|
09.
POṬṬHAPĀDASUTTAṂ
|
|
09. POṬṬHAPĀDASUTTAṂ - Tạng
Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ |
09. KINH KINH
BỐ-SÁ-BÀ-LÂU- HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas, phiên bản 7.07 |
|
Poṭṭhapādaparibbājakavatthu
406.
Evaṃ me sutaṃ–ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati Jetavane
Anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena Poṭṭhapādo
paribbājako samayappavādake tindukācīre ekasālake mallikāya
ārāme paṭivasati mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṃ
tiṃsamattehi paribbājakasatehi.
Atha kho Bhagavā pubbaṇhasamayaṃ
nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṃ piṇḍāya pāvisi.
|
1. Như vầy
tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Sàvatthi (Xá-vệ), rừng Jetavana
(Kỳ viên), vườn Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, du sĩ
ngoại đạo Potthapada (Bố-sá-bà-lâu) cùng với đại chúng du sĩ
ngoại đạo khoảng ba trăm vị, ở tại vườn của hoàng hậu Mallika
(Mạt-lê-viên) tên là Ekasàlaka có hàng rào cây tinduka, một hội
thảo trường luận bàn về chánh kiến, tà kiến.
2. Lúc bấy giờ Thế Tôn, vào buổi
sáng đắp y cầm bát vào Sàvatthi khất thực. |
|
407.
Atha kho Bhagavato etadahosi “Atippago kho tāva Sāvatthiyaṃ
piṇḍāya carituṃ, yaṃnūnāhaṃ yena samayappavādako tindukācīro
ekasālako Mallikāya ārāmo, yena Poṭṭhapādo paribbājako
tenupasaṅkameyyan”ti. Atha kho Bhagavā yena samayappavādako
tindukācīro ekasālako Mallikāya ārāmo tenupasaṅkami.
|
Rồi Thế Tôn tự nghĩ:
"Nay còn quá sớm để đi khất thực tại Sàvatthi, Ta hãy đi đến
vườn của hoàng hậu Mallika tên là Ekasàlaka, có hàng rào cây
tinduka, một hội thảo trường luận bàn chánh kiến, tà kiến, để
gặp du sĩ ngoại đạo Potthapàda". Và Thế Tôn đi đến vườn của
hoàng hậu Mallika, tên là Ekasàlaka, có hàng rào cây tinduka,
một hội thảo trường luận về chánh kiến, tà kiến.
|
|
408.
Tena kho pana samayena Poṭṭhapādo paribbājako mahatiyā
paribbājakaparisāya saddhiṃ nisinno hoti unnādiniyā
uccāsaddamahāsaddāya anekavihitaṃ tiracchānakathaṃ kathentiyā.
Seyyathidaṃ, rājakathaṃ corakathaṃ mahāmattakathaṃ senākathaṃ
bhayakathaṃ yuddhakathaṃ annakathaṃ pānakathaṃ vatthakathaṃ
sayanakathaṃ mālākathaṃ gandhakathaṃ ñātikathaṃ yānakathaṃ
gāmakathaṃ nigamakathaṃ nagarakathaṃ janapadakathaṃ itthikathaṃ
sūrakathaṃ visikhākathaṃ kumbhaṭṭhānakathaṃ pubbapetakathaṃ
nānattakathaṃ lokakkhāyikaṃ samuddakkhāyikaṃ itibhavābhavakathaṃ
iti vā.
|
3. Lúc bấy giờ du sĩ ngoại đạo
Potthapàda ngồi với đại chúng du sĩ ngoại đạo, đang ồn ào, la
lối, lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm như câu chuyện về
vua chúa; câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần; câu
chuyện về binh lính; các câu chuyện về hãi hùng; câu chuyện về
chiến tranh; câu chuyện về đồ ăn; câu chuyện về đồ uống; câu
chuyện về đồ mặc; câu chuyện về giường nằm; câu chuyện về vòng
hoa; câu chuyện về hương liệu; câu chuyện về bà con; câu chuyện
về xe cộ; câu chuyện về làng xóm; câu chuyện về thị trấn; câu
chuyện về thành phố; câu chuyện về quốc độ; câu chuyện về đàn
bà; câu chuyện về đàn ông; câu chuyện về vị anh hùng; câu chuyện
bên lề đường; câu chuyện tại chỗ lấy nước; câu chuyện về người
đã chết; các câu chuyện tạp thoại; câu chuyện về hiện trạng của
thế giới, hiện trạng của đại dương; câu chuyện về sự hiện hữu và
sự không hiện hữu.
|
|
409.
Addasā kho Poṭṭhapādo paribbājako Bhagavantaṃ dūratova
āgacchantaṃ, disvāna sakaṃ parisaṃ saṇṭhapesi “Appasaddā bhonto
hontu, mā bhonto saddamakattha, ayaṃ samaṇo Gotamo āgacchati,
appasaddakāmo kho so āyasmā appasaddassa vaṇṇavādī, appeva nāma
appasaddaṃ parisaṃ viditvā upasaṅkamitabbaṃ maññeyyā”ti. Evaṃ
vutte te paribbājakā tuṇhī ahesuṃ.
|
4. Du sĩ ngoại đạo Potthapàda
thấy Thế Tôn từ xa đến, liền khuyến cáo chúng của mình: "Các Tôn
giả hãy nhỏ tiếng, các Tôn giả hãy đừng làm ồn. Nay Sa-môn
Gotama đang đến, Ngài ưa mến sự trầm lặng, vị Ðại đức này tán
thán sự trầm lặng. Nếu biết chúng này yên tịnh, Ngài có thể ghé
đến đây". Nghe nói vậy, các du sĩ ngoại đạo liền im lặng.
|
|
410.
Atha kho Bhagavā yena Poṭṭhapādo paribbājako tenupasaṅkami. Atha
kho Poṭṭhapādo paribbājako Bhagavantaṃ etadavoca “Etu kho bhante
Bhagavā, svāgataṃ bhante Bhagavato, cirassaṃ kho bhante Bhagavā
imaṃ pariyāyamakāsi, yadidaṃ idhāgamanāya, nisīdatu bhante
Bhagavā, idaṃ āsanaṃ paññattan”ti.
|
5. Rồi Thế Tôn đến du sĩ ngoại
đạo Potthapàda. Và du sĩ ngoại đạo Potthapàda bạch Thế Tôn:
"Thiện tai Thế Tôn! Hoan nghênh Thế Tôn! Ðã lâu Thế Tôn không
quá bộ đến đây. Mời Thế Tôn ngồi. Ðây là chỗ ngồi đã soạn sẵn".
|
|
Nisīdi Bhagavā
paññatte āsane. Poṭṭhapādopi kho paribbājako aññataraṃ nīcaṃ
āsanaṃ gahetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho
Poṭṭhapādaṃ paribbājakaṃ Bhagavā etadavoca “Kāya nuttha (Kāya
nottha - Syā, Ka)
Poṭṭhapāda etarahi kathāya sannisinnā, kā ca pana vo antarākathā
vippakatā”ti.
|
Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn
sẵn. Du sĩ ngoại đạo Potthapàda lấy một ghế thấp khác và ngồi
xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với du sĩ Potthapàda đã ngồi một
bên: "Này Potthapàda, vấn đề gì các vị đang ngồi thảo luận? Vấn
đề gì đang nói mà bị gián đoạn?"
|
|
Abhisaññānirodhakathā
411.
Evaṃ vutte Poṭṭhapādo paribbājako Bhagavantaṃ etadavoca
“Tiṭṭhatesā bhante kathā, yāya mayaṃ etarahi kathāya sannisinnā,
nesā bhante kathā Bhagavato dullabhā bhavissati pacchāpi
savanāya, purimāni bhante divasāni purimatarāni, nānātitthiyānaṃ
samaṇabrāhmaṇānaṃ kotūhalasālāya sannisinnānaṃ sannipatitānaṃ
abhisaññānirodhe kathā udapādi
‘Kathaṃ nu kho bho
abhisaññānirodho hotī’ti. Tatrekacce evamāhaṃsu ‘Ahetū appaccayā
purisassa saññā uppajjantipi nirujjhantipi. Yasmiṃ samaye
uppajjanti, saññī tasmiṃ samaye hoti. Yasmiṃ samaye nirujjhanti,
asaññī tasmiṃ samaye hotī’ti. Ittheke abhisaññānirodhaṃ
paññapenti.
|
6. Khi nghe nói vậy du sĩ ngoại
đạo Potthapàda bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, hãy gác một bên
câu chuyện chúng tôi đang ngồi bàn luận, bạch Thế Tôn, lát nữa
Thế Tôn nghe lại cũng không khó khăn gì. Bạch Thế Tôn, thuở xưa
xưa lắm, nhiều vị Sa-môn, Bà-la-môn ngoại đạo tụ họp, ngồi hội
thảo trong giảng đường nêu lên vấn đề sự diệt tận các tăng
thượng tưởng.
"Này Tôn giả, tăng thượng tưởng
diệt tận như thế nào?" Một vài vị trả lời: "Không nhân, không
duyên, các tưởng của con người sinh và diệt! Khi tưởng sanh con
người có tưởng, khi tưởng diệt con người không có tưởng". Như
vậy, một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng.
|
|
Tamañño evamāha
‘Na kho pana metaṃ (Na kho nāmetaṃ - Sī, I) bho evaṃ bhavissati, saññā hi bho purisassa attā, sā ca
kho upetipi apetipi. Yasmiṃ samaye upeti, saññī tasmiṃ samaye
hoti. Yasmiṃ samaye apeti, asaññī tasmiṃ samaye hotī’ti. Ittheke
abhisaññānirodhaṃ paññapenti.
|
Về vấn đề này, người khác lại
nói như sau: "Các Tôn giả, sự kiện không phải như vậy. Này Tôn
giả, tưởng là tự ngã của con người, chính tưởng ấy đến và đi.
Khi tưởng ấy đến thì con người có tưởng, khi tưởng ấy đi thì con
người không có tưởng". Như vậy một vài vị giải thích sự diệt tận
các tăng thượng tưởng.
|
|
Tamañño evamāha
‘Na kho pana metaṃ bho evaṃ bhavissati, santi hi bho
samaṇabrāhmaṇā mahiddhikā mahānubhāvā, te imassa purisassa
saññaṃ upakaḍḍhantipi apakaḍḍhantipi. Yasmiṃ samaye
upakaḍḍhanti, saññī tasmiṃ samaye hoti. Yasmiṃ samaye
apakaḍḍhanti, asaññī tasmiṃ samaye hotī’ti. Ittheke
abhisaññānirodhaṃ paññapenti.
|
Vấn đề này, người khác lại nói
như sau: "Các Tôn giả, sự kiện không phải như vậy. Này Tôn giả,
có những Sa-môn, Bà-la-môn có đại thần thông và đại oai lực.
Chính những vị này khiến tưởng nhập vào trong người và cũng kéo
tưởng ra ngoài người ấy. Khi các vị này khiến tưởng nhập vào
trong người, người ấy có tưởng, khi kéo tưởng ra ngoài, người ấy
không có tưởng". Như vậy một vài vị giải thích sự diệt tận các
tăng thượng tưởng.
|
|
Tamañño evamāha
‘Na kho pana metaṃ bho evaṃ bhavissati, santi hi bho devatā
mahiddhikā mahānubhāvā, tā imassa purisassa saññaṃ
upakaḍḍhantipi apakaḍḍhantipi. Yasmiṃ samaye upakaḍḍhanti, saññī
tasmiṃ samaye hoti. Yasmiṃ samaye apakaḍḍhanti, asaññī tasmiṃ
samaye hotī’ti. Ittheke abhisaññānirodhaṃ paññapenti.
Tassa mayhaṃ
bhante Bhagavantaṃyeva ārabbha sati udapādi ‘Aho nūna Bhagavā
aho nūna Sugato, yo imesaṃ dhammānaṃ sukusalo’ti. Bhagavā bhante
kusalo Bhagavā pakataññū abhisaññānirodhassa, kathaṃ nu kho
bhante abhisaññānirodho hotī”ti.
|
Về vấn đề này, người khác lại
nói như sau: "Các Tôn giả, sự kiện không phải như vậy. Này Tôn
giả, có những vị thiên thần có đại thần thông, có đại oai lực,
chính những vị này khiến tưởng nhập vào trong người và kéo tưởng
ra ngoài người ấy. Khi các vị này khiến tưởng nhập vào trong
người, người ấy có tưởng, khi kéo tưởng ra ngoài, người ấy không
có tưởng". Như vậy một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng
thượng tưởng.
Bạch Thế Tôn, lúc bấy giờ con tưởng niệm đến Thế
Tôn: "Mong Thế Tôn có mặt ở đây! Mong Thiện thệ có mặt ở đây!
Ngài rất tinh thông những pháp này. Chắc chắn Thế Tôn biết rõ sự
diệt tận các tăng thượng tưởng". Bạch Thế Tôn, sự diệt tận các
tăng thượng tưởng như thế nào?
|
|
Sahetukasaññuppādanirodhakathā
412.
Tatra Poṭṭhapāda ye te samaṇabrāhmaṇā evamāhaṃsu “Ahetū
appaccayā purisassa saññā uppajjantipi nirujjhantipī”ti, āditova
tesaṃ aparaddhaṃ. Taṃ kissa hetu, sahetū hi Poṭṭhapāda
sappaccayā purisassa saññā uppajjantipi nirujjhantipi. Sikkhā
ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
|
7. Này Potthapàda, những Sa-môn,
Bà-la-môn nào đã nói: "Không nhân, không duyên, các tưởng của
con người sinh và diệt". Những vị này đã sai lạc ngay từ ban
đầu. Vì sao vậy? Này Potthapàda, chính vì có nhân, có duyên, các
tưởng của con người sinh và diệt. Chính do sự học tập, một loại
tưởng sanh, chính do sự học tập, một loại tưởng diệt.
|
|
413.
Kā ca sikkhāti Bhagavā avoca. Idha Poṭṭhapāda Tathāgato loke
uppajjati Arahaṃ Sammāsambuddho ‑pa‑. (Yathā sāmaññaphale, evaṃ
vitthāretabbaṃ.) Evaṃ kho Poṭṭhapāda bhikkhu sīlasampanno hoti
‑pa‑ tassime pañcanīvaraṇe pahīne attani samanupassato pāmojjaṃ
jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati,
passaddhakāyo sukhaṃ vedeti, sukhino cittaṃ samādhiyati, so
vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ
vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja viharati, tassa
yā purimā kāmasaññā, sā nirujjhati.
Vivekajapītisukhasukhumasaccasaññā tasmiṃ samaye hoti,
vivekajapītisukhasukhumasaccasaññīyeva tasmiṃ samaye hoti.
Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Ayaṃ sikkhāti Bhagavā avoca.
|
Và Thế Tôn nói: - Sự học tập ấy là gì? Này
Potthapàda, nay ở đời Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh
Biến Tri... (như
kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 40-43 trừ đoạn kết của mỗi
đoạn) thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh, mạng sống trong sạch,
giới hạnh đầy đủ, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác và biết
tri túc. Này Potthapàda, thế nào là Tỷ-kheo giới hạnh đầy đủ? Ở
đây này Potthapàda, Tỷ-kheo từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh,
bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót
hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Như vậy là
giới hạnh của vị ấy trong giới luật ... (như
kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 43-62)... như dùng ảo thuật để
yên ổn, để khỏi làm các điều đã hứa... ngăn ngừa công hiệu của
thuốc. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên... như vậy là
giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
8. Này Potthapàda, và như vậy
Tỷ-kheo ấy nhờ đầy đủ giới luật nên không thấy sợ hãi từ một chỗ
nào về phương diện hộ trì giới luật. Này Potthapàda, như một
Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã hàng phục kẻ thù địch, không
còn thấy sợ hãi từ chỗ nào nữa về phương diện thù địch. Cũng
vậy, này Potthapàda, Tỷ-kheo ấy nhờ đầy đủ giới luật nên không
thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Vị
ấy nhờ đầy đủ giới luật cao quý này, nên hưởng lạc thọ nội tâm
không lỗi lầm. Như vậy, này Potthapàda, Tỷ-kheo đầy đủ giới
luật.
9. Này Potthapàda, thế nào là
Tỷ-kheo hộ trì các căn? Này Potthapàda, khi mắt thấy sắc,
Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.
Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham
ái ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự
nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi
tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm
xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung,
không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không
được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi
lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự
hộ trì ý căn. Vị ấy, nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng
lạc thọ, nội tâm không lỗi lầm. Như vậy, này Potthapàda, Tỷ-kheo
hộ trì các căn... (như
kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 65-74)...
10. Khi quán tự thân đã xả ly
năm triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan, nên hỷ sanh; do
tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh;
do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Tỷ-kheo, ly dục, ly bất thiện
pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly
dục sanh với tầm, với tứ. Dục tưởng xưa kia của vị ấy được diệt
trừ, và khi tưởng hỷ lạc vi diệu chân thật do ly dục sanh khởi
lên, vị ấy có tưởng hỷ lạc vi diệu chân thật, do ly dục sanh.
Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập, một
tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: "Ðó là sự học tập Thế Tôn nói
đến".
|
|
Puna caparaṃ
Poṭṭhapāda bhikkhu vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ
sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ
pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja viharati. Tassa yā purimā
vivekajapītisukhasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati.
Samādhijapītisukhasukhumasaccasaññā tasmiṃ samaye hoti,
samādhijapītisukhasukhumasaccasaññīyeva tasmiṃ samaye hoti.
Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Ayampi sikkhāti Bhagavā avoca.
|
11. Lại nữa, này Potthapàda,
Tỷ-kheo diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng
thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.
Tưởng hỷ lạc vi diệu chơn thật do ly dục sanh xưa kia của vị ấy
được diệt trừ. Và khi tưởng hỷ lạc vi diệu chơn thật do định
sanh khởi lên, vị ấy có tưởng hỷ lạc vi diệu chơn thật do định
sanh. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập
một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: "Ðó là sự học tập Thế Tôn
nói đến".
|
|
Puna caparaṃ
Poṭṭhapāda bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato
ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedeti, yaṃ taṃ ariyā
ācikkhanti “Upekkhako satimā sukhavihārī”ti, tatiyaṃ jhānaṃ
upasampajja viharati. Tassa yā purimā
samādhijapītisukhasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati.
Upekkhāsukhasukhumasaccasaññā tasmiṃ samaye hoti,
upekkhāsukhasukhumasaccasaññīyeva tasmiṃ samaye hoti. Evampi
sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati. Ayampi
sikkhāti Bhagavā avoca.
|
12. "Lại nữa này Potthapàda,
Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ
mà các bậc Thánh gọi là "Xả niệm lạc trú", chứng và trú thiền
thứ ba. Tưởng hỷ lạc chơn thật vi diệu do định sanh xưa kia của
vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng xả lạc vi diệu chơn thật khởi
lên, vị ấy có tưởng xả lạc vi diệu chơn thật. Như vậy do học
tập, một tưởng khởi lên và cũng do học tập, một tưởng diệt trừ.
Và Thế Tôn nói: "Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến".
|
|
Puna caparaṃ
Poṭṭhapāda bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā
pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ
upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja viharati.
Tassa yā purimā upekkhāsukhasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati.
Adukkhamasukhasukhumasaccasaññā tasmiṃ samaye hoti,
adukkhamasukhasukhumasaccasaññīyeva tasmiṃ samaye hoti. Evampi
sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati. Ayampi
sikkhāti Bhagavā avoca.
|
13. Lại nữa này Potthapàda,
Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ, ưu đã cảm thọ trước, chứng và
trú thiền thứ tư không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như
vậy xả lạc chơn thật vi diệu xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và
khi tưởng xả lạc, xả khổ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có
tưởng xả lạc, xả khổ vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập một
tưởng khởi lên, cũng do học tập một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn
nói: "Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến".
|
|
Puna caparaṃ
Poṭṭhapāda bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṃ samatikkamā
paṭighasaññānaṃ atthaṅgamā nānattasaññānaṃ amanasikārā “Ananto
ākāso”ti ākāsānañcāyatanaṃ upasampajja viharati. Tassa yā purimā
rūpasaññā (Purimasaññā - Ka),
sā nirujjhati. Ākāsānañcāyatanasukhumasaccasaññā
tasmiṃ samaye hoti, ākāsānañcāyatanasukhumasaccasaññīyeva tasmiṃ
samaye hoti. Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā
nirujjhati. Ayampi sikkhāti Bhagavā avoca.
|
14. Lại nữa này Potthapàda, với
sự vượt thoát mọi sắc tưởng, với sự diệt trừ mọi chướng ngại
tưởng, với sự không tác ý đối với dị tưởng, Tỷ-kheo nghĩ rằng:
"Hư không là vô biên", chứng và trú Không vô biên xứ. Như vậy
sắc tưởng xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng Không vô
biên xứ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng Không vô biên
xứ vi diệu chơn thật. Như vậy do sự học tập, một tưởng khởi lên,
cũng do học tập một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: "Ðó là sự
học tập Thế Tôn nói đến".
|
|
Puna caparaṃ
Poṭṭhapāda bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṃ samatikkamma
“Anantaṃ viññāṇan”ti viññāṇañcāyatanaṃ upasampajja viharati,
tassa yā purimā ākāsānañcāyatanasukhumasaccasaññā, sā
nirujjhati. Viññāṇañcāyatanasukhumasaccasaññā tasmiṃ samaye
hoti, viññāṇañcāyatanasukhumasaccasaññīyeva tasmiṃ samaye hoti.
Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Ayampi sikkhāti Bhagavā avoca.
|
15. Lại nữa này Potthapàda, với
sự vượt thoát mọi Không vô biên xứ, Tỷ-kheo nghĩ rằng: "Thức là
vô biên", chứng và trú Thức vô biên xứ. Như vậy tưởng Không vô
biên xứ vi diệu chơn thật xưa kia của vị ấy được diệt trừ, và
khi tưởng Thức vô biên xứ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có
tưởng Thức vô biên xứ vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập, một
tưởng khởi lên, cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn
nói: "Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến".
|
|
Puna caparaṃ
Poṭṭhapāda bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṃ samatikkamma
“Natthi kiñcī”ti ākiñcaññāyatanaṃ upasampajja viharati. Tassa yā
purimā viññāṇañcāyatanasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati.
Ākiñcaññāyatanasukhumasaccasaññā
tasmiṃ samaye hoti, ākiñcaññāyatanasukhumasaccasaññīyeva tasmiṃ
samaye hoti. Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā
nirujjhati. Ayampi sikkhāti Bhagavā avoca.
|
16. Lại nữa này Potthapàda, với
sự vượt thoát mọi Thức vô biên xứ, Tỷ-kheo nghĩ rằng: "Không có
vật gì" chứng và trú Vô sở hữu xứ. Như vậy tưởng Thức vô biên xứ
vi diệu chơn thật xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng
Vô sở hữu xứ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng Vô sở
hữu xứ vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập, một tưởng khởi
lên, cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: "Ðó là
sự học tập Thế Tôn nói đến".
|
|
414.
Yato kho Poṭṭhapāda bhikkhu idha sakasaññī hoti, so tato amutra
tato amutra anupubbena saññaggaṃ phusati, tassa saññagge
ṭhitassa evaṃ hoti “Cetayamānassa me pāpiyo, acetayamānassa me
seyyo. Ahañceva kho pana ceteyyaṃ, abhisaṅkhareyyaṃ, imā ca me
saññā nirujjheyyuṃ, aññā ca oḷārikā saññā uppajjeyyuṃ,
yaṃnūnāhaṃ na ceva ceteyyaṃ, na ca abhisaṅkhareyyan”ti. So na
ceva cetehi, na ca abhisaṅkharoti. Tassa acetayato
anabhisaṅkharoto tā ceva saññā nirujjhanti, aññā ca oḷārikā
saññā na uppajjanti, so nirodhaṃ phusati. Evaṃ kho Poṭṭhapāda
anupubbābhisaññānirodhasampajānasamāpatti hoti.
|
17. Lại nữa này Potthapàda, khi
Tỷ-kheo ở nơi đây tự mình khởi tưởng, vị này tiếp tục đi từ
tưởng này đến tưởng khác cho đến tưởng tột đỉnh. Và vị này khi
đứng tại tưởng tột đỉnh có thể nghĩ: "Tâm còn suy tưởng có hại
cho ta, tâm không suy tưởng mới tốt cho ta. Nếu ta cứ tiếp tục
suy tưởng, khi những tưởng này của ta diệt đi, các thô tưởng
khác lại khởi lên, ta hãy đừng có suy tưởng". Do không có suy
tưởng, các tưởng kia diệt tận và các thô tưởng khác không khởi
lên, vị ấy cảm thọ sự diệt tận. Như vậy, này Potthapàda, là sự
chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởng.
|
|
Taṃ kiṃ maññasi
Poṭṭhapāda, api nu te ito pubbe evarūpā
anupubbābhisaññānirodhasampajānasamāpatti sutapubbāti.
No hetaṃ
bhante, evaṃ kho ahaṃ bhante Bhagavato bhāsitaṃ ājānāmi
|
18. Này Potthapàda, ngươi nghĩ
thế nào? Trước đây ngươi đã nghe sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ
dần dần các tăng thượng tưởng này không?
- Bạch Thế Tôn, con không có
nghe. Bạch Thế Tôn, nhưng nay con hiểu lời nói của Thế Tôn.
|
|
“Yato
kho Poṭṭhapāda bhikkhu idha sakasaññī hoti, so tato amutra tato
amutra anupubbena saññaggaṃ phusati, tassa saññaggeṭhitassa evaṃ
hoti ‘Cetayamānassa me pāpiyo, acetayamānassa me seyyo, ahañceva
kho pana ceteyyaṃ, abhisaṅkhareyyaṃ, imā ca me saññā
nirujjheyyuṃ, aññā ca oḷārikā saññā uppajjeyyuṃ, yaṃnūnāhaṃ na
ceva ceteyyaṃ, na ca abhisaṅkhareyyan’ti. So na ceva ceteti, na
cābhisaṅkharoti, tassa acetayato anabhisaṅkharoto tā ceva saññā
nirujjhanti, aññā ca oḷārikā saññā na uppajjanti, so nirodhaṃ
phusati. Evaṃ kho Poṭṭhapāda
anupubbābhisaññānirodhasampajānasamāpatti hotī”ti.
Evaṃ
Poṭṭhapādāti.
|
- Này Potthapàda, khi Tỷ-kheo ở
đây tự mình khởi tưởng, vị này tiếp tục đi từ tưởng này đến
tưởng khác cho đến tưởng tột đỉnh. Và vị này, khi đứng lại tưởng
tột đỉnh có thể nghĩ: "Tâm còn suy tưởng, có hại cho ta, tâm
không suy tưởng mới tốt cho ta. Nếu ta cứ tiếp tục suy tưởng khi
những tưởng này của ta diệt đi, các thô tưởng khác lại khởi lên.
Vậy ta hãy đừng có suy tưởng". Và vị này không có suy tưởng. Do
không có suy tưởng, các tưởng kia diệt tận và các thô tưởng khác
cũng không khởi lên. Vị ấy cảm thọ sự diệt tận. Như vậy này
Potthapàda là sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng
thượng tưởng.
- Như vậy là phải, này
Potthapàda!
|
|
415.
Ekaññeva nu kho bhante Bhagavā saññaggaṃ paññapeti, udāhu
puthūpi saññagge paññapetīti.
Ekampi kho ahaṃ Poṭṭhapāda
saññaggaṃ paññapemi, puthūpi saññagge paññapemīti.
Yathā kathaṃ
pana bhante Bhagavā ekampi saññaggaṃ paññapeti, puthūpi saññagge
paññapetīti.
Yathā yathā kho Poṭṭhapāda nirodhaṃ phusati, tathā
tathāhaṃ saññaggaṃ paññapemi. Evaṃ kho ahaṃ Poṭṭhapāda ekampi
saññaggaṃ paññapemi, puthūpi saññagge paññapemīti.
|
19. - Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chỉ
nói đến một tưởng tuyệt đỉnh hay nhiều tưởng tuyệt đỉnh?
- Này Potthapàda, Ta nói đến một
tưởng tuyệt đỉnh và cũng nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh.
- Bạch Thế Tôn, làm sao Thế Tôn
nói đến một tưởng tuyệt đỉnh và cũng nói đến nhiều tưởng tuyệt
đỉnh?
- Này Potthapàda, tùy theo vị ấy
cảm thọ sự diệt tận (của một tưởng) sau tưởng khác, vị ấy đạt
tới nhiều tuyệt đỉnh sai khác, cái này tiếp theo cái kia cho đến
tuyệt đỉnh cuối cùng mà Ta nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh. Này
Potthapàda như vậy Ta nói đến một tưởng tuyệt đỉnh và cũng nói
đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh.
|
|
416.
Saññā nu kho bhante paṭhamaṃ uppajjati, pacchā ñāṇaṃ, udāhu
ñāṇaṃ paṭhamaṃ uppajjati, pacchā saññā, udāhu saññā ca ñāṇañca
apubbaṃ acarimaṃ uppajjantīti.
Saññā kho Poṭṭhapāda paṭhamaṃ
uppajjati, pacchā ñāṇaṃ, saññuppādā ca pana ñāṇuppādo hoti. So
evaṃ pajānāti “Idappaccayā kira me ñāṇaṃ udapādī”ti, iminā kho
etaṃ Poṭṭhapāda pariyāyena veditabbaṃ “Yathā saññā paṭhamaṃ
uppajjati, pacchā ñāṇaṃ, saññuppādā ca pana ñāṇuppādo hotī”ti.
|
20. - Bạch Thế Tôn, tưởng khởi
trước, trí khởi sau; hay trí khởi trước tưởng khởi sau; hay
tưởng và trí cùng khởi một lần không trước không sau?
- Này Potthapàda, tưởng khởi
trước trí mới khởi sau, do tưởng sanh, trí mới sanh. Vị ấy tuệ
tri: "Do duyên tưởng, trí sanh ra nơi ta". Này Potthapàda, với
lời dạy này cần phải hiểu tưởng sanh trước trí sanh sau, tưởng
sanh trí mới sanh.
|
|
Saññā-attakathā
417.
Saññā nu kho bhante purisassa attā, udāhu aññā saññā añño
attāti.
Kaṃ pana tvaṃ Poṭṭhapāda attānaṃ paccesīti.
Oḷārikaṃ kho
ahaṃ bhante attānaṃ paccemi rūpiṃ cātumahābhūtikaṃ
kabaḷīkārāhārabhakkhanti (Kabaḷīkārabhakkhanti - Syā, Ka).
Oḷāriko ca
hi te Poṭṭhapāda attā abhavissa rūpī cātumahābhūtiko
kabaḷīkārāhārabhakkho, evaṃ santaṃ kho te Poṭṭhapāda aññāva
saññā abhavissa añño attāti. Tadamināpetaṃ Poṭṭhapāda pariyāyena
veditabbaṃ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā. Tiṭṭhateva
sāyaṃ (Tiṭṭhatevāyaṃ - Sī, I)
Poṭṭhapāda oḷāriko attā rupī cātumahābhūtiko
kabaḷīkārāhārabhakkho, atha imassa purisassa aññā ca saññā
uppajjanti, aññā ca saññā nirujjhanti. Iminā kho etaṃ Poṭṭhapāda
pariyāyena veditabbaṃ “Yathā aññāva saññā bhavissati añño
attā”ti.
|
21. - Bạch Thế Tôn, tưởng có
phải là tự ngã của con người hay tưởng khác, tự ngã khác?
- Này Potthapàda, ngươi hiểu tự
ngã như thế nào?
- Bạch Thế Tôn, con hiểu tự ngã
là thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành, và do đoàn thực nuôi
dưỡng.
- Này Potthapàda, nếu tự ngã là
thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành và do đoàn thực nuôi
dưỡng, như vậy này Potthapàda, tưởng khác và tự ngã khác. Này
Potthapàda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu, tưởng khác và
tự ngã khác. Này Potthapàda, giả sử tự ngã ấy là thô phù, có
sắc, do bốn đại hình thành và do đoàn thực nuôi dưỡng, tuy vậy
một vài tưởng khác của người ấy khởi lên, một vài tưởng khác
diệt xuống. Này Potthapàda, với sự nhận thức này cần phải hiểu
tưởng khác, tự ngã khác.
|
|
418.
Manomayaṃ kho ahaṃ bhante attānaṃ paccemi “Sabbaṅgapaccaṅgiṃ
ahīnindriyan”ti.
Manomayo ca hi te Poṭṭhapāda attā abhavissa
sabbaṅgapaccaṅgī ahīnindriyo, evaṃ santampi kho te Poṭṭhapāda
aññāva saññā bhavissati añño attā. Tadamināpetaṃ Poṭṭhapāda
pariyāyena veditabbaṃ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā.
Tiṭṭhateva sāyaṃ Poṭṭhapāda manomayo attā sabbaṅgapaccaṅgī
ahīnindriyo, atha imassa purisassa aññā ca saññā uppajjanti,
aññā ca saññā nirujjhanti. Imināpi kho etaṃ Poṭṭhapāda
pariyāyena veditabbaṃ “Yathā aññāva saññā bhavissati añño
attā”ti.
|
22. - Bạch Thế Tôn, con hiểu tự
ngã là do ý sở thành, đầy đủ mọi chi tiết lớn nhỏ, đầy đủ các
căn.
- Này Potthapàda, nếu tự ngã là
do ý sở thành, đầy đủ mọi chi tiết lớn nhỏ, đầy đủ các căn, như
vậy này Potthapàda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu tưởng
khác, tự ngã khác. Này Potthapàda, giả sử tự ngã ấy là do ý sở
thành, đầy đủ mọi chi tiết lớn nhỏ, đầy đủ các căn, tuy vậy một
vài tưởng khác của người ấy khởi lên, một vài tưởng khác diệt
xuống. Này Potthapàda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu tưởng
khác, tự ngã khác.
|
|
419.
Arūpiṃ kho ahaṃ bhante attānaṃ paccemi saññāmayanti.
Arūpī ca hi
te Poṭṭhapāda attā abhavissa saññāmayo, evaṃ santampi kho te
Poṭṭhapāda aññāva saññā bhavissati añño attā. Tadamināpetaṃ
Poṭṭhapāda pariyāyena veditabbaṃ yathā aññāva saññā bhavissati
añño attā. Tiṭṭhateva sāyaṃ Poṭṭhapāda arūpī attā saññāmayo,
atha imassa purisassa aññā ca saññā uppajjanti, aññā ca saññā
nirujjhanti. Imināpi kho etaṃ Poṭṭhapāda pariyāyena veditabbaṃ
“Yathā aññāva saññā bhavissati añño attā”ti.
|
- Bạch Thế Tôn, con hiểu tự ngã
là vô sắc, do tưởng sở thành.
23. - Này Potthapàda, nếu tự ngã
là vô sắc, do tưởng sở thành, với sự nhận thức này Potthapàda,
cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác. Này Potthapàda, giả sự tự
ngã là vô sắc, do tưởng sở thành, tuy vậy, một vài tưởng khác
của người khởi lên, một vài tưởng khác diệt xuống. Này
Potthapàda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu tưởng khác, tự
ngã khác.
|
|
420.
Sakkā panetaṃ bhante mayā ñātuṃ “Saññā purisassa attā”ti vā,
“Aññāva saññā añño attā”ti vāti.
Dujjānaṃ kho etaṃ (Evaṃ - Ka)
Poṭṭhapāda tayā aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena
aññatrāyogena aññatrācariyakena “Saññā purisassa attā”ti vā,
“Aññāva saññā añño attā”ti vāti.
|
24. - Bạch Thế Tôn, con có thể
hiểu được chăng "tưởng là tự ngã của con người" hay "tưởng khác,
tự ngã khác"?
- Này Potthapàda, thật khó cho
ngươi biết được "tưởng là tự ngã của con người" hay "tưởng khác,
tự ngã khác", vì ngươi có dị kiến, có tin tưởng khác, có lý
tưởng khác, có thiên tư khác, có hạnh nguyện khác.
|
|
Sacetaṃ bhante
mayā dujjānaṃ aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena
aññatrāyogena aññatrācariyakena “Saññā purisassa attā”ti vā,
“Aññāva saññā añño attā”ti vā. Kiṃ pana bhante sassato loko,
idameva saccaṃ moghamaññanti.
Abyākataṃ kho etaṃ Poṭṭhapāda mayā
“Sassato loko, idameva saccaṃ moghamaññan”ti.
|
25. - Bạch Thế Tôn, nếu thật khó
cho con biết được "tưởng là tự ngã của con người", hay "tưởng
khác, tự ngã khác" vì con có dị kiến khác, có tin tưởng khác, có
lý tưởng khác, có thiên tư khác, có hạnh nguyện khác, thời bạch
Thế Tôn, thế giới có phải là thường còn không? Chỉ có quan niệm
này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
- Này Potthapàda, Ta không trả
lời: "Thế giới là thường còn, chỉ có quan điểm này là đúng sự
thực, ngoài ra là mê muội".
|
|
Kiṃ pana bhante
asassato loko, idameva saccaṃ moghamaññanti.
Etampi kho
Poṭṭhapāda mayā abyākataṃ “Asassato loko, idameva saccaṃ
moghamaññan”ti.
|
- Bạch Thế Tôn, có phải thế giới
là vô thường, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là
mê muội không?
- Này Potthapàda, Ta không trả
lời: "Thế giới là vô thường, chỉ có quan điểm này là đúng sự
thực, ngoài ra là mê muội".
|
|
Kiṃ pana bhante
antavā loko ‑pa‑
anantavā loko.
Taṃ jīvaṃ taṃ sarīraṃ.
Aññaṃ
jīvaṃ aññaṃ sarīraṃ.
Hoti tathāgato paraṃ maraṇā.
Na hoti
tathāgato paraṃ maraṇā.
Hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ
maraṇā.
Neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva
saccaṃ moghamaññanti.
Etampi kho Poṭṭhapāda mayā abyākataṃ “Neva
hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇā, idameva saccaṃ
moghamaññan”ti.
|
- Bạch Thế Tôn, có phải thế giới
này là hữu biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra
là mê muội không?
- Này Potthapàda, Ta không trả
lời: "Thế giới là hữu biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự
thực, ngoài ra là mê muội".
- Bạch Thế Tôn, có phải thế giới
là vô biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê
muội không?
- Này Potthapàda, Ta không trả
lời: "Thế giới là vô biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực,
ngoài ra là mê muội".
26. - Bạch Thế Tôn, có phải sinh
mạng và thân thể là một, chỉ có quan điểm này là đúng sự thật,
ngoài ra là mê muội không?
- Này Potthapàda, Ta không trả
lời: "Thân thể và sinh mạng là một, chỉ có quan điểm này là đúng
sự thực, ngoài ra là mê muội".
- Bạch Thế Tôn, có phải sinh
mạng khác, thân thể khác? Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực,
ngoài ra là mê muội không?
- Này Potthapàda, Ta không trả
lời: "Sinh mạng khác, thân thể khác. Chỉ có quan điểm này là
đúng sự thực, ngoài ra là mê muội".
27. - Bạch Thế Tôn, có phải Như
Lai tồn tại sau khi chết? Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực,
ngoài ra là mê muội không?
- Này Potthapàda, Ta không trả
lời: "Như Lai tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng
sự thực, ngoài ra là mê muội".
- Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai
không tồn tại sau khi chết không? Chỉ có quan điểm này là đúng
sự thực, ngoài ra là mê muội không?
- Này Potthapàda, Ta không trả
lời: "Như Lai không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này
là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội".
- Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai
tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là
đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
- Này Potthapàda, Ta không trả
lời: "Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan
điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội".
- Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai
không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan
điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
- Này Potthapàda, Ta không trả
lời: "Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết.
Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội".
|
|
Kasmā panetaṃ
bhante Bhagavatā abyākatanti.
Na hetaṃ Poṭṭhapāda atthasaṃhitaṃ
na dhammasaṃhitaṃ nādibrahmacariyakaṃ, na nibbidāya na virāgāya
na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na
Nibbānāya saṃvattati, tasmā etaṃ mayā abyākatanti.
|
28. - Bạch Thế Tôn, vì sao Thế
Tôn không trả lời?
- Này Potthapàda, câu hỏi này
không thuộc về đích giải thoát, không thuộc về Pháp, không thuộc
căn bản của phạm hạnh, không đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến
tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết
bàn. Vì vậy, Ta không trả lời.
|
|
Kiṃ pana bhante
Bhagavatā byākatanti.
Idaṃ dukkhanti kho Poṭṭhapāda mayā
byākataṃ. Ayaṃ dukkhasamudayoti kho Poṭṭhapāda mayā byākataṃ.
Ayaṃ dukkhanirodhoti kho Poṭṭhapāda mayā byākataṃ. Ayaṃ
dukkhanirodhagāminī paṭipadāti kho Poṭṭhapāda mayā byākatanti.
|
29. - Bạch Thế Tôn, vậy Thế Tôn
trả lời những gì?
- Này Potthapàda, Ta trả lời:
"Ðây là khổ". Ta trả lời: "Ðây là khổ tập". "Ta trả lời: "Ðây là
khổ diệt". Ta trả lời: "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt".
|
|
Kasmā panetaṃ
bhante Bhagavatā byākatanti.
Etaṃ hi Poṭṭhapāda atthasaṃhitaṃ,
etaṃ dhammasaṃhitaṃ, etaṃ ādibrahmacariyakaṃ, etaṃ Nibbidāya
virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya Nibbānāya
saṃvattati, tasmā etaṃ mayā byākatanti.
|
30. - Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn
trả lời?
- Này Potthapàda,
câu hỏi này thuộc về đích giải thoát, thuộc về Pháp, thuộc căn
bản của phạm hạnh, đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt,
đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy Ta trả lời.
|
|
Evametaṃ Bhagavā,
evametaṃ Sugata, yassadāni bhante Bhagavā kālaṃ maññatīti.
Atha
kho Bhagavā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
|
- Bạch Thế Tôn, như vậy là phải.
Bạch Thiên Thệ, như vậy là phải. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời
Ngài làm gì Ngài xem là phải làm.
Và Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy
ra về.
|
|
421.
Atha kho te paribbājakā acirapakkantassa Bhagavato Poṭṭhapādaṃ
paribbājakaṃ samantato vācā (Vācāya - Syā, Ka)
sannitodakena sañjhabbharimakaṃsu “Evameva panāyaṃ bhavaṃ
Poṭṭhapādo yaññadeva samaṇo Gotamo bhāsati, taṃ tadevassa
abbhanumodati ‘Evametaṃ Bhagavā evametaṃ Sugatā’ti. Na kho pana
mayaṃ kiñci (Kañci - I) samaṇassa Gotamassa ekaṃsikaṃ dhammaṃ desitaṃ ājānāma
‘Sassato loko’ti vā, ‘Asassato loko’ti vā, ‘Antavā loko’ti vā,
‘Anantavā loko’ti vā, ‘Taṃ jīvaṃ taṃ sarīran’ti vā, ‘Aññaṃ jīvaṃ
aññaṃ sarīran’ti vā, ‘Hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vā, ‘Na
hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vā, ‘Hoti ca na ca hoti tathāgato
paraṃ maraṇā’ti vā, ‘Neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ
maraṇā’ti vā”ti.
|
31. Thế Tôn rời khỏi chưa bao
lâu, những du sĩ ngoại đạo ấy liền bao vây xung quanh du sĩ
ngoại đạo Potthapàda và tuôn ra những lời nói mỉa mai gay gắt:
"Potthapàda này là như vậy, những gì Sa-môn Gotama nói đều được
Potthapàda tán thành: "Bạch Thế Tôn, như vậy là phải. Bạch Thiện
Thệ như vậy là phải". Chúng tôi không được biết Sa-môn Gotama đã
thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: "Thế giới là thường
còn", hay "Thế giới là vô thường", hay "Thế giới là hữu biên",
hay "Thế giới là vô biên", hay "Sinh mạng và thân thể là một",
hay "Sinh mạng khác, thân thể khác", "hay Như Lai có tồn tại sau
khi chết" hay "Như Lai không tồn tại sau khi chết" hay "Như Lai
tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết", hay "Như Lai không
tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết".
|
|
Evaṃ vutte
Poṭṭhapādo paribbājako te paribbājake etadavoca
"Ahampi kho bho
na kiñci samaṇassa Gotamassa ekaṃsikaṃ dhammaṃ desitaṃ ājānāmi
‘Sassato loko’ti vā, ‘Asassato loko’ti vā ‑pa‑ ‘Neva hoti na na
hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vā, api ca samaṇo Gotamo bhūtaṃ
tacchaṃ tathaṃ paṭipadaṃ paññapeti dhammaṭṭhitataṃ
dhammaniyāmataṃ, bhūtaṃ kho pana tacchaṃ tathaṃ paṭipadaṃ
paññapentassa dhammaṭṭhitataṃ dhammaniyāmataṃ, kathaṃ hi nāma
mādiso viññū samaṇassa Gotamassa subhāsitaṃ subhāsitato
nābbhānumodeyyā”ti.
|
Khi được nói vậy, du sĩ ngoại
đạo Potthapàda nói với các du sĩ ngoại đạo kia:
- Này các Tôn giả, tôi cũng
không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những
vấn đề sau đây: "Thế giới là thường còn", hay "Thế giới là vô
thường", hay "Thế giới là hữu biên", hay "Thế giới là vô biên",
hay "Sinh mạng và thân thể là một", hay "Sinh mạng khác, thân
thể khác", hay "Như Lai có tồn tại sau khi chết", hay "Như Lai
không có tồn tại sau khi chết", hay "Như Lai có tồn tại và cũng
không tồn tại sau khi chết", hay "Như Lai không có tồn tại và
cũng không không tồn tại sau khi chết". Sa-môn Gotama đã tuyên
bố một phương pháp như thực, chơn chánh, chơn thật, dùng Pháp
làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc. Và khi một vị tuyên bố một
phương pháp như thực, chân chánh, chân thật, dùng Pháp làm cơ
bản, dùng Pháp làm quy tắc thì làm sao một người hiểu biết như
tôi lại không tán thành?
|
|
Cittahatthisāriputtapoṭṭhapādavatthu
422.
Atha kho dvīhatīhassa accayena Citto ca Hatthisāriputto
Poṭṭhapādo ca paribbājako yena Bhagavā tenupasaṅkamiṃsu,
upasaṅkamitvā Citto Hatthisāriputto Bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi. Poṭṭhapādo pana paribbājako Bhagavatā saddhiṃ
sammodi, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ
nisīdi, ekamantaṃ nisinno kho Poṭṭhapādo paribbājako Bhagavantaṃ
etadavoca,
|
32. Hai ba ngày sau, Citta
Hatthisàriputta và du sĩ ngoại đạo Potthapàda đi đến chỗ Thế
Tôn. Khi đi đến nơi, Citta Hatthisàriputta đảnh lễ Thế Tôn và
ngồi xuống một bên, còn du sĩ ngoại đạo Potthapàda, nói những
lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Sau khi ngồi một bên, du sĩ ngoại đạo Potthapàda bạch Thế Tôn:
|
|
–tadā maṃ bhante te paribbājakā acirapakkantassa
Bhagavato samantato vācāsannitodakena sañjhabbharimakaṃsu
“Evameva panāyaṃ bhavaṃ Poṭṭhapādo yaññadeva samaṇo Gotamo
bhāsati, taṃ tadevassa abbhanumodati ‘Evametaṃ Bhagavā evametaṃ
Sugatā’ti. Na kho pana mayaṃ kiñci samaṇassa Gotamassa ekaṃsikaṃ
dhammaṃ desitaṃ ājānāma ‘Sassato loko’ti vā, ‘Asassato loko’ti
vā, ‘Antavā loko’ti vā, ‘Anantavā loko’ti vā, ‘Taṃ jīvaṃ taṃ
sarīran’ti vā, ‘Aññaṃ jīvaṃ aññaṃ sarīran’ti vā, ‘Hoti tathāgato
paraṃ maraṇā’ti vā, ‘Na hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vā, ‘Hoti
ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vā, ‘Neva hoti na na
hoti tathāgato paraṃ maraṇā’ti vā”ti. Evaṃ vuttāhaṃ bhante te
paribbājake etadavocaṃ “Ahampi kho bho na kiñci samaṇassa
Gotamassa ekaṃsikaṃ dhammaṃ desitaṃ ājānāmi ‘Sassato loko’ti vā,
‘Asassato loko’ti vā ‑pa‑ ‘Neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ
maraṇā’ti vā, api ca samaṇo Gotamo bhūtaṃ tacchaṃ tathaṃ
paṭipadaṃ paññapeti dhammaṭṭhitataṃ dhammaniyāmataṃ, bhūtaṃ kho
pana tacchaṃ tathaṃ paṭipadaṃ paññapentassa dhammaṭṭhitataṃ
dhammaniyāmataṃ, kathaṃ hi nāma mādiso viññū samaṇassa Gotamassa
subhāsitaṃ subhāsitato nābbhanumodeyyā”ti.
|
- Bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn rời
khỏi chưa bao lâu những du sĩ ngoại đạo liền bao vây xung quanh
con và tuôn ra những lời nói mỉa mai gay gắt: "Potthapàda này là
như vậy. Những gì Sa-môn Gotama nói đều được Potthapàda tán
thành: "Bạch Thế Tôn, như vậy là phải, Bạch Thiện Thệ như vậy là
phải". Chúng tôi không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình
dứt khoát những vấn đề sau đây: "Thế giới là thường còn", hay
"Thế giới là vô thường", hay "Thế giới là hữu biên", hay "Thế
giới là vô biên", hay "Sinh mạng và thân thể là một", hay "Sinh
mạng khác, thân thể khác", hay "Như Lai có tồn tại sau khi
chết", hay "Như Lai không tồn tại sau khi chết", hay "Như Lai có
tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết", hay "Như Lai không
tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết". Khi được nói
vậy, con nói với các du sĩ ngoại đạo kia: "Này các Tôn giả, tôi
cũng không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát
những vấn đề sau đây: "Thế giới là thường con", hay "Thế giới là
vô thường", hay "Thế giới là hưu biên", hay "Thế giới là vô
biên", hay "Sinh mạng và thân thể là một", hay "Sinh mạng khác,
thân thể khác" hay "Như Lai có tồn tại sau khi chết", hay "Như
Lai không có tồn tại sau khi chết", hay "Như Lai có tồn tại và
cũng không tồn tại sau khi chết", hay "Như Lai không tồn tại và
cũng không không tồn tại sau khi chết". Sa-môn Gotama đã tuyên
bố một phương pháp như thực, chơn thánh, chơn thật, dùng Pháp
làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc. Và khi một vị đã tuyên bố một
phương pháp như thực, chơn chánh, chơn thật, dùng Pháp làm cơ
bản, dùng Pháp làm quy tắc thì làm sao một người hiểu biết như
tôi lại có thể không tán thành?"
|
|
423. Sabbeva kho ete Poṭṭhapāda paribbājakā andhā acakkhukā,
tvaṃyeva nesaṃ eko cakkhumā. Ekaṃsikāpi hi kho Poṭṭhapāda mayā
dhammā desitā paññattā, anekaṃsikāpi hi kho Poṭṭhapāda mayā
dhammā desitā paññattā.
|
33. - Này Potthapàda, những vị
du sĩ ngoại đạo ấy là mù, không có mắt, chỉ có ngươi là người có
mắt độc nhất giữa chúng. Này Potthapàda, có những pháp được Ta
truyền thuyết, trình bày một cách không dứt khoát.
|
|
Katame ca te
Poṭṭhapāda mayā anekaṃsikā dhammā desitā paññattā. Sassato
lokoti (Lokoti
vā - Sī, Ka)
kho Poṭṭhapāda mayā anekaṃsiko dhammo desito paññatto, asassato
lokoti (Lokoti vā - Sī, Ka)
kho Poṭṭhapāda mayā anekaṃsiko dhammo desito paññatto, antavā
lokoti (Lokoti
vā - Sī, Ka)
kho Poṭṭhapāda ‑pa‑ anantavā lokoti (Lokoti
vā - Sī, Ka)
kho Poṭṭhapāda. Taṃ jīvaṃ taṃ sarīranti kho Poṭṭhapāda. Aññaṃ
jīvaṃ aññaṃ sarīranti kho Poṭṭhapāda. Hoti tathāgato paraṃ
maraṇāti kho Poṭṭhapāda. Na hoti tathāgato paraṃ maraṇāti kho
Poṭṭhapāda. Hoti ca na ca hoti tathāgato paraṃ maraṇāti kho
Poṭṭhapāda. Neva hoti na na hoti tathāgato paraṃ maraṇāti kho
Poṭṭhapāda mayā anekaṃsiko dhammo desito paññatto.
|
Này
Potthapàda, có những pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một
cách dứt khoát. Này Potthapàda, những pháp gì được Ta tuyên
thuyết trình bày một cách không dứt khoát? "Thế giới là thường
còn", Này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày
một cách không dứt khoát. "Thế giới là vô thường", này
Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách
không dứt khoát. "Thế giới là hữu biên", này Potthapàda... "Thế
giới là vô biên", này Potthapàda... "Sinh mạng và thân thể là
một", này Potthapàda... "Sinh mạng khác, thân thể khác", này
Potthapàda... "Như Lai có tồn tại sau khi chết", này
Potthapàda... "Như Lai không có tồn tại sau khi chết", này
Potthapàda... "Như Lai có tồn tại và cũng không có tồn tại sau
khi chết", này Potthapàda ... "Như Lai không có tồn tại và cũng
không không có tồn tại sau khi chết", này Potthapàda, đó là pháp
được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát.
|
|
Kasmā ca te
Poṭṭhapāda mayā anekaṃsikā dhammā desitā paññattā. Nahete
Poṭṭhapāda atthasaṃhitā na dhammasaṃhitā na ādibrahmacariyakā na
Nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na
sambodhāya na Nibbānāya saṃvattanti. Tasmā te mayā anekaṃsikā
dhammā desitā paññattā.
|
Này Potthapàda, vì sao những
pháp ấy lại được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt
khoát? Này Potthapàda, những pháp này không thuộc về đích giải
thoát, không thuộc về pháp, không thuộc căn bản của phạm hạnh,
không đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến tịch tịnh,
đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy những pháp ấy
được Ta tuyên thuyết, trình bày một cách không dứt khoát.
|
| <Bài Kinh Trước> |
<Trang Kế> |
|