|
05.
KŪṬADANTASUTTAṂ
(tiếp theo)
|
|
05. KŪṬADANTASUTTAṂ - Tạng
Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ |
05. KINH
CỨU-LA-ĐÀN ĐẦU - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas, phiên bản 7.07 |
|
Atha kho brāhmaṇa rājā mahāvijito purohitaṃ brāhmaṇaṃ āmantetvā
etadavoca “Samūhato kho me bhoso dassukhīlo bhoto saṃvidhānaṃ
āgamma mahā ca me rāsiko khemaṭṭhitā janapadā akaṇṭakā anuppīḷā
manussā mudā modamānā ure putte naccentā apārutagharā maññe
viharanti. Icchāmahaṃ brāhmaṇa mahāyaññaṃ yajituṃ, anusāsatu maṃ
bhavaṃ yaṃ mama assa dīgharattaṃ hitāya sukhāyā”ti.
|
12. Rồi này Bà-la-môn, vua
Mahàvijita cho mời vị Bà-la-môn chủ tế và nói: "Này khanh, ta đã
trừ diệt bọn giặc cỏ nhờ áp dụng phương pháp này, ngân quỹ của
ta được dồi dào, quốc độ được an cư lạc nghiệp, không có tai
ương ách nạn, và dân chúng hoan hỷ, vui vẻ, cho con nhảy trên
ngực, sống chẳng khác gì với nhà cửa mở rộng. Này Bà-la-môn, ta
muốn tổ chức đại tế đàn, khanh hãy khuyên ta như thế nào để ta
được hưởng hạnh phúc an lạc lâu ngày?"
|
|
Catuparikkhāra
339. Tena hi
bhavaṃ rājā ye bhoto rañño janapade khattiyā ānuyantā negamā
ceva jānapadā ca te bhavaṃ rājā āmantayataṃ “Icchāmahaṃ bho
mahāyaññaṃ yajituṃ, anujānantu me Bhavanto yaṃ mama assa
dīgharattaṃ hitāya sukhāyā”ti. Ye bhoto rañño janapade
amaccā pārisajjā negamā ceva jānapadā ca ‑pa‑
brāhmaṇamahāsālā negamā ceva jānapadā ca ‑pa‑
gahapatinecayikā negamā ceva jānapadā ca, te bhavaṃ rājā
āmantayataṃ “Icchāmahaṃ bho mahāyaññaṃ yajituṃ, anujānantu
me Bhavanto yaṃ mama assa dīgharattaṃ hitāya sukhāyā”ti.
“Evaṃ bho”ti kho brāhmaṇa rājā mahāvijito purohitassa
brāhmaṇassa paṭissutvā ye rañño janapade khattiyā ānuyantā
negamā ceva jānapadā ca, te rājā mahāvijito āmantesi
“Icchāmahaṃ bho mahāyaññaṃ yajituṃ, anujānantu me bhavanto
yaṃ mama assa dīgharattaṃ hitāya sukhāyā”ti. Yajataṃ bhavaṃ
rājā yaññaṃ, yaññakālo mahārājāti.
Ye rañño janapade amaccā
pārisajjā negamā ceva jānapadā ca ‑pa‑ brāhmaṇamahāsālā
negamā ceva jānapadā ca ‑pa‑ gahapatinecayikā negamā ceva
jānapadā ca, te rājā mahāvijito āmantesi “Icchāmahaṃ bho
mahāyaññaṃ yajituṃ, anujānantu me bhavanto yaṃ mama assa
dīgharattaṃ hitāya sukhāyā”ti. Yajataṃ bhavaṃ rājā yaññaṃ,
yaññakālo mahārājāti.
Itime cattāro anumatipakkhā tasseva
yaññassa parikkhārā bhavanti.
|
- "Vậy Tôn vương hãy cho
mời tất cả những vị Sát-đế-lỵ trong quốc độ nhà vua cùng với các
chư hầu cả tại tỉnh thành và ngoài tỉnh thành và nói: "Này các
khanh, ta muốn tổ chức đại tế đàn. Các khanh hãy tán thành để ta
được hưởng hạnh phúc an lạc lâu ngày". Ðối với tất cả những đại
thần trong quốc độ nhà vua, cùng với quyến thuộc cả tại tỉnh
thành và ngoài tỉnh thành... tất cả những gia chủ phú hào cả tại
tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, Tôn vương hãy mời những vị ấy và
nói: "Này các khanh, Ta muốn tổ chức đại tế đàn. Các khanh hãy
tán thành để ta được hưởng an lạc hạnh phúc lâu dài".
Này Bà-la-môn, vua Mahàvijita
nghe theo vị Bà-la-môn chủ tế cho mời tất cả những vị Sát-đế-lỵ
trong quốc độ nhà vua cùng với các chư hầu cả tại tỉnh thành và
ngoài tỉnh thành và nói: "Này các khanh, ta muốn tổ chức đại tế
đàn. Các khanh hãy tán thành để ta được hưởng hạnh phúc an lạc
lâu ngày". - "Tôn vương hãy tổ chức tế đàn. Ðại vương, tế đàn
này là hợp thời".
Ðối với tất cả những đại thần
trong quốc độ nhà vua cùng với quyến thuộc cả tại tỉnh thành và
ngoài tỉnh thành... tất cả những vị Bà-la-môn và đại gia chủ cả
tại tỉnh thành và ngoài tỉnh thành... tất cả những gia chủ phú
hào cả tại tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, vua Mahàvijita mời
những vị ấy và nói: "Này các khanh ta muốn tổ chức đại tế đàn.
Các khanh hãy tán thành để ta được hưởng hạnh phúc an lạc lâu
ngày". - "Ðại vương hãy tổ chức tế đàn, Ðại vương, tế đàn này là
hợp thời".
Như vậy bốn đại chúng đã thừa
nhận tế đàn trở thành những yếu kiện cho lễ tế đàn này.
|
|
Aṭṭhaparikkhāra
340. Rājā
mahāvijito aṭṭhahaṅgehi samannāgato, ubhato sujāto mātito ca
pitito ca saṃsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā
akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena, abhirūpo dassanīyo
pāsādiko paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgato brahmavaṇṇī
brahmavacchasī akhuddāvakāso dassanāya, aḍḍho mahaddhano
mahābhogo pahūtajātarūparajato pahūtavittūpakaraṇo
pahūtadhanadhañño paripuṇṇakosakoṭṭhāgāro, balavā
caturaṅginiyā senāya samannāgato assavāya ovādapaṭikarāya
sahati (Patapati - Sī, I; tapati - Syā)
maññe paccatthike yasasā, saddho dāyako dānapati
anāvaṭadvāro samaṇabrāhmaṇakapaṇaddhika vaṇibbaka yācakānaṃ
opānabhūto puññāni karoti, bahussuto tassa tassa
sutajātassa, tassa tasseva kho pana bhāsitassa atthaṃ jānāti
“Ayaṃ imassa bhāsitassa attho ayaṃ imassa bhāsitassa
attho”ti, paṇḍito viyatto medhāvī paṭibalo
atītānāgatapaccunne atthe cintetuṃ. Rājā mahāvijito imehi
aṭṭhahaṅgehi samannāgato. Iti imānipi aṭṭhaṅgāni tasseva
yaññassa parikkhārā bhavanti.
|
13. Vua Mahàvijita có tám đức
tánh sau đây: Thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống
thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không một vết nhơ nào, một
dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Ðẹp trai, khả ái,
làm đẹp lòng mọi người, với màu da thù thắng, khôi ngô tuấn tú,
cử chỉ trang nhã, dáng điệu cao thượng. Là nhà giàu có, đại phú,
sung túc tài sản, đầy rẫy vàng và bạc, đầy rẫy tài bảo, đầy rẫy
sản nghiệp, ngũ cốc, thương khố sung mãn. Có uy lực, đầy đủ bốn
loại quân chủng, chinh phục địch quân như với oai danh (của
mình). Một vị có tín tâm, có từ tâm, một thí chủ, cửa nhà mở
rộng, một giếng khơi cho Sa-môn, Bà-la-môn bần cùng nghèo khó,
khất sĩ, một vị làm các công đức. Một vị bác học trong mọi vấn
đề. Thông hiểu ý nghĩa của lời nói: "Ðây là ý nghĩa của lời nói
này, đây là ý nghĩ của lời nói này". Một nhà bác học, tinh
luyện, sáng suốt và có thể suy tư về những vấn đề quá khứ, vị
lai, hiện tại. Vua Mahàvijita có đầy đủ tám đặc tánh này. Chính
tám đặc tánh này làm những yếu kiện cho tế đàn ấy.
|
|
Catuparikkhāra
341. Purohito
(Purohitopi
- Ka - Sī, Ka)
brāhmaṇo catūhaṅgehi samannāgato, ubhato sujāto mātito ca
pitito ca saṃsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā
akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena, ajjhāyako mantadharo
tiṇṇaṃ vedānaṃ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṃ
sākkharappabhedānaṃ itihāsapañcamānaṃ padako veyyākaraṇo
lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo, sīlavā vuddhasīlī
vuddhasīlena samannāgato, paṇḍito viyatto medhāvī paṭhamo vā
dutiyo vā sujaṃ paggaṇhantānaṃ. Purohito brāhmaṇo imehi
catūhaṅgehi samannāgato. Iti imānipi cattāri aṅgāni tasseva
yaññassa parikkhārā bhavanti.
|
14. Vị Bà-la-môn chủ tế có đầy
đủ bốn đức tánh: Thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống
thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, một
dèm pha nào, về vấn đề huyết thống thọ sanh - là nhà phúng tụng,
là nhà trì chú, thông hiểu ba tập Vedà với danh nghĩa, lễ nghi,
ngữ nguyên, chú giải và lịch sử truyền thống là thứ năm, thông
hiểu ngữ pháp và văn phạm, biệt tài về Thuận thế (tự nhiên học)
và tướng của vị đại nhân, có đức hạnh, đức độ cao dày, đầy đủ
giới hạnh cao dày - một vị bác học, tinh luyện, sáng suốt, là
nhà cầm muỗng thứ nhất hay thứ hai. Vị Bà-la-môn chủ tế có đầy
đủ bốn đức tánh này, chính bốn đức tánh này làm những yếu kiện
cho tế đàn ấy.
|
|
Tisso
vidhā
342. Atha kho
brāhmaṇa purohito brāhmaṇo rañño mahāvijitassa pubbeva yaññā
tisso vidhā desesi. Siyā kho pana bhoto rañño mahāyaññaṃ
yiṭṭhukāmassa (Yiṭṭhakāmassa - Ka)
kocideva vippaṭisāro “Mahā vata me bhogakkhandho
vigacchissatī”ti, so bhotā raññā vippaṭisāro na karaṇīyo.
Siyā kho pana bhoto rañño mahāyaññaṃ yajamānassa kocideva
vippaṭisāro “Mahā vata me bhogakkhandho vigacchatī”ti, so
bhotā raññā vippaṭisāro na karaṇīyo. Siyā kho pana bhoto
rañño mahāyaññaṃ yiṭṭhassa kocideva vippaṭisāro “Mahā vata
me bhogakkhandho vigato”ti, so bhotā raññā vippaṭisāro na
karaṇīyoti.
Imā kho brāhmaṇa purohito brāhmaṇo rañño
mahāvijitassa pubbeva yaññā tisso vidhā desesi.
|
15. Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn
chủ tế trước khi lễ đàn có giảng ba pháp cho vua Mahàvijita:
"Trước khi muốn làm lễ đại tế đàn, nếu Tôn vương có sự hối tiếc:
"Thật vậy, một phần lớn tài sản của ta sẽ bị tiêu hao", Tôn
vương không nên có sự hối tiếc này. Trong khi đang làm lễ đại tế
đàn, nếu Tôn vương có sự hối tiếc: "Thật vậy, một phần lớn tài
sản của ta bị tiêu hao". Tôn vương không nên có sự hối tiếc này.
Khi đã làm lễ đại tế đàn, nếu Tôn vương có sự hối tiếc: "Thật
vậy, một phần lớn tài sản của Ta bị tiêu hao". Tôn vương không
nên có sự hối tiếc này".
Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn chủ
tế trước khi lễ đàn có giảng ba pháp cho vua Mahàvijita.
|
|
Dasa-ākāra.
343. Atha kho
brāhmaṇa purohito brāhmaṇo rañño mahāvijitassa pubbeva yaññā
dasahākārehi paṭiggāhakesu vippaṭisāraṃ paṭivinesi.
Āgamissanti
kho bhoto yaññaṃ pāṇātipātinopi pāṇātipātā paṭiviratāpi, ye
tattha pāṇātipātino, tesaṃyeva tena, ye tattha pāṇātipātā
paṭiviratā, te ārabbha yajataṃ bhavaṃ, sajjataṃ bhavaṃ,
modataṃ bhavaṃ, cittameva bhavaṃ antaraṃ pasādetu.
Āgamissanti
kho bhoto yaññaṃ adinnādāyinopi adinnādānā paṭiviratāpi
‑pa‑. Kāmesu micchācārinopi kāmesumicchācārā paṭiviratāpi.
Musāvādinopi musāvādā paṭiviratāpi. Pisuṇavācinopi pisuṇāya
vācāya paṭiviratāpi. Pharusavācinopi pharusāya vācāya
paṭiviratāpi. Samphappalāpinopi samphappalāpā paṭiviratāpi.
Abhijjhālunopi anabhijjhālunopi. Byāpannacittāpi
abyāpannacittāpi. Micchādiṭṭhikāpi sammādiṭṭhikāpi, ye
tattha micchādiṭṭhikā, tesaṃyeva tena, ye tattha
sammādiṭṭhikā, te ārabbha yajataṃ bhavaṃ, sajjataṃ bhavaṃ,
modataṃ bhavaṃ, cittameva bhavaṃ antaraṃ pasādetūti. Imehi
kho brāhmaṇa purohito brāhmaṇo rañño mahāvijitassa pubbeva
yaññā dasahākārehi paṭiggāhakesu vippaṭisāraṃ paṭivinesi.
|
16. Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn
chủ tế trước lễ tế đàn để ngăn chặn sự hối tiếc theo mười cách
có thể khởi lên đối với người tham dự (lễ tế đàn) đã nói với vua
Mahàvijita: "Tôn vương, có những người sát sanh đến tại lễ tế
đàn và có những người không sát sanh. Ở đây, đối với những người
sát sanh, hãy để cho chúng yên. Ở đây, đối với những người không
sát sanh, hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm của chúng
được an vui hoan hỷ. Tôn vương, có những người lấy của không cho
đến tại lễ tế đàn và có những người không lấy của không cho...
có những người tà dâm và có những người không tà dâm, có những
người nói láo và có những người không nói láo, có những người
nói hai lưỡi, và có những người không nói hai lưỡi, có những
người nói lời độc ác và có những người không nói lời độc ác, có
những người nói lời phù phiếm và có những người không nói lời
phù phiếm, có những người có lòng tham và có những người không
có lòng tham, có những người có lòng sân và có những người không
có lòng sân, có những người có tà kiến và có những người có
chánh kiến. Ở đây, đối với những người có tà kiến hãy để chúng
yên. Ðối với những người có chánh kiến, hãy tổ chức tế đàn một
cách khiến nội tâm của chúng được an vui, hoan hỷ".
Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn chủ
tế trước lễ tế đàn đã ngăn chận sự hối tiếc theo mười cách có
thể khởi lên đối với những người tham dự (lễ tế đàn).
|
|
Soḷasākāra
344. Atha kho
brāhmaṇa purohito brāhmaṇo rañño mahāvijitassa mahāyaññaṃ
yajamānassa soḷasahākārehi cittaṃ sandassesi samādapesi
samuttejesi sampahaṃsesi. Siyā kho pana bhoto rañño
mahāyaññaṃ yajamānassa kocideva vattā “Rājā kho mahāvijito
mahāyaññaṃ yajati, no ca kho tassa āmantitā khattiyā
ānuyantā negamā ceva jānapadā ca, atha ca pana bhavaṃ rājā
evarūpaṃ mahāyaññaṃ yajatī”ti, evampi bhoto rañño vattā
dhammato natthi. Bhotā kho pana raññā āmantitā khattiyā
ānuyantā negamā ceva jānapadā ca. Imināpetaṃ bhavaṃ rājā
jānātu, yajataṃ bhavaṃ, sajjataṃ bhavaṃ, modataṃ bhavaṃ,
cittameva bhavaṃ antaraṃ pasādetu. (1)
|
17. Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn
chủ tế khi vua đang làm lễ tế đàn, đã khuyên giáo, tưởng lệ,...
kích thích và làm tâm (của vua) hoan hỷ với mười sáu phương
pháp: "Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế đàn, nếu có người
nói: "Vua Mahàvijita tổ chức đại tế đàn nhưng không mời các vị
Sát-đế-lỵ thân tộc ở tỉnh thành và ở ngoài tỉnh thành; Tôn vương
tổ chức lễ đại tế đàn như vậy". Lời nói về Tôn vương như vậy
không đúng sự thật; Tôn vương đã có mời các vị Sát-đế-lỵ thân
tộc ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành. Do vậy, Tôn vương nên
biết: "Hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm được an vui
hoan hỷ". |
|
Siyā kho pana
bhoto rañño mahāyaññaṃ yajamānassa kocideva vattā “Rājā kho
mahāvijito mahāyaññaṃ yajati, no ca kho tassa āmantitā
amaccā pārisajjā negamā ceva jānapadā ca ‑pa‑
brāhmaṇamahāsālā negamā ceva jānapadā ca ‑pa‑
gahapatinecayikā negamā ceva jānapadā ca, atha ca pana
bhavaṃ rājā evarūpaṃ mahāyaññaṃ yajatī”ti, evampi bhoto
rañño vattā dhammato natthi. Bhotā kho pana raññā āmantitā
gahapatinecayikā negamā ceva jānapadā ca. Imināpetaṃ bhavaṃ
rājā jānātu, yajataṃ bhavaṃ, sajjataṃ bhavaṃ, modataṃ
bhavaṃ, cittameva bhavaṃ antaraṃ pasādetu. (4)
|
Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế đàn, nếu có
người nói: "Vua Mahàvijita tổ chức đại tế đàn, nhưng không mời
các vị đại thần quyến thuộc ở tỉnh thành và ở ngoài tỉnh
thành... Bà-la-môn đại gia ở tỉnh thành và ở ngoài tỉnh thành...
cư sĩ phú hào ở tỉnh thành và ở ngoài tỉnh thành. Tôn vương tổ
chức lễ đại tế đàn như vậy". Lời nói về Tôn vương như vậy không
đúng sự thật; Tôn vương đã có mời các vị cư sĩ phú hào ở tỉnh
thành và ở ngoài tỉnh thành; Do vậy Tôn vương nên biết: "Hãy tổ
chức lễ tế đàn một cách khiến nội tâm được an vui, hoan hỷ". |
|
Siyā kho pana
bhoto rañño mahāyaññaṃ yajamānassa kocideva vattā “Rājā kho
mahāvijito mahāyaññaṃ yajati, no ca kho ubhato sujāto mātito
ca pitito ca saṃsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā
akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena, atha ca pana bhavaṃ rājā
evarūpaṃ mahāyaññaṃ yajatī”ti, evampi bhoto rañño vattā
dhammato natthi. Bhavaṃ kho pana rājā ubhato sujāto mātito
ca pitito ca saṃsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā
akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena. Imināpetaṃ bhavaṃ rājā
jānātu, yajataṃ bhavaṃ, sajjataṃ bhavaṃ, modataṃ bhavaṃ,
cittameva bhavaṃ antaraṃ pasādetu. (5)
|
Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế đàn, nếu có người nói:
"Vua Mahàvijita tổ chức đại tế đàn, nhưng không thiện sanh cả từ
mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ,
không bị một vết nhơ nào, một dèm pha nào về vấn đề huyết thống
thọ sanh". Do vậy Tôn vương nên biết: "Hãy tổ chức tế đàn một
cách khiến nội tâm được an vui, hoan hỷ". Trong khi Tôn vương
đang tổ chức đại tế đàn nếu có người nói: "Vua Mahàvijita tổ
chức đại tế đàn, nhưng không thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ,
huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết
nhơ nào, một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh". Do vậy
Tôn vương nên biết: "Hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm
được an vui, hoan hỷ". |
|
Siyā kho pana
bhoto rañño mahāyaññaṃ yajamānassa kocideva vattā “Rājā kho
mahāvijito mahāyaññaṃ yajati, no ca kho abhirūpo dassanīyo
pāsādiko paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgato brahmavaṇṇī
brahmavacchasī akhuddāvakāso dassanāya ‑pa‑ no ca kho aḍḍho
mahaddhano mahābhogo pahūtajātarūparajato
pahūtavittūpakaraṇo pahūtadhanadhañño
paripuṇṇakosakoṭṭhāgāro ‑pa‑ no ca kho balavā caturaṅginiyā
senāya samannāgato assavāya ovādapaṭikarāya sahati maññe
paccatthike yasasā ‑pa‑ no ca kho saddho dāyako dānapati
anāvaṭadvāro samaṇabrāhmaṇakapaṇaddhikavaṇibbakayācakānaṃ
opānabhūto puññāni karoti ‑pa‑ no ca kho bahussuto tassa
tassa sutajātassa ‑pa‑ no ca kho tassa tasseva kho pana
bhāsitassa atthaṃ jānāti “Ayaṃ imassa bhāsitassa attho, ayaṃ
imassa bhāsitassa attho”ti ‑pa‑ no ca kho paṇḍito viyatto
medhāvī paṭibalo atītānāgatapaccuppanne atthe cintetuṃ, atha
ca pana bhavaṃ rājā evarūpaṃ mahāyaññaṃ yajatī”ti, evampi
bhoto rañño vattā dhammato natthi. Bhavaṃ kho pana rājā
paṇḍito viyatto medhāvī paṭibalo atītānāgatapaccuppanne
atthe cintetuṃ. Imināpetaṃ bhavaṃ rājā jānātu, yajataṃ
bhavaṃ, sajjataṃ bhavaṃ, modataṃ bhavaṃ, cittameva bhavaṃ
antaraṃ pasādetu. (12)
|
Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế
đàn, nếu có người nói: "Vua Mahàvijita tổ chức đại tế đàn nhưng
không đẹp trai khả ái, làm đẹp lòng mọi người, với màu da thù
thắng, khôi ngô, tuấn tú, cử chỉ trang nhã, dáng điệu cao
thượng... không phải là nhà giàu có, đại phú, sung túc tài sản,
đầy rẫy vàng và bạc, đầy rẫy tài bảo, đầy rẫy sản nghiệp ngũ
cốc, thương khố sung mãn... không có uy lực, đầy đủ bốn loại
quân chủng, chinh phục địch quân như với oai danh của mình...
không có tín tâm, không có từ tâm, không phải một thí chủ, cửa
nhà mở rộng, một giếng khơi cho Sa-môn, Bà-la-môn, bần cùng,
nghèo khó, khất sĩ, một vị làm các công đức... không phải là vị
bác học trong mọi vấn đề... không thông hiểu ý nghĩa của lời
nói: "Ðây là ý nghĩa của lời nói này, đây là ý nghĩa của lời nói
này... không phải là nhà bác học tinh luyện, sáng suốt và có thể
suy tư về những vấn đề quá khứ, vị lai, hiện tại... Tôn vương tổ
chức lễ đại tế đàn như vậy". Lời nói về Tôn vương như vậy không
đúng sự thật. Tôn vương là nhà bác học, tinh luyện, sáng suốt,
và có thể suy tư về vấn đề quá khứ, vị lai, hiện tại... Do vậy,
Tôn vương nên biết: "Hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm
được an vui, hoan hỷ". |
|
Siyā kho pana
bhoto rañño mahāyaññaṃ yajamānassa kocideva vattā “Rājā kho
mahāvijito mahāyaññaṃ yajati, no ca khvassa purohito
brāhmaṇo ubhato sujāto mātito ca pitito ca saṃsuddhagahaṇiko
yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto anupakkuṭṭho jātivādena,
atha ca pana bhavaṃ rājā evarūpaṃ mahāyaññaṃ yajatī”ti,
evampi bhoto rañño vattā dhammato natthi. Bhoto kho pana
rañño purohito brāhmaṇo ubhato sujāto mātito ca pitito ca
saṃsuddhagahaṇiko yāva sattamā pitāmahayugā akkhitto
anupakkuṭṭho jātivādena. Imināpetaṃ bhavaṃ rājā jānātu,
yajataṃ bhavaṃ sajjataṃ bhavaṃ, modataṃ bhavaṃ, cittameva
bhavaṃ antaraṃ pasādetu. (13)
|
Trong khi Tôn vương đang tổ chức đại tế
đàn, nếu có người nói: "Vua Mahàvijita tổ chức đại tế đàn, nhưng
vị Bà-la-môn chủ tế của vua không thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ
hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một
vết nhơ nào, một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Tôn
vương tổ chức lễ đại tế đàn như vậy. "Lời nói về Tôn vương như
vậy không đúng sự thật. Vị Bà-la-môn chủ tế của vua thiện sanh
cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời
tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, một dèm pha nào về vấn đề
huyết thống thọ sanh". Do vậy, Tôn vương nên biết: "Hãy tổ chức
tế đàn một cách khiến nội tâm được an vui, hoan hỷ"... |
|
Siyā kho pana
bhoto rañño mahāyaññaṃ yajamānassa kocideva vattā “Rājā kho
mahāvijito mahāyaññaṃ yajati, no ca khvassa purohito
brāhmaṇo ajjhāyako mantadharo tiṇṇaṃ vedānaṃ pāragū
sanighaṇḍukeṭubhānaṃ sākkharappabhedānaṃ itihāsapañcamānaṃ
padako veyyākaraṇo lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo ‑pa‑
no ca khvassa purohito brāhmaṇo sīlavā vuddhasīlī
vuddhasīlena samannāgato ‑pa‑ no ca khvassa purohito
brāhmaṇo paṇḍito viyatto medhāvī paṭhamo vā dutiyo vā sujaṃ
paggaṇhantānaṃ, atha ca pana bhavaṃ rājā evarūpaṃ mahāyaññaṃ
yajatī”ti, evampi bhoto rañño vattā dhammato natthi. Bhoto
kho pana rañño purohito brāhmaṇo paṇḍito viyatto medhāvī
paṭhamo vā dutiyo vā sujaṃ paggaṇhantānaṃ. Imināpetaṃ bhavaṃ
rājā jānātu, yajataṃ bhavaṃ, sajjataṃ bhavaṃ, modataṃ
bhavaṃ, cittameva bhavaṃ antaraṃ pasādetūti.
Imehi kho
brāhmaṇa purohito brāhmaṇo rañño mahāvijitassa mahāyaññaṃ
yajamānassa soḷasahi ākārehi cittaṃ sandassesi samādapesi
samuttejesi sampahaṃsesi. (16)
|
Trong khi
Tôn vương đang tổ chức đại tế đàn... Nhưng vị Bà-la-môn chủ tế
của vua không phải là nhà phúng tụng, là nhà trì chú, thông hiểu
ba tập Vedà với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và
lịch sử truyền thống là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn
phạm, biệt tài về Thuận thế (tự nhiên học) và tướng của vị đại
nhân... Nhưng vị Bà-la-môn chủ tế của vua không có đức hạnh,
không có đức độ cao dày, đầy đủ giới hạnh cao dày... Nhưng vị
Bà-la-môn chủ tế của vua không phải vị bác học, tinh luyện, sáng
suốt, là nhà cầm muỗng thứ nhất hay thứ hai, Tôn vương tổ chức
lễ đại tế đàn như vậy". Lời nói về Tôn vương như vậy không đúng
sự thật. Vị Bà-la-môn chủ tế của vua là nhà bác học, tinh luyện,
sáng suốt, là nhà cầm muỗng thứ nhất hay thứ hai. Do vậy Tôn
vương nên biết: "Hãy tổ chức tế đàn một cách khiến nội tâm được
an vui hoan hỷ".
Này Bà-la-môn, vị Bà-la-môn chủ
tế, khi vua đang làm lễ tế đàn đã khuyến giáo, tưởng lệ, kích
thích và làm tâm (của vua) được hoan hỷ bằng mười sáu phương
pháp.
|
|
345. Tasmiṃ
kho brāhmaṇa yaññe neva gāvo haññiṃsu, na ajeḷakā haññiṃsu,
na kukkuṭasūkarā haññiṃsu, na vividhā pāṇā saṃghātaṃ
āpajjiṃsu, na rukkhā chijjiṃsu yūpatthāya, na dabbhā lūyiṃsu
barihisatthāya (Parihiṃsatthāya - Syā, Ka - Sī, Ka; parahiṃsatthāya - Ka),
yepissa ahesuṃ dāsāti vā pessāti vā kammakarāti vā, tepi na
daṇḍatajjitā na bhayatajjitā na assumukhā rudamānā
parikammāni akaṃsu. Atha kho ye icchiṃsu, te akaṃsu, ye na
icchiṃsu, na te akaṃsu, yaṃ icchiṃsu, taṃ akaṃsu, yaṃ na
icchiṃsu, na taṃ akaṃsu,
sappitelanavanītadadhimadhuphāṇitena ceva so yañño
niṭṭhānamagamāsi.
|
18. Này Bà-la-môn, trong lễ tế
đàn này, không có trâu bò bị giết, không có dê cừu bị giết,
không có gà heo bị giết, không có các loại sinh vật nào khác vị
sát thương, không có cây cối bị chặt để làm trụ cột tế lễ, không
có loại cỏ dabbha (cỏ cát tường) bị cắt để rải xung quanh đàn
tế. Và những người gia bộc hay... người đem tin hay những người
làm thuê không bị dọa nạt bởi hình phạt, không bị dọa nạt bởi sợ
hãi và không làm việc trong than khóc với nước mắt tràn đầy mặt
mày. Chúng muốn thì chúng làm, chúng làm những gì chúng muốn. Tế
đàn nay được hoàn tất chỉ với dầu, sanh tô, thục tô, mật và
đường miếng.
|
|
346. Atha kho
brāhmaṇa khattiyā ānuyantā negamā ceva jānapadā ca. Amaccā
pārisajjā negamā ceva jānapadā ca. Brāhmaṇamahāsālā negamā
ceva jānapadā ca. Gahapatinecayikā negamā ceva jānapadā ca
pahūtaṃ sāpateyyaṃ ādāya rājānaṃ mahāvijitaṃ upasaṅkamitvā
evamāhaṃsu “Idaṃdeva pahūtaṃ sāpateyyaṃ devaññeva
uddissābhataṃ, taṃ devo paṭiggaṇhātū”ti. Alaṃ bho mamāpidaṃ
pahūtaṃ sāpateyyaṃ dhammikena balinā abhisaṅkhataṃ, tañca vo
hotu, ito ca bhiyyo harathāti. Te raññā paṭikkhittā
ekamantaṃ apakkamma evaṃ samacintesuṃ “Na kho etaṃ amhākaṃ
patirūpaṃ, yaṃ mayaṃ imāni sāpateyyāni punadeva sakāni
gharāni paṭihareyyāma, rājā kho mahāvijito mahāyaññaṃ
yajati, handassa mayaṃ anuyāgino homā”ti.
|
19. Này Bà-la-môn, các Sát-đế-lỵ
thân tộc ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, các đại thần quyến
thuộc ở tỉnh thành và ở ngoài tỉnh thành, các Bà-la-môn đại gia
ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, các cư sĩ phú hào ở tỉnh thành
và ngoài tỉnh thành đem theo nhiều tiền bạc của cải đến
Mahàvijita và thưa: "Ðại vương, tiền bạc của cải rất nhiều này
được đem đến để Ðại vương dùng, Ðại vương hãy lấy dùng". - "Này
các khanh, tiền bạc của cải rất nhiều được súc tích một cách
chính đáng này đối với ta đã vừa đủ. Các khanh hãy giữ các của
cải ấy cho các khanh; các khanh có thể đem theo nhiều hơn thế
nữa !". Các vị bị vua từ khước như vậy
đứng qua một bên và bàn luận như sau: "Tài sản này của chúng ta,
nếu chúng ta đem về nhà lại, thật không phải. Vua Mahàvijita tổ
chức đại tế đàn. Chúng ta hãy tổ chức một hậu tế đàn". |
|
347. Atha kho
brāhmaṇa puratthimena yaññavāṭassa (Yaññāvāṭassa - Sī, I, Ka)
khattiyā ānuyantā negamā ceva jānapadā ca dānāni
paṭṭhapesuṃ. Dakkhiṇena yaññavāṭassa amaccā pārisajjā negamā
ceva jānapadā ca dānāni paṭṭhapesuṃ. Pacchimena yaññavāṭassa
brāhmaṇamahāsālā negamā ceva jānapadā ca dānāni paṭṭhapesuṃ.
Uttarena yaññavāṭassa gahapatinecayikā negamā ceva jānapadā
ca dānāni paṭṭhapesuṃ.
|
20. Này Bà-la-môn, khi các vị
Sát-đế-lỵ thân tộc ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành đặt các thí
vật phía Ðông hố tế đàn; các đại thần quyến thuộc ở tỉnh thành
và ngoài tỉnh thành đặt các thí vật phía Nam hố tế đàn; các
Bà-la-môn đại gia ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành đặt các thí
vật phía Tây hố tế đàn; các cư sĩ phú hào ở tỉnh thành và ngoài
tỉnh thành đặt các thí vật phía Bắc hố tế đàn. |
|
Tesupi kho
brāhmaṇa yaññesu neva gāvo haññiṃsu, na ajeḷakā haññiṃsu, na
kukkuṭasūkarā haññiṃsu, na vividhā pāṇā saṃghātaṃ āpajjiṃsu,
na rukkhā chijjiṃsu yūpatthāya, na dabbhā lūyiṃsu
barihisatthāya. Yepi nesaṃ ahesuṃ dāsāti vā pessāti vā
kammakarāti vā, tepi na daṇḍatajjitā na bhayatajjitā na
assumukhā rudamānā parikammāni akaṃsu. Atha kho ye icchiṃsu,
te akaṃsu, ye na icchiṃsu, na te akaṃsu, yaṃ icchiṃsu, taṃ
akaṃsu, yaṃ na icchiṃsu, na taṃ akaṃsu,
sappitelanavanītadadhimadhuphāṇitena ceva te yaññā
niṭṭhānamagamaṃsu.
|
Này Bà-la-môn,
trong tế đàn của những vị này cũng vậy, không có trâu bò bị
giết, không có dê cừu bị giết, không có loại sinh vật nào khác
bị sát thương, không có cây cối bị chặt để làm cột trụ tế lễ,
không có loại cỏ dabbha (cỏ cát tường) bị cắt để rải xung quanh
đàn tế. Và những người gia bộc hay những người đưa tin, hay
những người làm thuê không bị dọa nạt bởi hình phạt, không bị
dọa nạt bởi sợ hãi và không làm việc trong than khóc với nước
mắt tràn đầy mặt mày. Chúng muốn thì chúng làm, chúng không muốn
thì chúng không làm, chúng làm những gì chúng muốn, chúng không
làm những gì chúng không muốn. Những tế đàn này được hoàn tất
chỉ với dầu, sanh tô, thục tô, mật và đường miếng.
|
|
Iti cattāro
ca anumatipakkhā, rājā mahāvijito aṭṭhahaṅgehi samannāgato,
purohito brāhmaṇo catūhaṅgehi samannāgato, tisso ca vidhā.
Ayaṃ vuccati brāhmaṇa tividhā yaññasampadā
soḷasaparikkhārāti.
|
Như vậy là bốn sự chấp thuận,
vua Mahàvijita thành tựu tám pháp, Bà-la-môn chủ tế thành tựu
bốn pháp và cả ba tế pháp. Này Bà-la-môn như vậy gọi là ba tế
pháp và mười sáu tế vật.
|
|
348. Evaṃ
vutte te brāhmaṇā unnādino uccāsaddamahāsaddā ahesuṃ “Aho
yañño, aho yaññasampadā”ti. Kūṭadanto pana brāhmaṇo
tuṇhībhūtova nisinno hoti. Atha kho te brāhmaṇā Kūṭadantaṃ
brāhmaṇaṃ etadavocuṃ “Kasmā pana bhavaṃ Kūṭadanto samaṇassa
Gotamassa subhāsitaṃ subhāsitato nābbhanumodatī”ti. Nāhaṃ
bho samaṇassa Gotamassa subhāsitaṃ subhāsitato
nābbhanumodāmi. Muddhāpi tassa vipateyya, yo samaṇassa
Gotamassa subhāsitaṃ subhāsitato nābbhanumodeyya. Api ca me
bho evaṃ hoti, samaṇo Gotamo na evamāha “Evaṃ me sutan”ti vā
“Evaṃ arahati bhavitun”ti vā. Api ca samaṇo Gotamo “Evaṃ
tadā āsi, itthaṃ tadā āsi”tveva bhāsati. Tassa mayhaṃ bho
evaṃ hoti “Addhā samaṇo Gotamo tena samayena rājā vā ahosi
mahāvijito yaññassāmi purohito vā brāhmaṇo tassa yaññassa
yājetā”ti. Abhijānāti pana bhavaṃ Gotamo evarūpaṃ yaññaṃ
yajitvā vā yājetvā vā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ
saggaṃ lokaṃ upapajjitāti.
Abhijānāmahaṃ brāhmaṇa evarūpaṃ
yaññaṃ yajitvā vā yājetvā vā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā
sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjitā, ahaṃ tena samayena purohito
brāhmaṇo ahosiṃ tassa yaññassa yājetāti.
|
21. Khi nghe nói như vậy những
Bà-la-môn ấy la to hét lớn: "Cao quý thay lễ tế đàn, vẻ vang
thay sự thành tựu của lễ tế đàn!". Nhưng Bà-la-môn Kùtadanta
ngồi yên lặng. Các vị Bà-la-môn ấy hỏi Bà-la-môn Kùtadanta: "Vì
sao Tôn giả Kùtadanta không tán thánh là thiện thuyết lời thiện
thuyết của Sa-môn Gotama?" - "Không phải ta không tán thán là
thiện thuyết lời thiện thuyết của Sa-môn Gotama. Nếu ai không
tán thán là thiện thuyết lời thiện thuyết của Sa-môn Gotama thì
đầu người ấy sẽ bị tan nát. Nhưng ta hiện đang suy nghĩ: Sa-môn
Gotama không nói: "Như vậy ta nghe" hay "Như vậy đáng phải là
thế". Nhưng ngài chỉ nói: "Khi sự việc xảy ra như vậy?". "Khi ấy
sự việc xảy ra như thế". Và ta nghĩ: Chắc chắn lúc bấy giờ,
Sa-môn Gotama là vua Mahàvijita chủ nhân của lễ tế đàn, hay là
vị Bà-la-môn chủ tế lễ tế đàn". Tôn giả Gotama có công nhận là
mình đứng ra tổ chức lễ tế đàn hay khiến người tổ chức lễ tế đàn
và sau khi thân hoại mạng chung được sanh ở thiện thú cõi trời,
ở đời này?"
Này Bà-la-môn, ta công nhận tự
mình đứng ra tổ chức lễ tế đàn hay khiến người tổ chức lễ tế
đàn, và sau khi thân hoại mạng chung được sanh ở thiện thú, cõi
trời ở đời này. Lúc bấy giờ ta là vị Bà-la-môn chủ tế đã đứng ra
chủ lễ tế đàn này.
|
|
Niccadāna
anukulayañña
349. Atthi
pana bho Gotama añño yañño imāya tividhāya yaññasampadāya (Tividhayaññasampadāya
- Ka)
soḷasaparikkhārāya appaṭṭhataro (Appatthataro
- Syā, Kaṃ)
ca
appasamārambhataro (Appasamārabbhataro
- Sī, I, Ka)
ca mahapphalataro ca mahānisaṃsataro cāti.
|
22. - Này Tôn giả Gotama, có tế
đàn nào khác ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo
hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật
này?
|
|
Atthi kho
brāhmaṇa añño yañño imāya tividhāya yaññasampadāya
soḷasaparikkhārāya appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca
mahapphalataro ca mahānisaṃsataro cāti.
|
- Này Bà-la-môn, có một tế đàn
khác ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo hơn,
nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này.
|
|
Katamo pana
so bho Gotama yañño imāya tividhāya yaññasampadāya
soḷasaparikkhārāya appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca
mahapphalataro ca mahānisaṃsataro cāti.
|
- Tôn giả Gotama, tế đàn khác ấy
là gì mà ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo,
nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này?
|
|
Yāni kho pana
tāni brāhmaṇa niccadānāni anukulayaññāni sīlavante pabbajite
uddissa diyyanti, ayaṃ kho brāhmaṇa yañño imāya tividhāya
yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya appaṭṭhataro ca
appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṃsataro
cāti.
|
- Này Bà-la-môn, chính là những
bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, cúng dường cho
những vị xuất gia có giới đức. Tế đàn ấy, này Bà-la-môn ít phiền
tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn
tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này.
|
|
Ko nu kho bho
Gotama hetu ko paccayo, yena taṃ niccadānaṃ anukulayaññaṃ
imāya tividhāya yaññasampadāya soḷasaparikkhārāya
appaṭṭhatarañca appasamārambhatarañca mahapphalatarañca
mahānisaṃsatarañcāti.
|
23. Tôn giả Gotama, do nhân gì,
do duyên gì mà những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi
cúng dường cho những vị xuất gia có giới đức, tế đàn ấy lại ít
phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi
ích hơn, tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này?
|
|
Na kho
brāhmaṇa evarūpaṃ yaññaṃ upasaṅkamanti Arahanto vā
Arahattamaggaṃ vā samāpannā. Taṃ kissa hetu, dissanti hettha
brāhmaṇa daṇḍappahārāpi galaggahāpi, tasmā evarūpaṃ yaññaṃ
na upasaṅkamanti Arahanto vā Arahattamaggaṃ vā samāpannā.
Yāni kho pana tāni brāhmaṇa niccadānāni anukulayaññāni
sīlavante pabbajite uddissa diyyanti, evarūpaṃ kho brāhmaṇa
yaññaṃ upasaṅkamanti Arahanto vā Arahattamaggaṃ vā
samāpannā. Taṃ kissa hetu, na hettha brāhmaṇa dissanti
daṇḍappahārāpi galaggahāpi, tasmā evarūpaṃ yaññaṃ
upasaṅkamanti Arahanto vā Arahattamaggaṃ vā samāpannā. Ayaṃ
kho brāhmaṇa hetu ayaṃ paccayo, yena taṃ niccadānaṃ
anukulayaññaṃ imāya tividhāya yaññasampadāya
soḷasaparikkhārāya appaṭṭhatarañca appasamārambhatarañca
mahapphalatarañca mahānisaṃsatarañcāti.
|
- Này Bà-la-môn, các vị A-la-hán
hay những vị đã bước vào con đường A-la-hán không đi đến tế đàn
như vậy. Vì cớ sao? Này Bà-la-môn, vì tại đấy có
thấy những sự đánh đập bằng roi gậy, có những sự túm cổ lôi kéo.
Do vậy các vị A-la-hán hay những vị đã bước vào con đường
A-la-hán không đi đến tế đàn như vậy. Những bố thí thường xuyên,
những tế đàn thuận lợi, cúng dường cho những vị xuất gia có giới
đức, này Bà-la-môn, các vị A-la-hán hay những vị đã bước vào con
đường A-la-hán đi đến những tế đàn như vậy. Vì cớ sao? Này
Bà-la-môn vì tại đấy không thấy những sự đánh đập bằng roi gậy,
không có những sự tóm cổ lôi kéo. Do vậy các vị A-la-hán hay
những vị đã bước vào con đường A-la-hán đi đến tế đàn như vậy.
Này Bà-la-môn, do nhân ấy, do duyên ấy, những bố thí thường
xuyên, những tế đàn thuận lợi cúng dường cho những vị xuất gia
có giới đức, tế đàn ấy ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều
kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp và mười sáu
tế vật này.
|
|
350. Atthi
pana bho Gotama añño yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya
soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena
appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca
mahānisaṃsataro cāti.
|
24. - Tôn giả Gotama, có tế đàn
nào khác ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn,
nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật và
những bố thí thường xuyên những tế đàn thuận lợi này?
|
|
Atthi kho
brāhmaṇa añño yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya
soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena
appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca
mahānisaṃsataro cāti. |
- Này Bà-la-môn có một tế đàn
khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn,
nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật và
những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi này.
|
|
Katamo pana
so bho Gotama yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya
soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena
appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca
mahānisaṃsataro cāti.
|
- Này Tôn giả Gotama, tế đàn
khác ấy là gì, mà ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết
quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế
vật và những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi này?
|
|
Yo kho
brāhmaṇa cātuddisaṃ Saṃghaṃ uddissa vihāraṃ karoti, ayaṃ kho
brāhmaṇa yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya
soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena
appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca
mahānisaṃsataro cāti.
|
- Này Bà-la-môn, chính là sự xây
dựng tinh xá cho bốn phương Tăng. Tế đàn ấy ít phiền tạp hơn, ít
nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với
ba tế pháp, mười sáu tế vật, và những bố thí thường xuyên, những
tế đàn thuận lợi này.
|
|
351. Atthi
pana bho Gotama añño yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya
soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā
ca vihāradānena appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca
mahapphalataro ca mahānisaṃsataro cāti.
|
25. Tôn giả Gotama, có tế đàn
nào khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn,
nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp mười sáu tế vật, những
bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi và sự cúng dường
tinh xá này?
|
|
Atthi kho
brāhmaṇa añño yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya
soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā
ca vihāradānena appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca
mahapphalataro ca mahānisaṃsataro cāti.
|
- Này Bà-la-môn, có một tế đàn
khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn,
nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, những
bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi và sự cúng dường
tinh xá này.
|
|
Katamo pana
so bho Gotama yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya
soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā
ca vihāradānena appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca
mahapphalataro ca mahānisaṃsataro cāti.
|
- Tôn giả Gotama, tế đàn khác ấy
là gì, mà ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo hơn,
nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, những
bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi và sự cúng dường
tinh xá này?
|
|
Yo kho
brāhmaṇa pasannacitto Buddhaṃ saraṇaṃ gacchati, Dhammaṃ
saraṇaṃ gacchati, Saṃghaṃ saraṇaṃ gacchati, ayaṃ kho
brāhmaṇa yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya
soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā
ca vihāradānena appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca
mahapphalataro ca mahānisaṃsataro cāti.
|
- Này Bà-la-môn, một ai với tâm
thành quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, này Bà-la-môn, tế đàn
ấy ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo hơn, nhiều
lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí
thường xuyên, đàn thí thuận lợi và sự cúng dường tinh xá này.
|
|
352. Atthi
pana bho Gotama añño yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya
soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā
ca vihāradānena imehi ca saraṇagamanehi appaṭṭhataro ca
appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṃsataro
cāti.
|
26. Tôn giả Gotama, có tế đàn
nào khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn,
nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố
thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá
và những sự quy y này?
|
|
Atthi kho
brāhmaṇa añño yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya
soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā
ca vihāradānena imehi ca saraṇagamanehi appaṭṭhataro ca
appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṃsataro
cāti.
|
- Này Bà-la-môn, có một tế đàn
khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn,
nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố
thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá
và những sự quy y này.
|
|
Katamo pana
so bho Gotama yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya
soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā
ca vihāradānena imehi ca saraṇagamanehi appaṭṭhataro ca
appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṃsataro
cāti.
|
- Tôn giả Gotama, tế đàn khác ấy
là gì, mà ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo hơn,
nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật ấy, sự
bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh
xá và những sự quy y ấy?
|
|
Yo kho
brāhmaṇa pasannacitto sikkhāpadāni samādiyati pāṇatipātā
veramaṇiṃ, adinnādānā veramaṇiṃ, kāmesumicchācārā veramaṇiṃ,
musāvādā veramaṇiṃ, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā veramaṇiṃ.
Ayaṃ kho brāhmaṇa yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya
soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā
ca vihāradānena imehi ca saraṇagamanehi appaṭṭhataro ca
appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṃsataro
cāti.
|
- Này Bà-la-môn, một ai với tâm
thành thọ trì những giới luật không sát sanh, không thâu đạo,
không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu.
Này Bà-la-môn tế đàn ấy ít phiền
tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn
tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên,
những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá và những sự quy y
này.
|
|
353. Atthi
pana bho Gotama añño yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya
soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā
ca vihāradānena imehi ca saraṇagamanehi imehi ca
sikkhāpadehi appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca
mahapphalataro ca mahānisaṃsataro cāti.
|
27. - Này Tôn giả Gotama, có tế
đàn nào khác, ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả
hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật,
sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường
tinh xá, những sự quy y và những giới luật này?
|
|
Atthi kho
brāhmaṇa añño yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya
soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā
ca vihāradānena imehi ca saraṇagamanehi imehi ca
sikkhāpadehi appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca
mahapphalataro ca mahānisaṃsataro cāti.
|
- Này Bà-la-môn, có một tế đàn
khác ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn,
nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố
thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá,
những sự quy y, những giới luật này.
|
|
Katamo pana
so bho Gotama yañño imāya ca tividhāya yaññasampadāya
soḷasaparikkhārāya iminā ca niccadānena anukulayaññena iminā
ca vihāradānena imehi ca saraṇagamanehi imehi ca
sikkhāpadehi appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca
mahapphalataro ca mahānisaṃsataro cāti.
|
- Tôn giả Gotama, tế đàn ấy là
gì mà ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn,
nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố
thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, sự cúng dường tinh xá,
những sự quy y và những giới luật này?
|
|
Idha brāhmaṇa
Tathāgato loke uppajjati Arahaṃ Sammāsambuddho ‑pa‑. (Yathā
sāmaññaphale, evaṃ vitthāretabbaṃ.) Evaṃ kho brāhmaṇa
bhikkhu sīlasampanno hoti ‑pa‑ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja
viharati. Ayaṃ kho brāhmaṇa yañño purimehi yaññehi
appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca
mahānisaṃsataro ca.
|
- Này Bà-la-môn, ở đây đức Như
Lai sanh ra đời, Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác... [tương tự như kinh
"Sa-môn quả", đoạn kinh 40-98]. Như vậy, này Bà-la-môn, vị
Tỷ-kheo thành tựu giới hạnh.
|
|
‑pa‑ dutiyaṃ
jhānaṃ. Tatiyaṃ jhānaṃ. Catutthaṃ jhānaṃ upasampajja
viharati. Ayaṃpi kho brāhmaṇa yañño purimehi yaññehi
appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca mahapphalataro ca
mahānisaṃsataro cāti.
|
... chứng và an trú sơ thiền.
Này Bà-la-môn, tế đàn này ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn,
nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn những tế đàn trước.
|
|
‑pa‑
ñāṇadassanāya cittaṃ abhinīharati abhininnāmehi. Ayaṃpi kho
brāhmaṇa yañño purimehi yaññehi appaṭṭhataro ca
appasamārambhataro ca mahapphalataro ca mahānisaṃsataro ca
‑pa‑ nāparaṃ itthattāyāti pajānāti. Ayaṃpi kho brāhmaṇa
yañño purimehi yaññehi appaṭṭhataro ca appasamārambhataro ca
mahapphalataro ca mahānisaṃsataro ca. Imāya ca brāhmaṇa
yaññasampadāya aññā yaññasampadā uttaritarā vā paṇītatarā vā
natthīti.
|
... nhị thiền... tam thiền...
chứng và an trú tứ thiền. Này Bà-la-môn, tế đàn này ít phiền tạp
hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn
những tế đàn trước... . không còn một đời sống khác. Vị ấy biết
như vậy. Này Bà-la-môn, tế đàn này ít phiền tạp hơn, ít nhiễu
hại, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn những tế đàn trước.
Này Bà-la-môn, không có một lễ tế đàn nào khác cao thượng hơn,
thù thắng hơn lễ tế đàn này.
|
|
Kūṭadanta
upāsakattapaṭivedanā
354. Evaṃ
vutte Kūṭadanto brāhmaṇo Bhagavantaṃ etadavoca
“Abhikkantaṃ
bho Gotama, abhikkantaṃ bho Gotama, seyyathāpi bho Gotama
nikkujjitaṃ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā vivareyya,
mūḷhassa vā maggaṃ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṃ
dhāreyya ‘Cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti, evamevaṃ bhotā
Gotamena anekapariyāyena Dhammo pakāsito, esāhaṃ bhavantaṃ
Gotamaṃ saraṇaṃ gacchāmi Dhammañca Bhikkhusaṃghañca,
upāsakaṃ maṃ bhavaṃ Gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ
saraṇaṃ gataṃ. Esāhaṃ bho Gotama satta ca usabhasatāni satta
ca vacchatarasatāni satta ca vacchatarīsatāni satta ca
ajasatāni satta ca urabbhasatāni muñcāmi, jīvitaṃ demi,
haritāni ceva tiṇāni khādantu, sītāni ca pānīyāni pivantu,
sīto ca nesaṃ vāto upavāyatū”ti.
|
28. Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn
Kùtadanta thưa với đức Thế Tôn:
- Thật vi diệu thay Tôn giả
Gotama! Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như
người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra
những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng
vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy
chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng phương tiện trình bày
giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và
quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn Giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ
nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng Tôn giả
Gotama, con xin trả tự do và sự sống cho bảy trăm con bò đực,
bảy trăm con bò cái, bảy trăm con dê và bảy trăm con cừu. Mong
chúng được ăn cỏ xanh và uống nước mát, mong chúng được hưởng
gió mát.
|
|
Sotāpattiphalasacchikiriyā
355. Atha kho
Bhagavā Kūṭadantassa brāhmaṇassa anupubbiṃ kathaṃ kathesi.
Seyyathidaṃ, dānakathaṃ sīlakathaṃ saggakathaṃ kāmānaṃ
ādīnavaṃ okāraṃ saṃkilesaṃ nekkhamme ānisaṃsaṃ pakāsesi.
Yadā Bhagavā aññāsi Kūṭadantaṃ brāhmaṇaṃ kallacittaṃ
muducittaṃ vinīvaraṇacittaṃ udaggacittaṃ pasannacittaṃ, atha
yā Buddhānaṃ sāmukkaṃsikā dhammadesanā, taṃ pakāsesi dukkhaṃ
samudayaṃ nirodhaṃ maggaṃ. Seyyathāpi nāma suddhaṃ vatthaṃ
apagatakāḷakaṃ sammadeva rajanaṃ paṭiggaṇheyya, evameva
Kūṭadantassa brāhmaṇassa tasmiṃyeva āsane virajaṃ vītamalaṃ
dhammacakkhuṃ udapādi “Yaṃ kiñci samudayadhammaṃ, sabbaṃ taṃ
nirodhadhamman”ti.
|
29. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn
liền thứ lớp giảng pháp cho Bà-la-môn Kùtadanta như là thuyết về
bố thí, thuyết về trì giới, thuyết về các cõi trời, trình bày sự
nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của dục lạc và sự lợi ích của
xuất ly. Khi đức Thế Tôn biết tâm của Bà-la-môn Kùtadanda đã sẵn
sàng, đã nhu thuận, không còn chướng ngại, được phấn khởi, được
tín thành, liền thuyết pháp mà chư Phật đã chứng ngộ, tức là
khổ, tập, diệt, đạo. Cũng như tấm vải thuần bạch, được gột rửa
các vết đen sẽ rất dễ thấm màu nhuộm, cũng vậy chính chỗ ngồi
này pháp nhãn xa trần ly cấu khởi lên trong tâm Bà-la-môn
Kùtadanta: "Phàm pháp gì được tập khởi lên đều bị tiêu diệt".
|
|
356. Atha kho
Kūṭadanto brāhmaṇo diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo
pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṃkatho
vesārajjappatto aparappaccayo Satthusāsane Bhagavantaṃ
etadavoca “Adhivāsetu me bhavaṃ Gotamo svātanāya bhattaṃ
saddhiṃ bhikkhusaṃghenā”ti. Adhivāsesi Bhagavā tuṇhībhāvena.
|
30. Khi ấy Bà-la-môn Kùtadanta
thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ
tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ nơi
người đối với đạo pháp của đức Bổn Sư, liền bạch đức Thế Tôn:
"Mong Tôn giả Gotama ngày mai cùng chúng Tỷ-kheo nhận lời mời
đến dùng cơm do con mời".
|
|
357. Atha kho
Kūṭadanto brāhmaṇo Bhagavato adhivāsanaṃ viditvā uṭṭhāyāsanā
Bhagavantaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā pakkāmi. Atha kho
Kūṭadanto brāhmaṇo tassā rattiyā accayena sake yaññavāṭe
paṇītaṃ khādanīyaṃ bhojanīyaṃ paṭiyādāpetvā Bhagavato kālaṃ
ārocāpesi “Kālo bho Gotama niṭṭhitaṃ bhattan”ti. |
Ðức Thế Tôn im lặng nhận lời.
Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kùtadanta được biết đức Thế Tôn đã nhận
lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, thân phía
hữu hướng về đức Phật và từ biệt... Rồi Bà-la-môn Kùtadanta khi
đêm vừa tàn, liền làm cho sẵn sàng tại nhà các món thượng vị
loại cứng và loại mềm, rồi báo thì giờ cho đức Thế Tôn: "Giờ đã
đến, Tôn giả Gotama, cơm đã sẵn sàng".
|
|
358. Atha kho
Bhagavā pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṃ
bhikkhusaṃghena yena Kūṭadantassa brāhmaṇassa yaññavāṭo
tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho
Kūṭadanto brāhmaṇo Buddhappamukhaṃ bhikkhusaṃghaṃ paṇītena
khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Atha kho Kūṭadanto brāhmaṇo Bhagavantaṃ bhuttāviṃ
onītapattapāṇiṃ aññataraṃ nīcaṃ āsanaṃ gahetvā ekamantaṃ
nisīdi, ekamantaṃ nisinnaṃ kho Kūṭadantaṃ brāhmaṇaṃ Bhagavā
dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā
sampahaṃsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmīti.
|
Khi ấy đức Thế Tôn buổi sáng đắp
y, đem theo y bát và cùng với chúng Tỷ-kheo đi đến cư xá của
Bà-la-môn Kùtadanta, khi đi đến liền ngồi trên chỗ đã được soạn
sẵn.
Bà-la-môn Kùtadanta tự tay làm cho chúng Tỷ-kheo với đức
Phật là vị cầm đầu, thỏa mãn với những món thượng vị, loại cứng
và loại mềm. Lúc bấy giờ Bà-la-môn Kùtadanta, sau khi được biết
đức Thế Tôn dùng cơm đã xong, đã rửa tay và bát, liền lấy một
ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Sau khi Bà-la-môn Kùtadanta
ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn với một thời thuyết pháp giảng
dạy, khích lệ, kích thích và làm cho Bà-la-môn Kùtadanta hoan hỷ
rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và từ biệt.
|
|
Kūṭadantasuttaṃ niṭṭhitaṃ pañcamaṃ. |
|
| <Trang Trước> |
<Bài
Kinh Kế> |
|