bà-la-môn Kùtadanta bạch đức Thế Tôn:
- Tôn giả Gotama, tôi được nghe
như sau: "Sa-môn am hiểu ba cách thức tế tự và mười sáu tế vật".
Tôi không biết đến ba tế tự và mười sáu tế vật và tôi muốn cử
hành đại tế tự. Tốt đẹp thay nếu Tôn giả Gotama giảng cho tôi ba
cách thức tế tự và mười sáu tế vật.
|
|
336. Tena hi brāhmaṇa suṇāhi sādhukaṃ manasikarohi bhāsissāmīti.
“Evaṃ bho”ti kho Kūṭadanto brāhmaṇo Bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca,
|
- Này Bà-la-môn, vậy người hăy
nghe và suy nghĩ kỹ, ta sẽ nói:
- Dạ vâng. Bà-la-môn Kùtadanta trả lời đức
Thế Tôn.
Đức Thế Tôn thuyết như sau:
|
|
bhūtapubbaṃ brāhmaṇa rājā mahāvijito nāma ahosi aḍḍho mahaddhano
mahābhogo pahūtajātarūparajato pahūtavittūpakaraṇo
pahūtadhanadhañño paripuṇṇakosakoṭṭhāgāro. Atha kho brāhmaṇa
rañño mahāvijitassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ cetaso
parivitakko udapādi “Adhigatā kho me vipulā mānusakā bhogā,
mahantaṃ pathavimaṇḍalaṃ abhivijiya ajjhāvasāmi, yaṃnūnāhaṃ
mahāyaññaṃ yajeyyaṃ yaṃ mama assa dīgharattaṃ hitāya sukhāyā”ti.
|
10. - Này Bà-la-môn, thuở xưa có
vị vua tên là Mahàvijita, giàu có, đại phú, tài sản sung măn, có
nhiều vàng bạc, có nhiều vật dụng, có nhiều tài vật ngũ cốc, kho
tàng sung măn. Này Bà-la-môn, một hôm trong khi vua Mahàvijita
đang ngồi yên lặng tại một tịnh xứ, sự suy tư sau đây được khởi
lên: "Ta nay đặng vô lượng tài sản thuộc nhân gian, chinh phục
đại địa cầu và sống an trú như vậy. Ta hăy tổ chức đại tế đàn,
và nhờ vậy ta sẽ hưởng được hạnh phúc an lạc lâu ngày".
|
|
337. Atha kho
brāhmaṇa rājā mahāvijito purohitaṃ brāhmaṇaṃ āmantetvā etadavoca
“Idha mayhaṃ brāhmaṇa rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ cetaso
parivitakko udapādi, ‘Adhigatā kho me vipulā mānusakā bhogā,
mahantaṃ pathavimaṇḍalaṃ abhivijiya ajjhāvasāmi, yaṃnūnāhaṃ
mahāyaññaṃ yajeyyaṃ yaṃ mama assa dīgharattaṃ hitāya sukhāyā’ti,
icchāmahaṃ brāhmaṇa mahāyaññaṃ yajituṃ, anusāsatu maṃ bhavaṃ yaṃ
mama assa dīgharattaṃ hitāya sukhāyā”ti.
|
Này
Bà-la-môn, vua Mahàvijita liền cho mời vị Bà-la-môn chủ tế và
nói: "Này Bà-la-môn, trong khi ta đang ngồi yên lặng tại một
tinh xứ, sự suy tư sau đây khởi lên: "Ta nay đặng vô lượng tài
bảo thuộc nhân gian, chinh phục đại địa cầu và sống an trú như
vậy. Ta hăy tổ chức đại tế đàn, và nhờ vậy ta sẽ được hưởng hạnh
phúc an lạc lâu ngày". Này Bà-la-môn, ta muốn tổ chức đại tế
đàn, khanh hăy khuyên ta như thế nào để ta được hưởng hạnh phúc
an lạc lâu ngày?"
|
|
338. Evaṃ vutte
brāhmaṇa purohito brāhmaṇo rājānaṃ mahāvijitaṃ etadavoca “Bhoto
kho rañño janapado sakaṇṭako sa-uppīḷo, gāmaghātāpi dissanti,
nigamaghātāpi dissanti, nagaraghātāpi dissanti, panthaduhanāpi
dissanti. Bhavaṃ kho pana rājā evaṃ sakaṇṭake janapade sa-uppīḷe
balimuddhareyya, akiccakārī assa tena bhavaṃ rājā. Siyā kho pana
bhoto rañño evamassa ‘Ahametaṃ dassukhīlaṃ vadhena vā bandhena
vā jāniyā vā garahāya vā pabbājanāya vā samūhanissāmī’ti, na kho
panetassa dassukhīlassa evaṃ sammā samugghāto hoti, ye te
hatāvasesakā bhavissanti, te pacchā rañño janapadaṃ
viheṭhessanti. Api ca kho idaṃ saṃvidhānaṃ āgamma evametassa
dassukhīlassa sammā samugghāto hoti, tena hi bhavaṃ rājā ye
bhoto rañño janapade ussahanti kasigorakkhe, tesaṃ bhavaṃ rājā
bījabhattaṃ anuppadetu. Ye bhoto rañño janapade ussahanti
vāṇijjāya, tesaṃ bhavaṃ rājā pābhataṃ anuppadetu. Ye bhoto rañño
janapade ussahanti rājaporise, tesaṃ bhavaṃ rājā bhattavetanaṃ
pakappetu. Te ca manussā sakammapasutā rañño janapadaṃ na
viheṭhessanti, mahā ca rañño rāsiko bhavissati. Khemaṭṭhitā
janapadā akaṇṭakā anuppīḷā manussā mudā modamānā ure putte
naccentā apārutagharā maññe viharissantī”ti. “Evaṃ bho”ti kho
brāhmaṇa rājā mahāvijito purohitassa brāhmaṇassa paṭissutvā ye
rañño janapade ussahiṃsu kasigorakkhe, tesaṃ rājā mahāvijito
bījabhattaṃ anuppadāsi.
|
11. Này Bà-la-môn, khi nghe nói
vậy, vị Bà-la-môn chủ tế tâu với vua Mahàvijita như sau: "Đại
vương, vương quốc (này) chịu tai ương, chịu ách nạn, đầy rẫy bọn
cướp làng, đầy rẫy bọn cướp ấp, đầy rẫy bọn cướp đô thị, đầy rẫy
bọn cướp đường. Trong quốc độ chịu tai ương, chịu ách nạn như
vậy, nếu Tôn vương đánh thuế má mới, như vậy Tôn vương có ư
nghĩ: "Ta hăy trừ diệt bọn giặc cỏ này, hoặc bằng tử h́nh, hoặc
bằng cấm cố, hoặc bằng phạt vạ, hoặc bằng khiển trách, hoặc bằng
tẩn xuất". Nhưng bọn giặc cỏ này sẽ không được trừ diệt một cách
hoàn toàn. Những bọn c̣n lại không bị h́nh phạt sau lại tiếp tục
hoành hành vương quốc này. Nhưng nếu theo phương pháp sau đây
bọn giặc cỏ ấy sẽ được trừ diệt một cách hoàn toàn: những vị nào
trong quốc độ nhà vua nỗ lực về nông nghiệp và mục súc, Tôn
vương hăy cấp cho những vị ấy hột giống và thực vật; những vị
nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về thương nghiệp, Tôn vương hăy
cấp cho những vị ấy vốn đầu tư; những vị nào trong quốc độ nhà
vua nỗ lực về quan chức, Tôn vương hăy cấp cho những vị ấy vật
thực và lương bổng. Và những người này chuyên tâm vào nghề riêng
của ḿnh sẽ không nhiễu hại quốc độ nhà vua. Và ngân quỹ nhà vua
sẽ được dồi dào, quốc độ sẽ được an cư lạc nghiệp, không có tai
ương, ách nạn và dân chúng hoan hỷ vui vẻ, cho con nhảy trên
ngực, sống chẳng khác ǵ với nhà cửa mở rộng". - "Vâng, Tôn
giả". - Này Bà-la-môn, vua Mahàvijita vâng theo lời
khuyên của vị Bà-la-môn chủ tế: những vị nào trong quốc độ nhà
vua nỗ lực về nông nghiệp và mục súc, Tôn vương Mahàvijita cấp
cho những vị ấy hột giống và thực vật;
|
|
Ye ca rañño
janapade ussahiṃsu vāṇijjāya, tesaṃ rājā mahāvijito pābhataṃ
anuppadāsi. Ye ca rañño janapade ussahiṃsu rājaporise, tesaṃ
rājā mahāvijito bhattavetanaṃ pakappesi. Te ca manussā
sakammapasutā rañño janapadaṃ na viheṭhiṃsu, mahā ca rañño
rāsiko ahosi. Khemaṭṭhitā janapadā akaṇṭakā anuppīḷā manussā
mudā modamānā ure putte naccentā apārutagharā maññe vihariṃsu.
|
những vị
nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về thương nghiệp, Tôn vương
Mahàvijita cấp cho những vị ấy vốn đầu tư; những vị nào trong
quốc độ nhà vua nỗ lực về quan chức, Tôn vương Mahàvijita cấp
cho những vị ấy vật thực và lương bổng. Và những người này
chuyên tâm về nghề của ḿnh không c̣n nhiễu hại quốc độ nhà vua;
ngân quỹ nhà vua được dồi dào, quốc độ được an cư lạc nghiệp
không có tai ương ách nạn và dân chúng hoan hỷ vui vẻ, cho con
nhảy trên ngực, sống chẳng khác ǵ với nhà cửa mở rộng.
|
| <Bài Kinh Trước> |
<Trang Kế> |
|