Trang Chính

Dīghanikāya & Trường Bộ - tập I

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

 

DĪGHANIKĀYA & TRƯỜNG BỘ tập I

(Văn bản này được thực hiện tạm thời để nghiên cứu, không phải văn bản chính thức của Công Tŕnh Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāli - Việt)

 

Cập Nhật: Monday, June 25, 2012

 

05. KŪṬADANTASUTTAṂ

 

05. KŪṬADANTASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ

05. KINH CỨU-LA-ĐÀN ĐẦU - HT. Thích Minh Châu, Nguồn: Budsas, phiên bản 7.07

Khāṇumatakabrāhmaṇagahapatikā

323. Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Magadhesu cārikaṃ caramāno mahatā bhikkhusaṃghena saddhiṃ pañcamattehi bhikkhusatehi yena Khāṇumataṃ nāma Magadhānaṃ brāhmaṇagāmo tadavasari. Tatra sudaṃ Bhagavā Khāṇumate viharati Ambalaṭṭhikāyaṃ. Tena kho pana samayena Kūṭadanto brāhmaṇo Khāṇumataṃ ajjhāvasati sattussadaṃ satiṇakaṭṭhodakaṃ sadhaññaṃ rājabhoggaṃ raññā Māgadhena seniyena Bimbisārena dinnaṃ rājadāyaṃ brahmadeyyaṃ. Tena kho pana samayena Kūṭadantassa brāhmaṇassa mahāyañño upakkhaṭo hoti, satta ca usabhasatāni satta ca vacchatarasatāni satta ca vacchatarīsatāni satta ca ajasatāni satta ca urabbhasatāni thūṇūpanītāni honti yaññatthāya.

 

 

1. Như vầy tôi nghe. Một thời đức Thế Tôn đang du hành trong xứ Magadha (Ma-kiệt-đà) cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị và đến tại một làng Bà-la-môn ở Magadha tên là Khànumata (Khứ--nậu-bà-đế). Và tại đây, đức Thế Tôn trú tại vườn Ambalatthikà ở Khànumata. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kùtadanta ở tại Khànumata, một chỗ dân cư đông đúc, cây cỏ, ao nước, lúa gạo ph́ nhiêu, một vương địa do vua Bimbisàra (Tần-bà-ta-la) vua nước Magadha cấp, một ân tứ của vua, một tịnh ấp. Lúc bấy giờ, một đàn tế lớn đang được thiết lập cho Bà-la-môn Kùtadanta, bảy trăm con trâu đực, bảy trăm con nghé đực lớn, và bảy trăm con nghé cái lớn, bảy trăm con dê và bảy trăm con cừu đă được dắt đến trụ tế lễ, cho đàn tế.

 

324. Assosuṃ kho Khāṇumatakā brāhmaṇagahapatikā “Samaṇo khalu bho Gotamo Sakyaputto Sakyakulā pabbajito Magadhesu cārikaṃ caramāno mahatā bhikkhusaṃghena saddhiṃ pañcamattehi bhikkhusatehi Khāṇumataṃ anuppatto Khāṇumate viharati Ambalaṭṭhikāyaṃ. Taṃ kho pana Bhavantaṃ Gotamaṃ evaṃ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato ‘Itipi so Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho Vijjācaraṇasampanno Sugato Lokavidū Anuttaro purisadammasārathi Satthā devamanussānaṃ Buddho Bhagavā’ti, so imaṃ lokaṃ sadevakaṃ samārakaṃ sabrahmakaṃ sassamaṇabrāhmaṇiṃ pajaṃ sadevamanussaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedeti, so dhammaṃ deseti ādikalyāṇaṃ majjhekalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ sātthaṃ sabyañjanaṃ kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāseti, sādhu kho pana tathārūpānaṃ Arahataṃ dassanaṃ hotī”ti.

 

2. Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata được nghe: "Sa-môn Gotama, ḍng họ Thích-ca, xuất gia từ gia tộc Thích-ca, đang du hành trong nước Magadha với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, đă đến tại Khànumata và trú tại vườn Ambalatthikà ở Khànumata. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Thế Tôn Gotama: "Đây là đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư,... Khi đă chứng ngộ, Ngài c̣n tuyên bố sự chứng ngộ ấy cho người khác. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, văn nghĩa cụ túc, và giới thiệu đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy".

 

325. Atha kho Khāṇumatakā brāhmaṇagahapatikā Khāṇumatā nikkhamitvā saṅghasaṅghī gaṇībhūtā yena Ambalaṭṭhikā tenupasaṅkamanti.

 

326. Tena kho pana samayena Kūṭadanto brāhmaṇo uparipāsāde divāseyyaṃ upagato hoti. Addasā kho Kūṭadanto brāhmaṇo Khāṇumatake brāhmaṇagahapatike Khāṇumatā nikkhamitvā saṅghasaṅghī gaṇībhūte yena Ambalaṭṭhikā tenupasaṅkamante, disvā khattaṃ āmantesi

 

“Kiṃ nu kho bho khatte Khāṇumatatā brāhmaṇagahapatikā Khāṇumatā nikkhamitvā saṅghasaṅghī gaṇībhūtā yena Ambalaṭṭhikā tenupasaṅkamantī”ti.

 

Rồi các Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata, từng đoàn, từng đoàn, lũ lượt đi ra khỏi Khànumata và đến tại Ambalatthikà.

 

3. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kùtadanta đi lên trên lầu để nghỉ trưa. Bà-la-môn Kùtadanta thấy các Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata từng đoàn, từng đoàn, lũ lượt đi ra khỏi Khànumata và đến tại Ambalatthikà. Thấy vậy (Bà-la-môn Kùtadanta) liền gọi người gác cửa:

 

- Này người gác cửa, v́ sao các Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata, từng đoàn, từng đoàn, lũ lượt đi ra khỏi Khànumata và đến tại Ambalatthikà?

 

327. Atthi kho bho samaṇo Gotamo Sakyaputto Sakyakulā pabbajito Magadhesu cārikaṃ caramāno mahatā bhikkhusaṃghena saddhiṃ pañcamattehi bhikkhusatehi Khāṇumataṃ anuppatto Khāṇumate viharati Ambalaṭṭhikāyaṃ. Taṃ kho pana bhavantaṃ Gotamaṃ evaṃ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato “Itipi so Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho Vijjācaraṇasampanno Sugato Lokavidū Anuttaro purisadammasārathi Satthā devamanussānaṃ Buddho Bhagavā”ti. Tamete bhavantaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamantīti.

 

- Tôn giả, có Sa-môn Gotama, ḍng họ Thích-ca, xuất gia từ gia tộc Thích-ca, đang du hành trong nước Magadha với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị, đến tại Khànumata, và tại đấy trú ở Ambalatthikà. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Thế Tôn Gotama: "Đây là đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Nay những người ấy đi đến yết kiến Tôn giả Gotama.

 

328. Atha kho Kūṭadantassa brāhmaṇassa etadahosi “Sutaṃ kho pana metaṃ ‘Samaṇo Gotamo tividhaṃ yaññasampadaṃ soḷasaparikkhāraṃ jānātī’ti. Na kho panāhaṃ jānāmi tividhaṃ yaññasampadaṃ soḷasaparikkhāraṃ, icchāmi cāhaṃ mahāyaññaṃ yajituṃ, yaṃnūnāhaṃ samaṇaṃ Gotamaṃ upasaṅkamitvā tividhaṃ yaññasampadaṃ soḷasaparikkhāraṃ puccheyyan”ti.

 

4. Bà-la-môn Kùtadanta liền suy nghĩ như sau: "Ta nghe nói: "Sa-môn Gotama am hiểu ba cách thức tế tự và mười sáu tế pháp". Ta không biết ba cách thức tế tự và mười sáu tế pháp, và ta muốn cử hành lễ đại tế. Vậy ta hăy đến hỏi Sa-môn Gotama ba cách thức tế tự và mười sáu tế pháp".

 

329. Atha kho Kūṭadanto brāhmaṇo khattaṃ āmantesi

 

“Tena hi bho khatte yena Khāṇumatakā brāhmaṇagahapatikā tenupasaṅkama, upasaṅkamitvā Khāṇumatake brāhmaṇagahapatike evaṃ vadehi Kūṭadanto bho brāhmaṇo evamāha āgamentu kira bhavanto, Kūṭadantopi brāhmaṇo samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamissatī”ti.

 

“Evaṃ bho”ti kho so khattā Kūṭadantassa brāhmaṇassa paṭissutvā yena Khāṇumatakā brāhmaṇagahapatikā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā Khāṇumatake brāhmaṇagahapatike etadavoca “Kūṭadanto bho brāhmaṇo evamāha āgamentu kira bhonto, Kūṭadantopi brāhmaṇo samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamissatī”ti.

 

Rồi Bà-la-môn Kùtadanta gọi người giữ cửa kia:

 

- Này người giữ cửa, hăy đi đến các Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata, khi đến nơi, hăy nói với những Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata như sau: "Bà-la-môn Kùtadanta có nói: "Này các Hiền giả, hăy chờ đợi, Bà-la-môn Kùtadanta sẽ thân hành đến yết kiến Sa-môn Gotama".

 

- Dạ vâng. Người gác cửa ấy vâng theo lời bảo của Bà-la-môn Kùtadanta, đi đến các Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata, khi đến xong liền nói với Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata: "Bà-la-môn Kùtadanta có nói như vầy: "Này các Hiền giả, hăy chờ đợi Bà-la-môn Kùtadanta sẽ tự thân hành đến yết kiến Sa-môn Gotama".

 

Kūṭadantaguṇakathā

330. Tena kho pana samayena anekāni brāhmaṇasatāni Khāṇumate paṭivasanti “Kūṭadantassa brāhmaṇassa mahāyaññaṃ anubhavissāmā”ti. Assosuṃ kho te brāhmaṇā “Kūṭadanto kira brāhmaṇo samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamissatī”ti. Atha kho te brāhmaṇā yena Kūṭadanto brāhmaṇo tenupasaṅkamiṃsu.

 

331. Upasaṅkamitvā Kūṭadantaṃ brāhmaṇaṃ etadavocuṃ

 

“Saccaṃ kira bhavaṃ Kūṭadanto samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamissatī”ti.

 

Evaṃ kho me bho hoti “Ahampi samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamissāmī”ti.

 

 

5. Lúc bấy giờ có khoảng vài trăm Bà-la-môn ở Khànumata với ư định: "Chúng tôi sẽ dự lễ Đại tế đàn của Bà-la-môn Kùtadanta". Khi các vị Bà-la-môn này nghe: "Bà-la-môn Kùtadanta sẽ đến yết kiến Sa-môn Gotama", những Bà-la-môn này đến Bà-la-môn Kùtadanta,

 

khi đến nơi liền nói với Bà-la-môn Kùtadanta:

 

- Có phải Tôn giả Kùtadanta sẽ đến yết kiến Sa-môn Gotama?

 

- Này các Hiền Giả, đó là ư định của ta, ta sẽ đến yết kiến Sa-môn Gotama.

 

Mā bhavaṃ Kūṭadanto samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkami, na arahati bhavaṃ Kūṭadanto samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ. Sace bhavaṃ Kūṭadanto samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamissati, bhoto Kūṭadantassa yaso hāyissati, samaṇassa Gotamassa yaso abhivaḍḍhissati. Yampi bhoto Kūṭadantassa yaso hāyissati, samaṇassa Gotamassa yaso abhivaḍḍhissati, imināpaṅgena na arahati bhavaṃ Kūṭadanto samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ, samaṇotveva Gotamo arahati bhavantaṃ Kūṭadantaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ.

6. - Tôn giả Kùtadanta chớ có đến yết kiến Sa-môn Gotama. Thật không xứng đáng cho Tôn giả Kùtadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama. Nếu Tôn giả Kùtadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama, th́ danh tiếng của Tôn giả Kùtadanta bị hao tổn, danh tiếng của Sa-môn Gotama được tăng trưởng. V́ danh tiếng của Tôn giả Kùtadanta bị hao tổn và danh tiếng của Sa-môn Gotama được tăng trưởng, do điểm này thật không xứng đáng cho Tôn giả Kùtadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama. Trái lại thật xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến Tôn giả Kùtadanta.

 

Bhavaṃ hi Kūṭadanto ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṃsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena. Yampi bhavaṃ Kūṭadanto ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṃsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena, imināpaṅgena na arahati bhavaṃ Kūṭadanto samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ, samaṇotveva Gotamo arahati bhavantaṃ Kūṭadantaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ.

 

- Lại Tôn giả Kùtadanta thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. V́ Tôn giả Kùtadanta thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sinh; do điểm này, thật không xứng đáng cho Tôn giả Kùtadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama, trái lại thật xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến Tôn giả Kùtadanta.

 

Bhavaṃ hi Kūṭadanto aḍḍho mahaddhano mahābhogo pahūtavittūpakaraṇo pahūtajātarūparajato ‑pa‑.

 

Lại Tôn giả Kùtadanta là nhà giàu có, đại phú, sung túc...

 

Bhavaṃ hi Kūṭadanto ajjhāyako mantadharo tiṇṇaṃ vedānaṃ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṃ sākkharappabhedānaṃ itihāsapañcamānaṃ padako veyyākaraṇo lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo ‑pa‑.

 

Lại Tôn giả Kùtadanta là nhà phúng tụng, là nhà tŕ chú, thông hiểu ba tập Vedà với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và lịch sử truyền thống là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biệt tài về Thuận thế (tự nhiên học) và tướng của vị đại nhân.

 

Bhavaṃ hi Kūṭadanto abhirūpo dassanīyo pāsādiko paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgato brahmavaṇṇī brahmavacchasī akhuddāvakāso dassanāya ‑pa‑.

 

Lại Tôn giả Kùtadanta đẹp trai, khả ái, làm đẹp ḷng mọi người, với màu da thù thắng, khôi ngô, tuấn tú, cử chỉ trang nhă, dáng điệu cao thượng.

 

Bhavaṃ hi Kūṭadanto sīlavā vuddhasīlī vuddhasīlena samannāgato ‑pa‑.

 

Lại Tôn giả Kùtadanta có đức hạnh, đức độ cao dày, đầy đủ giới hạnh cao dày.

 

Bhavaṃ hi Kūṭadanto kalyāṇavāco kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā ‑pa‑.

 

Lại Tôn giả Kùtadanta thiện ngôn, dùng lời thiện ngôn, nói lời tao nhă, ư nghĩa minh bạch, giọng nói không bập bẹ phều phào, giải thích nghĩa lư minh xác.

 

Bhavaṃ hi Kūṭadanto bahūnaṃ ācariyapācariyo tīṇi māṇavakasatāni mante vāceti, bahū kho pana nānādisā nānājanapadā māṇavakā āgacchanti bhoto Kūṭadantassa santike mantatthikā mante adhiyitukāmā ‑pa‑.

 

Lại Tôn giả Kùtadanta là bậc tôn sư trong các hàng tôn sư của nhiều người, dạy ba trăm thanh niên Bà-la-môn tụng đọc chú thuật, thanh niên Bà-la-môn từ nhiều phương, từ nhiều nước, thiết tha với chú thuật, đến với Tôn giả Kùtadanta để học thuộc ḷng các chú thuật.

 

Bhavaṃ hi Kūṭadanto jiṇṇo vuddho mahallako addhagato vayo-anuppatto, samaṇo Gotamo taruṇo ceva taruṇapabbajito ca ‑pa‑.

 

Tôn giả Kùtadanta niên cao lạp lớn, bậc lăo thành, đến tuổi trưởng thượng, c̣n Sa-môn Gotama th́ trẻ tuổi, xuất gia chưa được nhiều năm.

 

Bhavaṃ hi Kūṭadanto rañño Māgadhassa seniyassa Bimbisārassa sakkato garukato mānito pūjito apacito ‑pa‑.

 

Tôn giả Kùtadanta được vua Seniya Bimbisàra (Tần bà ta la) xứ Mangadha (Ma kiệt đà) kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.

 

Bhavaṃ hi Kūṭadanto brāhmaṇassa Pokkharasātissa sakkato garukato mānito pūjito apacito ‑pa‑.

 

Tôn giả Kùtadanta được Bà-la-môn Pokkhatasàdi kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.

 

Bhavaṃ hi Kūṭadanto Khāṇumataṃ ajjhāvasati sattussadaṃ satiṇakaṭṭhodakaṃ sadhaññaṃ rājabhoggaṃ raññā Māgadhena seniyena Bimbisārena dinnaṃ rājadāyaṃ brahmadeyyaṃ. Yampi bhavaṃ Kūṭadanto Khāṇumataṃ ajjhāvasati sattussadaṃ satiṇakaṭṭhodakaṃ sadhaññaṃ rājabhoggaṃ raññā Māgadhena seniyena Bimbisārena dinnaṃ rājadāyaṃ brahmadeyyaṃ, imināpaṅgena na arahati bhavaṃ Kūṭadanto samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ, samaṇotveva Gotamo arahati Bhavantaṃ Kūṭadantaṃ dassanāya upasaṅkamitunti.

 

Tôn giả Kùtadanta sống ở Khànumata, một địa phương dân chúng đông đúc, cỏ cây, ao nước ph́ nhiêu, lúa gạo sung túc, một vương lănh địa, một tịnh thí địa, một ân tứ của vua Seniya Bimbisàra xứ Magadha. V́ Tôn giả Kùtadanta sống ở Khànumata, một địa phương dân chúng đông đúc, cỏ cây, ao nước ph́ nhiêu, lúa gạo sung túc, một vương lănh địa, một tịnh thí địa, một ân tứ của vua Seniya Bimbisàra xứ Magadha, do điểm này thật không xứng đáng cho Tôn giả Kùtadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama, trái lại thật xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến Tôn giả Kùtadanta.

 

Buddhaguṇakathā

332. Evaṃ vutte Kūṭadanto brāhmaṇo te brāhmaṇe etadavoca–

 

 

7. Nghe nói vậy, Bà-la-môn Kùtadanta nói với những vị Bà-la-môn ấy:

 

“Tena hi bho mamapi suṇātha, yathā mayameva arahāma taṃ bhavantaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ, na tveva arahati so bhavaṃ Gotamo amhākaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ. Samaṇo khalu bho Gotamo ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṃsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena. Yampi bho samaṇo Gotamo ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṃsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena, imināpaṅgena na arahati so bhavaṃ Gotamo amhākaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ, atha kho mayameva arahāma taṃ bhavantaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ.

 

- Các Hiền giả, hăy nghe ta giải thích v́ sao thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa-môn Gotama, trái lại thật không xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến chúng ta. Này các Hiền giả, thật vậy Sa-môn Gotama thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Này các Hiền giả, v́ Sa-môn Gotama thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. V́ điểm này, thật không xứng đáng cho Sa-môn Gotama đến yết kiến chúng ta, trái lại thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa-môn Gotama.

 

Samaṇo khalu bho Gotamo mahantaṃ ñātisaṃghaṃ ohāya pabbajito ‑pa‑.

 

 

Samaṇo khalu bho Gotamo pahūtaṃ hiraññasuvaṇṇaṃ ohāya pabbajito bhūmigatañca vehāsaṭṭhañca ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, Sa-môn Gotama xuất gia từ bỏ rất nhiều vàng bạc cả loại đang chôn dưới đất lẫn loại trên mặt đất.

 

Samaṇo khalu bho Gotamo daharova samāno yuvā susukāḷakeso bhadrena yobbanena samannāgato paṭhamena vayasā agārasmā anagāriyaṃ pabbajito ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, Sa-môn Gotama trong tuổi thanh niên tóc c̣n đen nhánh, trong tuổi trẻ đẹp của thời niên thiếu, đă xuất gia từ bỏ gia đ́nh sống không gia đ́nh.

 

Samaṇo khalu bho Gotamo akāmakānaṃ mātāpitūnaṃ assumukhānaṃ rudantānaṃ kesamassuṃ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṃ pabbajito ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama, dầu song thân không đồng ư, khóc than nước mắt thấm ướt cả mặt, vẫn cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh.

 

Samaṇo khalu bho Gotamo abhirūpo dassanīyo pāsādiko paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgato brahmavaṇṇī brahmavacchasī akhuddāvakāso dassanāya ‑pa‑.

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama đẹp trai, khả ái, làm đẹp ḷng mọi người, với màu da thù thắng, khôi ngô tuấn tú, cử chỉ trang nhă, dáng điệu cao thượng.

 

Samaṇo khalu bho Gotamo sīlavā ariyasīlī kusalasīlī kusalasīlena samannāgato ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama có đức hạnh, ǵn giữ giới của bậc thánh, có thiện đức, dạy đủ thiện đức.

 

Samaṇo khalu bho Gotamo kalyāṇavāco kalyāṇavākkaraṇo poriyā vācāya samannāgato vissaṭṭhāya anelagalāya atthassa viññāpaniyā ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama thiện ngôn, dùng lời thiện ngôn, nói lời tao nhă, ư nghĩa minh bạch, giọng nói không bập bẹ phều phào, giải thích nghĩa lư minh xác.

 


Samaṇo khalu bho Gotamo bahūnaṃ ācariyapācariyo ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama là bậc tôn sư các hàng tôn sư của nhiều người.

 

Samaṇo khalu bho Gotamo khīṇakāmarāgo vigatacāpallo ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama đă diệt trừ tham dục, đă dứt bỏ mọi xao động của tâm.

 

Samaṇo khalu bho Gotamo kammavādī kiriyavādī apāpapurekkhāro brahmaññāya pajāya ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama chủ trương về nghiệp, chủ trương về hành động, đặt trọng tâm vào chí thiện khi thuyết pháp với chúng Bà-la-môn.

 

Samaṇo khalu bho Gotamo uccā kulā pabbajito asambhinnakhattiyakulā ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama xuất gia từ chủng tộc cao quư, từ ḍng họ Sát-đế-lỵ thanh tịnh.

 

Samaṇo khalu bho Gotamo aḍḍhā kulā pabbajito mahaddhanā mahābhogā ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama xuất gia từ chủng tộc khá giả, đại phú, tài sản sung măn.

 

Samaṇaṃ khalu bho Gotamaṃ tiroraṭṭhā tirojanapadā pañhaṃ pucchituṃ āgacchanti  ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, dân chúng băng ngàn vượt biển (băng qua nhiều địa phương, băng qua nhiều quốc độ) đến hỏi đạo Sa-môn Gotama.

 

Samaṇaṃ khalu bho Gotamaṃ anekāni devatāsahassāni pāṇehi saraṇaṃ gatāni ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, có hàng ngàn thiên nhân đến quy y Sa-môn Gotama.

 

Samaṇaṃ khalu bho Gotamaṃ evaṃ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato ‘Itipi so Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho Vijjācaraṇasampanno Sugato Lokavidū Anuttaro purisadammasārathi Satthā devamanussānaṃ Buddho Bhagavā’ti ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền bá đi về Sa-môn Gotama: "Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn".

 

Samaṇo khalu bho Gotamo dvattiṃsamahāpurisalakkhaṇehi samannāgato ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc đại nhân.

 

Samaṇo khalu bho Gotamo ehisvāgatavādī sakhilo sammodako abbhākuṭiko uttānamukho pubbabhāsī ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama nói lời chào đón, thân thiện, tao nhă, trang trọng, chân thực, thẳng thắn, lời nói có dẫn chứng.

 

Samaṇo khalu bho Gotamo catunnaṃ parisānaṃ sakkato garukato mānito pūjito apacito ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama được bốn chúng kính trọng tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ trọng vọng.

 

Samaṇe khalu bho Gotame bahū devā ca manussā ca abhippasannā ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, rất nhiều thiên nhân tín ngưỡng Sa-môn Gotama.

 

Samaṇo khalu bho Gotamo yasmiṃ gāme vā nigame vā paṭivasati, na tasmiṃ gāme vā nigame vā amanussā manusse viheṭhenti ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy ở tại làng nào, thôn ấp nào, Sa-môn Gotama cư trú, tại làng ấy, tại thôn ấp ấy, các loài phi nhân không làm hại loài người.

 

Samaṇo khalu bho Gotamo saṅghī gaṇī gaṇācariyo puthutitthakarānaṃ aggamakkhāyati, yathā kho pana bho etesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ yathā vā tathā vā yaso samudāgacchati, na hevaṃ samaṇassa Gotamassa yaso samudāgato, atha kho anuttarāya vijjācaraṇasampadāya samaṇassa Gotamassa yaso samudāgato ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama là giáo hội chủ, giáo phái chủ, giáo phái sư, được tôn là tối thượng trong các giáo tổ.

Này các Hiền giả, danh tiếng của một số Sa-môn, Bà-la-môn dựa trên những bằng chứng không đâu, danh tiếng của Sa-môn Gotama dựa trên trí đức vô thượng của Ngài.

 

Samaṇaṃ khalu bho Gotamaṃ rājā Māgadho seniyo Bimbisāro saputto sabhariyo sapariso sāmacco pāṇehi saraṇaṃ gato ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, vua Seniya Bimbisàra nước Magadha, cùng với vương tử, cung phi, thị tùng, đại thần đều quy y Sa-môn Gotama.

 

Samaṇaṃ khalu bho Gotamaṃ rājā Pasenadi Kosalo saputto sabhariyo sapariso sāmacco pāṇehi saraṇaṃ gato ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, vua Pasenadi nước Kosala cùng với vương tử, cung phi, thị tùng, cận thần đều quy y Sa-môn Gotama.

 

Samaṇaṃ khalu bho Gotamaṃ brāhmaṇo Pokkharasāti saputto sabhariyo sapariso sāmacco pāṇehi saraṇaṃ gato ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, Bà-la-môn Pokkharasàdi cùng với vương tử, cung phi, thị tùng, cận thần đều quy y Sa-môn Gotama.

 

Samaṇo khalu bho Gotamo rañño Māgadhassa seniyassa Bimbisārassa sakkato garukato mānito pūjito apacito ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama được vua Seniya Bimbisàra nước Magadha kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.

 

Samaṇo khalu bho Gotamo rañño Pasenadissa Kosalassa sakkato garukato mānito pūjito apacito ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama được vua Pasenadi nước Kosala kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.

 

Samaṇo khalu bho Gotamo brāhmaṇassa Pokkharasātissa sakkato garukato mānito pūjito apacito ‑pa‑.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama được Bà-la-môn Pokkharasàdi kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ trọng vọng.

 

Samaṇo khalu bho Gotamo Khāṇumataṃ anuppatto Khāṇumate viharati Ambalaṭṭhikāyaṃ, ye kho pana bho keci samaṇā vā brāhmaṇā vā amhākaṃ gāmakhettaṃ āgacchanti, atithī no te honti, atithī kho panamhehi sakkātabbā garukātabbā mānetabbā pūjetabbā apacetabbā.

 

Này các Hiền giả, thật vậy, Sa-môn Gotama đă đến Khànumata và đang ở tại Ambalatthikà. Những Sa-môn, những Bà-la-môn nào đến ruộng làng chúng ta đều là khách của chúng ta. Đối với khách, chúng ta phải kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.

 

Yampi bho samaṇo Gotamo Khāṇumataṃ anuppatto Khāṇumate viharati Ambalaṭṭhikāyaṃ, atithimhākaṃ samaṇo Gotamo, atithī kho panamhehi sakkātabbo garukātabbo mānetabbo pūjetabbo apacetabbo, imināpaṅgena nārahati so bhavaṃ Gotamo amhākaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ, atha kho mayameva arahāma taṃ bhavantaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamituṃ. Ettake kho ahaṃ bho tassa bhoto Gotamassa vaṇṇe pariyāpuṇāmi, no ca kho so bhavaṃ Gotamo ettakavaṇṇo, aparimāṇavaṇṇo hi so bhavaṃ Gotamo”ti.

 

Này các Hiền giả, nay Gotama đă đến Khànumata đang ở tại Ambalatthikà, như vậy Sa-môn Gotama là khách của chúng ta. Và đă là khách, chúng ta phải kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng. Do điểm này, thật không xứng đáng cho Tôn giả Gotama đến yết kiến chúng ta, thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa-môn Gotama. Này các Hiền giả, đó là những ưu điểm, mà ta được biết về Tôn giả Gotama. Tôn giả Gotama không phải có chừng ấy ưu điểm mà thôi. Tôn giả Gotama có đến vô lượng ưu điểm.

 

333. Evaṃ vutte te brāhmaṇa Kūṭadantaṃ brāhmaṇaṃ etadavocuṃ

“Yathā kho bhavaṃ Kūṭadanto samaṇassa Gotamassa vaṇṇe bhāsati, ito cepi so bhavaṃ Gotamo yojanasate viharati, alameva saddhena kulaputtena dassanāya upasaṅkamituṃ api puṭosenā”ti. Tena hi bho sabbeva mayaṃ samaṇaṃ Gotamaṃ dassanāya upasaṅkamissāmāti.

 

8. Khi nghe nói vậy, các Bà-la-môn ấy nói với Bà-la-môn Kùtadanta:

- Tôn giả Kùtadanta đă tán thán Sa-môn Gotama như vậy, dầu cho ai ở xa Tôn giả Gotama đến một trăm do tuần cũng đủ cho người ấy cùng gia tộc đi đến yết kiến Sa-môn Gotama, dầu phải đem theo lương thực. V́ vậy tất cả chúng tôi sẽ đi đến yết kiến Sa-môn Gotama.

 

Mahāvijitarājayaññakathā

334. Atha kho Kūṭadanto brāhmaṇo mahatā brāhmaṇagaṇena saddhiṃ yena Ambalaṭṭhikā yena Bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā Bhagavatā saddhiṃ sammodi, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. Khāṇumatakāpi kho brāhmaṇagahapatikā appekacce Bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu, appekacce Bhagavatā saddhiṃ sammodiṃsu, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdiṃsu, appekacce yena Bhagavā tenañjaliṃ paṇāmetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu, appekacce nāmagottaṃ sāvetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu, appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṃ nisīdiṃsu.

 

 

Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kùtadanta cùng với đại chúng Bà-la-môn đi đến Ambalatthikà, đến tại chỗ đức Thế Tôn ở, khi đi đến, liền nói lời thân ái, chào đón, chúc tụng rồi ngồi xuống một bên. Các Bà-la-môn và gia chủ ở Khànumata, có người đảnh lễ Sa-môn Gotama rồi ngồi xuống một bên, có người nói lời thân ái chào đón, chúc tụng với Sa-môn Gotama, rồi ngồi xuống một bên, có người chấp tay vái chào Sa-môn Gotama rồi ngồi xuống một bên, có người nói tên và ḍng họ rồi ngồi xuống một bên, có người yên lặng ngồi xuống một bên.

 

335. Ekamantaṃ nisinno kho Kūṭadanto brāhmaṇo Bhagavantaṃ etadavoca

“Sutaṃ metaṃ bho Gotama ‘Samaṇo Gotamo tividhaṃ yaññasampadaṃ soḷasaparikkhāraṃ jānātī’ti, na kho panāhaṃ jānāmi tividhaṃ yaññasampadaṃ soḷasaparikkhāraṃ, icchāmi cāhaṃ mahāyaññaṃ yajituṃ, sādhu me bhavaṃ Gotamo tividhaṃ yaññasampadaṃ soḷasaparikkhāraṃ desetū”ti.

 

9. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Kùtadanta bạch đức Thế Tôn:

- Tôn giả Gotama, tôi được nghe như sau: "Sa-môn am hiểu ba cách thức tế tự và mười sáu tế vật". Tôi không biết đến ba tế tự và mười sáu tế vật và tôi muốn cử hành đại tế tự. Tốt đẹp thay nếu Tôn giả Gotama giảng cho tôi ba cách thức tế tự và mười sáu tế vật.

 

336. Tena hi brāhmaṇa suṇāhi sādhukaṃ manasikarohi bhāsissāmīti.

 

“Evaṃ bho”ti kho Kūṭadanto brāhmaṇo Bhagavato paccassosi.

 

Bhagavā etadavoca,

- Này Bà-la-môn, vậy người hăy nghe và suy nghĩ kỹ, ta sẽ nói:

 

- Dạ vâng. Bà-la-môn Kùtadanta trả lời đức Thế Tôn.

 

Đức Thế Tôn thuyết như sau:

 

bhūtapubbaṃ brāhmaṇa rājā mahāvijito nāma ahosi aḍḍho mahaddhano mahābhogo pahūtajātarūparajato pahūtavittūpakaraṇo pahūtadhanadhañño paripuṇṇakosakoṭṭhāgāro. Atha kho brāhmaṇa rañño mahāvijitassa rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ cetaso parivitakko udapādi “Adhigatā kho me vipulā mānusakā bhogā, mahantaṃ pathavimaṇḍalaṃ abhivijiya ajjhāvasāmi, yaṃnūnāhaṃ mahāyaññaṃ yajeyyaṃ yaṃ mama assa dīgharattaṃ hitāya sukhāyā”ti.

 

10. - Này Bà-la-môn, thuở xưa có vị vua tên là Mahàvijita, giàu có, đại phú, tài sản sung măn, có nhiều vàng bạc, có nhiều vật dụng, có nhiều tài vật ngũ cốc, kho tàng sung măn. Này Bà-la-môn, một hôm trong khi vua Mahàvijita đang ngồi yên lặng tại một tịnh xứ, sự suy tư sau đây được khởi lên: "Ta nay đặng vô lượng tài sản thuộc nhân gian, chinh phục đại địa cầu và sống an trú như vậy. Ta hăy tổ chức đại tế đàn, và nhờ vậy ta sẽ hưởng được hạnh phúc an lạc lâu ngày".

 

337. Atha kho brāhmaṇa rājā mahāvijito purohitaṃ brāhmaṇaṃ āmantetvā etadavoca “Idha mayhaṃ brāhmaṇa rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ cetaso parivitakko udapādi, ‘Adhigatā kho me vipulā mānusakā bhogā, mahantaṃ pathavimaṇḍalaṃ abhivijiya ajjhāvasāmi, yaṃnūnāhaṃ mahāyaññaṃ yajeyyaṃ yaṃ mama assa dīgharattaṃ hitāya sukhāyā’ti, icchāmahaṃ brāhmaṇa mahāyaññaṃ yajituṃ, anusāsatu maṃ bhavaṃ yaṃ mama assa dīgharattaṃ hitāya sukhāyā”ti.

 

Này Bà-la-môn, vua Mahàvijita liền cho mời vị Bà-la-môn chủ tế và nói: "Này Bà-la-môn, trong khi ta đang ngồi yên lặng tại một tinh xứ, sự suy tư sau đây khởi lên: "Ta nay đặng vô lượng tài bảo thuộc nhân gian, chinh phục đại địa cầu và sống an trú như vậy. Ta hăy tổ chức đại tế đàn, và nhờ vậy ta sẽ được hưởng hạnh phúc an lạc lâu ngày". Này Bà-la-môn, ta muốn tổ chức đại tế đàn, khanh hăy khuyên ta như thế nào để ta được hưởng hạnh phúc an lạc lâu ngày?"

 

338. Evaṃ vutte brāhmaṇa purohito brāhmaṇo rājānaṃ mahāvijitaṃ etadavoca “Bhoto kho rañño janapado sakaṇṭako sa-uppīḷo, gāmaghātāpi dissanti, nigamaghātāpi dissanti, nagaraghātāpi dissanti, panthaduhanāpi dissanti. Bhavaṃ kho pana rājā evaṃ sakaṇṭake janapade sa-uppīḷe balimuddhareyya, akiccakārī assa tena bhavaṃ rājā. Siyā kho pana bhoto rañño evamassa ‘Ahametaṃ dassukhīlaṃ vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā pabbājanāya vā samūhanissāmī’ti, na kho panetassa dassukhīlassa evaṃ sammā samugghāto hoti, ye te hatāvasesakā bhavissanti, te pacchā rañño janapadaṃ viheṭhessanti. Api ca kho idaṃ saṃvidhānaṃ āgamma evametassa dassukhīlassa sammā samugghāto hoti, tena hi bhavaṃ rājā ye bhoto rañño janapade ussahanti kasigorakkhe, tesaṃ bhavaṃ rājā bījabhattaṃ anuppadetu. Ye bhoto rañño janapade ussahanti vāṇijjāya, tesaṃ bhavaṃ rājā pābhataṃ anuppadetu. Ye bhoto rañño janapade ussahanti rājaporise, tesaṃ bhavaṃ rājā bhattavetanaṃ pakappetu. Te ca manussā sakammapasutā rañño janapadaṃ na viheṭhessanti, mahā ca rañño rāsiko bhavissati. Khemaṭṭhitā janapadā akaṇṭakā anuppīḷā manussā mudā modamānā ure putte naccentā apārutagharā maññe viharissantī”ti. “Evaṃ bho”ti kho brāhmaṇa rājā mahāvijito purohitassa brāhmaṇassa paṭissutvā ye rañño janapade ussahiṃsu kasigorakkhe, tesaṃ rājā mahāvijito bījabhattaṃ anuppadāsi.

 

11. Này Bà-la-môn, khi nghe nói vậy, vị Bà-la-môn chủ tế tâu với vua Mahàvijita như sau: "Đại vương, vương quốc (này) chịu tai ương, chịu ách nạn, đầy rẫy bọn cướp làng, đầy rẫy bọn cướp ấp, đầy rẫy bọn cướp đô thị, đầy rẫy bọn cướp đường. Trong quốc độ chịu tai ương, chịu ách nạn như vậy, nếu Tôn vương đánh thuế má mới, như vậy Tôn vương có ư nghĩ: "Ta hăy trừ diệt bọn giặc cỏ này, hoặc bằng tử h́nh, hoặc bằng cấm cố, hoặc bằng phạt vạ, hoặc bằng khiển trách, hoặc bằng tẩn xuất". Nhưng bọn giặc cỏ này sẽ không được trừ diệt một cách hoàn toàn. Những bọn c̣n lại không bị h́nh phạt sau lại tiếp tục hoành hành vương quốc này. Nhưng nếu theo phương pháp sau đây bọn giặc cỏ ấy sẽ được trừ diệt một cách hoàn toàn: những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về nông nghiệp và mục súc, Tôn vương hăy cấp cho những vị ấy hột giống và thực vật; những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về thương nghiệp, Tôn vương hăy cấp cho những vị ấy vốn đầu tư; những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về quan chức, Tôn vương hăy cấp cho những vị ấy vật thực và lương bổng. Và những người này chuyên tâm vào nghề riêng của ḿnh sẽ không nhiễu hại quốc độ nhà vua. Và ngân quỹ nhà vua sẽ được dồi dào, quốc độ sẽ được an cư lạc nghiệp, không có tai ương, ách nạn và dân chúng hoan hỷ vui vẻ, cho con nhảy trên ngực, sống chẳng khác ǵ với nhà cửa mở rộng". - "Vâng, Tôn giả". - Này Bà-la-môn, vua Mahàvijita vâng theo lời khuyên của vị Bà-la-môn chủ tế: những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về nông nghiệp và mục súc, Tôn vương Mahàvijita cấp cho những vị ấy hột giống và thực vật;

 

Ye ca rañño janapade ussahiṃsu vāṇijjāya, tesaṃ rājā mahāvijito pābhataṃ anuppadāsi. Ye ca rañño janapade ussahiṃsu rājaporise, tesaṃ rājā mahāvijito bhattavetanaṃ pakappesi. Te ca manussā sakammapasutā rañño janapadaṃ na viheṭhiṃsu, mahā ca rañño rāsiko ahosi. Khemaṭṭhitā janapadā akaṇṭakā anuppīḷā manussā mudā modamānā ure putte naccentā apārutagharā maññe vihariṃsu.

 

những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về thương nghiệp, Tôn vương Mahàvijita cấp cho những vị ấy vốn đầu tư; những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về quan chức, Tôn vương Mahàvijita cấp cho những vị ấy vật thực và lương bổng. Và những người này chuyên tâm về nghề của ḿnh không c̣n nhiễu hại quốc độ nhà vua; ngân quỹ nhà vua được dồi dào, quốc độ được an cư lạc nghiệp không có tai ương ách nạn và dân chúng hoan hỷ vui vẻ, cho con nhảy trên ngực, sống chẳng khác ǵ với nhà cửa mở rộng.

 

<Bài Kinh Trước>

<Trang Kế>

 

 | 05-01 | 05-02 |
| Mục lục Trường Bộ I | Mục lục Trường Bộ II | Mục lục Trường Bộ III |
 

<Đầu Trang>