Trang Chính

Dīghanikāya & Trường Bộ - tập I

Font VU-Times

 

TAM TẠNG PĀLI - VIỆT

 

DĪGHANIKĀYA & TRƯỜNG BỘ tập I

(Văn bản này được thực hiện tạm thời để nghiên cứu, không phải văn bản chính thức của Công Tŕnh Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāli - Việt)

 

Cập Nhật: Tuesday, June 26, 2012

 

09. POṬṬHAPĀDASUTTAṂ (tiếp theo)

 

09. POṬṬHAPĀDASUTTAṂ - Tạng Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ

09. KINH BỐ-SÁ-BÀ-LÂU - HT. Thích Minh Châu, Nguồn: Budsas, phiên bản 7.07

Ekaṃsikadhammā

424. Katame ca te Poṭṭhapāda mayā ekaṃsikā dhammā desitā paññattā. Idaṃ dukkhanti kho Poṭṭhapāda mayā ekaṃsiko dhammo desito paññatto, ayaṃ dukkhasamudayoti kho Poṭṭhapāda mayā ekaṃsiko dhammo desito paññatto, ayaṃ dukkhanirodhoti kho Poṭṭhapāda mayā ekaṃsiko dhammo desito paññatto, ayaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti kho Poṭṭhapāda mayā ekaṃsiko dhammo desito paññatto.

 
 

Này Potthapàda, những pháp ǵ được Ta tuyên thuyết tŕnh bày một cách dứt khoát? "Đây là khổ", này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết tŕnh bày một cách dứt khoát. "Đây là khổ tập", này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết tŕnh bày một cách dứt khoát. "Đây là khổ diệt", này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết tŕnh bày một cách dứt khoát. "Đây là con đường đưa đến khổ diệt", này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết, tŕnh bày một cách dứt khoát.

 

Kasmā ca te Poṭṭhapāda mayā ekaṃsikā dhammā desitā paññattā. Ete hi Poṭṭhapāda atthasaṃhitā ete dhammasaṃhitā ete ādibrahmacariyakā ete nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya Nibbānāya saṃvattanti. Tasmā te mayā ekaṃsikā dhammā desitā paññattā.

 

Này Potthapàda, v́ sao những pháp ấy được Ta tuyên thuyết tŕnh bày một cách dứt khoát? Này Potthapàda, những pháp ấy thuộc về đích giải thoát, thuộc về Pháp, thuộc căn bản phạm hạnh, đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết-bàn. V́ vậy những pháp ấy được Ta tuyên thuyết tŕnh bày một cách dứt khoát.

 

425. Santi Poṭṭhapāda eke samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino “Ekantasukhī attā hoti arogo paraṃ maraṇā”ti. Tyāhaṃ upasaṅkamitvā evaṃ vadāmi “Saccaṃ kira tumhe āyasmanto evaṃvādino evaṃdiṭṭhino ekantasukhī attā hoti arogo paraṃ maraṇā”ti. Te ce me evaṃ puṭṭhā “Āmā”ti paṭijānanti. Tyāhaṃ evaṃ vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto ekantasukhaṃ lokaṃ jānaṃ passaṃ viharathā”ti, iti puṭṭhā “No”ti vadanti.

 

Tyāhaṃ evaṃ vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto ekaṃ vā rattiṃ ekaṃ vā divasaṃ upaḍḍhaṃ vā rattiṃ upaḍḍhaṃ vā divasaṃ ekantasukhiṃ attānaṃ sañjānāthā”ti (Sampajānāthāti - Sī, Syā, Ka), iti puṭṭhā “No”ti vadanti. Tyāhaṃ evaṃ vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto jānātha ayaṃ maggo ayaṃ paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”ti, iti puṭṭhā “No”ti vadanti.

 

34. Này Potthapàda, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: "Sau khi chết, tự ngă hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh". Ta đến những vị ấy và hỏi: "Có phải quư Đại đức có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: "Sau khi chết, tự ngă hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh". Khi được Ta hỏi như vậy, những vị ấy công nhận là phải. Ta nói: "Chư Đại đức có sống và đă biết đă thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?". Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không.

 

Ta nói với các vị ấy: "Vậy chư Đại đức có tự thân cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày không?". Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: "Chư Đại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào có thể đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?" Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không?

 

Tyāhaṃ evaṃ vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto yā tā devatā ekantasukhaṃ lokaṃ upapannā, tāsaṃ bhāsamānānaṃ saddaṃ suṇātha, suppaṭipannāttha mārisā ujuppaṭipannāttha mārisā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāya, mayampi hi mārisā evaṃpaṭipannā ekantasukhaṃ lokaṃ upapannā”ti, iti puṭṭhā “No”ti vadanti.

 

Taṃ kiṃ maññasi Poṭṭhapāda “Nanu evaṃ sante tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ appāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatī”ti. Addhā kho bhante evaṃ sante tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ appāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatīti.

 

Ta nói với các vị ấy: "Chư Đại đức có nghe tiếng nói của chư thiên, đă được sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc. "Này các vị, hăy cố gắng khéo thực hành. Này các vị hăy thực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh phúc. Này các vị, chúng tôi đă thực hành, đă sanh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc" không? Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời không.

 

Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn kia là không chánh xác hợp lư?

 

426. Seyyathāpi Poṭṭhapāda puriso evaṃ vadeyya “Ahaṃ yā imasmiṃ janapade Janapadakalyāṇī, taṃ icchāmi taṃ kāmemī”ti. Tamenaṃ evaṃ vadeyyuṃ “Ambho purisa yaṃ tvaṃ Janapadakalyāṇiṃ icchasi kāmesi, jānāsi taṃ Janapadakalyāṇiṃ khattiyī vā brāhmaṇī vā vessī vā suddī vā”ti, iti puṭṭho “No”ti vadeyya. Tamenaṃ evaṃ vadeyyuṃ “Ambho purisa yaṃ tvaṃ Janapadakalyāṇiṃ icchasi kāmesi, janāsi taṃ Janapadakalyāṇiṃ evaṃnāmā evaṃgottāti vā, dīghā vā rassā vā majjhimā vā kāḷī vā sāmā vā maṅguracchavī vāti, amukasmiṃ gāme vā nigame vā nagare vā”ti, iti puṭṭho “No”ti vadeyya. Tamenaṃ evaṃ vadeyyuṃ “Ambho purisa yaṃ tvaṃ na jānāsi na passati, taṃ tvaṃ icchasi kāmesī”ti, iti puṭṭho “Āmā”ti vadeyya.

 

Taṃ kiṃ maññasi Poṭṭhapāda “Nanu evaṃ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatī”ti.

 

Addhā kho bhante evaṃ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatīti.

 

35. Như có một người nói: "Tôi yêu và ái luyến một cô gái đẹp trong nước này". Có người hỏi: "Này bạn, cô gái đẹp ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết là người giai cấp nào, là Sát-đế-lỵ, hay Bà-la-môn, hay Phệ-xá, hay Thủ-đà?" Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: "Này bạn, cô gái đẹp Ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết tên ǵ, lớn người, thấp người hay người bậc trung? Da đen sẫm, da ngăm ngăm đen hay da hồng hào? Ở tại làng nào, hay thành phố nào?" Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: "Này bạn, như vậy có phải Ông đă yêu và ái luyến một người Ông không biết, Ông không thấy?" Được hỏi vậy vị ấy trả lời phải.

 

Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của người kia là không chánh xác hợp lư?

 

- Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lư.

 

Evameva kho Poṭṭhapāda ye te samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino “Ekantasukhī attā hoti arogo paraṃ maraṇā”ti. Tyāhaṃ upasaṅkamitvā evaṃ vadāmi “Saccaṃ kira tumhe āyasmanto evaṃvādino evaṃdiṭṭhino ekantasukhī attā hoti arogo paraṃ maraṇā”ti. Te ce me evaṃ puṭṭhā “Āmā”ti paṭijānanti. Tyāhaṃ evaṃ vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto ekantasukhaṃ lokaṃ jānaṃ passaṃ viharathā”ti, iti puṭṭhā “No”ti vadanti.

 

Tyāhaṃ evaṃ vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto ekaṃ vā rattiṃ ekaṃ vā divasaṃ upaḍḍhaṃ vā rattiṃ upaḍḍhaṃ vā divasaṃ ekantasukhiṃ attānaṃ sañjānāthā”ti, iti puṭṭhā “No”ti vadanti. Tyāhaṃ evaṃ vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto jānātha ayaṃ maggo ayaṃ paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”ti, iti puṭṭhā “No”ti vadanti.

 

Tyāhaṃ evaṃ vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto yā tā devatā ekantasukhaṃ lokaṃ upapannā, tāsaṃ bhāsamānānaṃ saddaṃ suṇātha, suppaṭipannāttha mārisā ujuppaṭipannāttha mārisā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāya, mayampi hi mārisā evaṃpaṭipannā ekantasukhaṃ lokaṃ upapannā”ti, iti puṭṭhā “No”ti vadanti.

 

Taṃ kiṃ maññasi Poṭṭhapāda “Nanu evaṃ sante tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ appāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatī”ti.

 

Addhā kho bhante evaṃ sante tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ appāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatīti.

 

36. - Như vậy này Potthapàda, những Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: "Sau khi chết tự ngă hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh", Ta đến những vị ấy và hỏi: "Có phải quư Đại đức có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: "Sau khi chết, tự ngă hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh". Khi được hỏi như vậy, những vị ấy công nhận là phải. Ta nói: "Chư Đại đức có sống và đă biết, đă thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?" Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không.

 

Ta nói với các vị ấy: "Vậy chư Đại đức có tự nhận cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày không?". Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: "Chư Đại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?" Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không?

 

Ta nói với các vị ấy: "Chư Đại đức có nghe tiếng nói của chư thiên đă được sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc: 'Này các vị, hăy cố gắng khéo thực hạnh! Này các vị, hăy trực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh phúc! Này các vị, chúng tôi đă thực hành, đă sanh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc' không?" Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không.

 

Này Potthapàda, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn kia là không chánh xác, hợp lư?

 

- Vâng phải, bạch Thế Tôn sự kiện là như vậy, theo lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lư.

 

427. Seyyathāpi Poṭṭhapāda puriso cātumahāpathe nisseṇiṃ kareyya pāsādassa ārohaṇāya. Tamenaṃ evaṃ vadeyyuṃ “Ambho purisa yassa tvaṃ (Yaṃ tvaṃ - Sī, Ka) pāsādassa ārohaṇāya nisseṇiṃ karosi, jānāsi taṃ pāsādaṃ puratthimāya vā disāya dakkhiṇāya vā disāya pacchimāya vā disāya uttarāya vā disāya ucco vā nīco vā majjhimo vā”ti, iti puṭṭho “No”ti vadeyya. Tamenaṃ evaṃ vadeyyuṃ “Ambho purisa yaṃ tvaṃ na jānāsi na passati, tassa tvaṃ pāsādassa ārohaṇāya nisseṇiṃ karosī”ti, iti puṭṭho “Āmā”ti vadeyya.

 

37. - Này Potthapàda, như một người muốn xây tại ngă tư đường một cái thang để leo lên lầu. Có người hỏi: "Này bạn, Ông muốn xây một cái thang để leo lên lầu, vậy Ông có biết lầu ấy là về hướng Đông, hay về hướng Tây, hay về hướng Bắc, hay về hướng Nam? Nhà lầu ấy cao hay thấp, hay trung b́nh?" Được hỏi vậy, vị ấy trả lời không biết. Có người hỏi: "Này bạn, như vậy có phải, Ông xây một cái thang để leo lên một cái lầu mà Ông không biết, không thấy?" Được hỏi vậy, vị ấy trả lời phải.

 

Taṃ kiṃ maññasi Poṭṭhapāda “Nanu evaṃ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatī”ti.

 

Addhā kho bhante evaṃ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatīti.

 

Này Potthapàda ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lư?

 

- Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lư.

 

Evameva kho Poṭṭhapāda ye te samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino “Ekantasukhī attā hoti arogo paraṃ maraṇā”ti. Tyāhaṃ upasaṅkamitvā evaṃ vadāmi “Saccaṃ kira tumhe āyasmānto evaṃvādino evaṃdiṭṭhino ekantasukhī attā hoti arogo paraṃ maraṇā”ti. Te ce me evaṃ puṭṭhā “Āmā”ti paṭijānanti. Tyāhaṃ evaṃ vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto ekantasukhaṃ lokaṃ jānaṃ passaṃ viharathā”ti, iti puṭṭhā “No”ti vadanti. Tyāhaṃ evaṃ vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto ekaṃ vā rattiṃ ekaṃ vā divasaṃ upaḍḍhaṃ vā rattiṃ upaḍḍhaṃ vā divasaṃ ekantasukhiṃ attānaṃ sañjānāthā”ti, iti puṭṭhā “No”ti vadanti.

 

38. - Như vậy này Potthapàda, những Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: "Sau khi chết, tự ngă hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh". Ta đến những vị ấy và hỏi: "Có phải quư Đại đức có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: "Sau khi chết, tự ngă hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh". Khi được hỏi vậy, những vị ấy công nhận là phải. Ta nói: "Chư Đại đức có sống và đă biết, đă thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?" Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không.

 

Tyāhaṃ evaṃ vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto jānātha ayaṃ maggo ayaṃ paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”ti, iti puṭṭhā “No”ti vadanti.

 

Ta nói với các vị ấy: "Chư Đại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào có thể đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?" Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không.

 

Tyāhaṃ evaṃ vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto yā tā devatā ekantasukhaṃ lokaṃ upapannā, tāsaṃ devatānaṃ bhāsamānānaṃ saddaṃ suṇātha, suppaṭipannāttha mārisā ujuppaṭipannāttha mārisā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāya, mayampi hi mārisā evaṃ paṭipannā ekantasukhaṃ lokaṃ upapannā”ti, iti puṭṭhā “No”ti vadanti.

 

Ta nói với các vị ấy: "Vậy chư Đại đức có tự tâm cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày không?" Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: "Chư Đại đức có nghe tiếng nói của chư thiên đă được sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc: 'Này các vị, hăy cố gắng thực hành! Này các vị, hăy trực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh phúc. Này các vị, chúng tôi đă thực hành, đă sanh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc' không?" Khi được nói vậy, các vị ấy trả lời là không.

 

Taṃ kiṃ maññasi Poṭṭhapāda “Nanu evaṃ sante tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ appāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatī”ti.

 

Addhā kho bhante evaṃ sante tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ appāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatīti.

 

Này Potthapàda, ngươi nghĩ như thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn, kia là không chánh xác, hợp lư.

 

- Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia không chánh đáng, hợp lư.

 

Tayo attapaṭilābha

428. Tayo kho me Poṭṭhapāda attapaṭilābhā oḷāriko attapaṭilābho, manomayo attapaṭilābho, arūpo attapaṭilābho. Katamo ca Poṭṭhapāda oḷāriko attapaṭilābho. Rūpī cātumahābhūtiko kabaḷīkārāhārabhakkho (Kabaḷīkārabhakkho - Syā, Ka), ayaṃ oḷāriko attapaṭilābho. Katamo manomayo attapaṭilābho. Rūpī manomayo sabbaṅgapaccaṅgī ahīnindriyo, ayaṃ manomayo attapaṭilābho. Katamo arūpo attapaṭilābho. Arūpī saññāmayo, ayaṃ arūpo attapaṭilābho.

 
 

39. - Này Potthapàda, có ba loại ngă chấp: thô phù ngă chấp, ư sở thành ngă chấp, vô sắc ngă chấp. Này Potthapàda, thế nào là thô phù ngă chấp? Có sắc, do bốn đại h́nh thành, do đoàn thực nuôi dưỡng là thô phù ngă chấp. Thế nào ư sở thành ngă chấp? Có sắc, do ư sở thành, đầy đủ chi tiết lớn nhỏ, các căn đầy đủ, là ư sở thành ngă chấp. Thế nào là vô sắc ngă chấp? Không có sắc, do tưởng sở thành là vô sắc ngă chấp.

 

429. Oḷārikassapi kho ahaṃ Poṭṭhapāda attapaṭilābhassa pahānāya dhammaṃ desemi “Yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti. Siyā kho pana te Poṭṭhapāda evamassa “Saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, dukkho ca kho vihāro”ti. Na kho panetaṃ Poṭṭhapāda evaṃ daṭṭhabbaṃ. Saṃkilesikā ceva dhammā pahīyissanti, vodāniyā ca dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, pāmujjañceva bhavissati pīti ca passaddhi ca sati ca sampajaññañca sukho ca vihāro.

 

40. Này Potthapàda, Ta thuyết pháp để diệt thô phù ngă chấp. Nếu các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại, tự ḿnh giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn, quảng đại. Này Potthapàda, rất có thể các người nghĩ: "Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng, và ngay hiện tại tự ḿnh giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn, quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại". Này Potthapàda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, ngay hiện tại tự ḿnh giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn, quảng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, khinh an, chánh niệm, tỉnh giác và lạc trú sanh.

 

430. Manomayassapi kho ahaṃ Poṭṭhapāda attapaṭilābhassa pahānāya dhammaṃ desemi “Yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti. Siyā kho pana te Poṭṭhapāda evamassa “Saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, dukkho ca kho vihāro”ti. Na kho panetaṃ Poṭṭhapāda evaṃ daṭṭhabbaṃ. Saṃkilesikā ceva dhammā pahīyissanti, vodāniyā ca dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, pāmujjañceva bhavissati pīti ca passaddhi ca sati ca sampajaññañca sukho ca vihāro.

 

41. Này Potthapàda, Ta thuyết pháp cũng để diệt trừ ư sở thành ngă chấp. Nếu các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại, tự ḿnh giác ngộ và an trú trí tuệ sung măn quảng đại. Này Potthapàda, rất có thể các ngươi nghĩ: "Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng, và ngay hiện tại tự ḿnh giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại". Này Potthapàda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, khi ngay hiện tại tự ḿnh giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn quăng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, khinh an, chánh niệm tỉnh giác là lạc trú sanh.

 

431. Arūpassapi kho ahaṃ Poṭṭhapāda attapaṭilābhassa pahānāya dhammaṃ desemi “Yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti. Siyā kho pana te Poṭṭhapāda evamassa “Saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, dukkho ca kho vihāro”ti. Na kho panetaṃ Poṭṭhapāda evaṃ daṭṭhabbaṃ. Saṃkilesikā ceva dhammā pahīyissanti, vodāniyā ca dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, pāmujjañceva bhavissati pīti ca passaddhi ca sati ca sampajaññañca sukho ca vihāro.

 

42. Này Potthapàda, Ta thuyết pháp cũng để diệt trừ vô sắc ngă chấp. Nếu các ngươi thực hành theo pháp này, thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại tự ḿnh giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn quảng đại. Này Potthapàda, rất có thể các ngươi nghĩ: "Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng, ngay hiện tại tự ḿnh giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại". Này Potthapàda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, ngay hiện tại tự ḿnh giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn quảng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, chánh niệm, tỉnh giác và lạc trú sanh.

 

432. Pare ce Poṭṭhapāda amhe evaṃ puccheyyuṃ “Katamo pana so āvuso oḷāriko attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṃ desetha, yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāparipūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.

 

43. Này Potthapàda, có những người ngoài hỏi chúng tôi: "Này Hiền giả, thô phù ngă chấp ấy là ǵ mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại tự ḿnh giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn quảng đại?"

 

Tesaṃ mayaṃ evaṃ puṭṭhā evaṃ byākareyyāma “Ayaṃ vā so āvuso oḷāriko attapaṭilābho, yassa mayaṃ pahānāya dhammaṃ desema, yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.

 

Khi được chúng hỏi như vậy, chúng tôi trả lời "Này Hiền giả, chính thô phù ngă chấp ấy, chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này, thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại tự ḿnh giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn quảng đại".

 

433. Pare ce Poṭṭhapāda amhe evaṃ puccheyyuṃ “Katamo pana so āvuso manomayo attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṃ desetha, yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.

 

44. Này Potthapàda, có những người ngoài hỏi: "Này Hiền giả, ư sở thành ngă chấp ấy là ǵ mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp này được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại tự ḿnh giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn, quảng đại?"

 

Tesaṃ mayaṃ evaṃ puṭṭhā evaṃ byākareyyāma “Ayaṃ vā so āvuso manomayo attapaṭilābho yassa mayaṃ pahānāya dhammaṃ desema, yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.

 

Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: "Này Hiền giả, chính ư sở thành ngă chấp ấy chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự ḿnh giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn quảng đại".

 

434. Pare ce Poṭṭhapāda amhe evaṃ puccheyyuṃ “Katamo pana so āvuso arūpo attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṃ desetha, yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti. Tesaṃ mayaṃ evaṃ puṭṭhā evaṃ byākareyyāma “Ayaṃ vā so āvuso arūpo attapaṭilābho yassa mayaṃ pahānāya dhammaṃ desema, yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.

 

45. Này Potthapàda, có những người ngoài hỏi chúng tôi: "Này Hiền giả, vô sắc ngă chấp ấy là ǵ mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự ḿnh giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn quảng đại?". Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: "Này Hiền giả, chính vô sắc ngă chấp ấy, chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự ḿnh giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn quảng đại".

 

Taṃ kiṃ maññasi Poṭṭhapāda “Nanu evaṃ sante sappāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatī”ti. Addhā kho bhante evaṃ sante sappāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatīti.

 

Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói ấy là chánh xác, hợp lư?

 

435. Seyyathāpi Poṭṭhapāda puriso nisseṇiṃ kareyya pāsādassa ārohaṇāya tasseva pāsādassa heṭṭhā. Tamenaṃ evaṃ vadeyyuṃ “Ambho purisa yassa tvaṃ pāsādassa ārohaṇāya nisseṇiṃ karosi, jānāsi taṃ pāsādaṃ puratthimāya vā disāya dakkhiṇāya vā disāya pacchimāya vā disāya uttarāya vā disāya ucco vā nīco vā majjhimo vā”ti. So evaṃ vadeyya “Ayaṃ vā so āvuso pāsādo, yassāhaṃ ārohaṇāya nisseṇiṃ karomi tasseva pāsādassa heṭṭhā”ti.

 

46. Này Potthapàda, ví như một người xây một cái thang để leo lên lầu, từ dưới chân lầu ấy. Người ấy được hỏi: "Này bạn, Ông xây cái thang để leo lên lầu, cái lầu ấy về hướng Đông hay hướng Nam, hay hướng Tây, hay hướng Bắc? Nhà lầu ấy cao, hay thấp, hay trung b́nh? Nếu người ấy trả lời: "Này Hiền giả, cái lầu mà tôi xây thang để leo lên chính tại dưới chân lầu này".

 

Taṃ kiṃ maññasi Poṭṭhapāda “Nanu evaṃ sante tassa purisassa sappāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatī”ti.

 

Addhā kho bhante evaṃ sante tassa purisassa sappāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatīti.

 

Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói ấy là chính xác, hợp chăng?

 

- Vâng phải, bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là chánh xác, hợp lư!

 

436. Evameva kho Poṭṭhapāda pare ce amhe evaṃ puccheyyuṃ “Katamo pana so āvuso oḷāriko attapaṭilābho ‑pa‑. Katamo pana so āvuso manomayo attapaṭilābho ‑pa‑. Katamo pana so āvuso arūpo attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṃ desetha, yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti. Tesaṃ mayaṃ evaṃ puṭṭhā evaṃ byākareyyāma “Ayaṃ vā so āvuso arūpo attapaṭilābho, yassa mayaṃ pahānāya dhammaṃ desema, yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.

 

47. - Như vậy, này Potthapàda, và có những người ngoài hỏi chúng tôi: "Này Hiền giả, thô phù ngă chấp là ǵ?... Này Hiền giả, ư sở thành ngă chấp là ǵ?... Này Hiền giả, vô sắc ngă chấp ấy là ǵ mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự ḿnh giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn quảng đại?" Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: "Này Hiền giả, chính vô sắc ngă chấp ấy mà chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự ḿnh giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn quảng đại".

 

Taṃ kiṃ maññasi Poṭṭhapāda “Nanu evaṃ sante sappāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatī”ti.

 

Addhā kho bhante evaṃ sante sappāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatīti.

 

- Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói ấy là chánh xác, hợp lư?

 

- Vâng phải, bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là chánh xác, hợp lư!

 

437. Evaṃ vutte citto hatthisāriputto Bhagavantaṃ etadavoca

 

“Yasmiṃ bhante samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, moghassa tasmiṃ samaye manomayo attapaṭilābho hoti, mogho arūpo attapaṭilābho hoti, oḷāriko vāssa attapaṭilābho tasmiṃ samaye sacco hoti. Yasmiṃ bhante samaye manomayo attapaṭilābho hoti, moghassa tasmiṃ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, mogho arūpo attapaṭilābho hoti, manomayo vāssa attapaṭilābho tasmiṃ samaye sacco hoti. Yasmiṃ bhante samaye arūpo attapaṭilābho hoti, moghassa tasmiṃ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, mogho manomayo attapaṭilābho hoti, arūpo vāssa attapaṭilābho tasmiṃ samaye sacco hotī”ti.

 

48. Khi nghe nói vậy, Citta Hatthisàriputta bạch Thế Tôn:

 

- Bạch Thế Tôn, trong khi có thô phù ngă chấp, phải chăng không có ư sở thành ngă chấp, không có vô sắc ngă chấp? Thô phù ngă chấp khi ấy thật có tồn tại. Bạch Thế Tôn, trong khi có ư sở thành ngă chấp, phải chăng không có thô phù ngă chấp, không có vô sắc ngă chấp? Ư sở thành ngă chấp khi ấy thật có tồn tại. Bạch Thế Tôn, trong khi có vô sắc ngă chấp, phải chăng không có thô phù ngă chấp, không có ư sở thành ngă chấp? Vô sắc ngă chấp khi ấy thật có tồn tại.

 

Yasmiṃ citta samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, neva tasmiṃ samaye manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, na arūpo attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, oḷāriko attapaṭilābhotveva tasmiṃ samaye saṅkhaṃ gacchati. Yasmiṃ citta samaye manomayo attapaṭilābho hoti, neva tasmiṃ samaye oḷāriko attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, na arūpo attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, manomayo attapaṭilābhotveva tasmiṃ samaye saṅkhaṃ gacchati. Yasmiṃ citta samaye arūpo attapaṭilābho hoti, neva tasmiṃ samaye oḷāriko attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, na manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, arūpo attapaṭilābhotveva tasmiṃ samaye saṅkhaṃ gacchati.

 

49. - Này Citta, trong khi có thô phù ngă chấp, thời ngă chấp ấy không thuộc ư sở thành ngă chấp, không thuộc vô sắc ngă chấp, chính khi ấy thuộc thô phù ngă chấp. Này Citta, trong khi có ư sở thành ngă chấp, thời ngă chấp ấy không thuộc thô phù ngă chấp, không thuộc vô sắc ngă chấp, chính khi ấy thuộc ư sở thành ngă chấp. Này Citta, trong khi có vô sắc ngă chấp, thời ngă chấp ấy không thuộc thô phù ngă chấp, không thuộc ư sở thành ngă chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngă chấp. Này Citta, nếu có người hỏi ngươi: "Ngươi đă có tồn tại ở quá khứ hay không? Ngươi sẽ tồn tại ở tương lai hay không? Ngươi có tồn tại ở hiện tại không?" Này Citta, được hỏi vậy, ngươi trả lời như thế nào?

 

438. Sace taṃ citta evaṃ puccheyyuṃ “Ahosi tvaṃ atītamaddhānaṃ, na tvaṃ nāhosi, bhavissasi tvaṃ anāgatamaddhānaṃ, na tvaṃ na bhavissasi, atthi tvaṃ etarahi, na tvaṃ natthī”ti, evaṃ puṭṭho tvaṃ citta kinti byākareyyāsīti. Sace maṃ bhante evaṃ puccheyyuṃ “Ahosi tvaṃ atītamaddhānaṃ, na tvaṃ na ahosi, bhavissasi tvaṃ anāgatamaddhānaṃ, na tvaṃ na bhavissasi, atthi tvaṃ etarahi, na tvaṃ natthī”ti. Evaṃ puṭṭho ahaṃ bhante evaṃ byākareyyaṃ “Ahosāhaṃ atītamaddhānaṃ, nāhaṃ na ahosiṃ, bhavissāmahaṃ anāgatamaddhānaṃ, nāhaṃ na bhavissāmi, atthāhaṃ etarahi, nāhaṃ natthī”ti. Evaṃ puṭṭho ahaṃ bhante evaṃ byākareyyanti.

 

- Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con: "Ngươi đă có tồn tại ở quá khứ hay không? Ngươi sẽ tồn tại ở tương lai hay không? Ngươi có tồn tại ở hiện tại hay không?" Bạch Thế Tôn được hỏi vậy, con sẽ trả lời: "Tôi đă có tồn tại ở quá khứ, không phải không tồn tại; tôi sẽ tồn tại ở tương lai, không phải không tồn tại; tôi tồn tại ở hiện tại, không phải không tồn tại". Bạch Thế Tôn, nếu được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vậy.

 

Sace pana taṃ citte evaṃ puccheyyuṃ “Yo te ahosi atīto attapaṭilābho, sova (Sveva - Sī, I; soyeva - Syā) te attapaṭilābho sacco, mogho anāgato, mogho paccuppanno. Yo (Yo vā - I) te bhavissati anāgato attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho paccuppanno. Yo (Yo vā - I) te etarahi paccuppanno attapaṭilābho, sova (So ca - Ka) te attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho anāgato”ti.

 

50. - Này Citta, nếu có người hỏi lại ngươi: "Quá khứ ngă chấp mà Ngươi đă có, có phải ngă chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngă chấp tương lai không tồn tại, ngă chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngă chấp mà Ngươi sẽ có, có phải ngă chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngă chấp quá khứ không tồn tại, ngă chấp hiện tại không tồn tại? Hiện tại ngă chấp mà Ngươi hiện có, có phải ngă chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngă chấp quá khứ không tồn tại, ngă chấp tương lai không tồn tại?" Này Citta, được hỏi vậy, Ngươi trả lời thế nào?

 

Evaṃ puṭṭho tvaṃ citta kinti byākareyyāsīti. Sace pana maṃ bhante evaṃ puccheyyuṃ “Yo te ahosi atīto attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho anāgato, mogho paccuppanno. Yo te bhavissati anāgato attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho paccuppanno. Yo te etarahi paccuppanno attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho anāgato”ti. Evaṃ puṭṭho ahaṃ bhante evaṃ byākareyyaṃ “Yo me ahosi atīto attapaṭilābho, sova me attapaṭilābho tasmiṃ samaye sacco ahosi, mogho anāgato, mogho paccuppanno. Yo me bhavissati anāgato attapaṭilābho, sova me attapaṭilābho tasmiṃ samaye sacco bhavissati, mogho atīto, mogho paccuppanno. Yo me etarahi paccuppanno attapaṭilābho, sova me attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho anāgato”ti. Evaṃ puṭṭho ahaṃ bhante evaṃ byākareyyanti.

 

- Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con: "Quá khứ ngă chấp mà Ngươi đă có, có phải ngă chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngă chấp tương lai không tồn tại, ngă chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngă chấp mà Ngươi sẽ có, có phải ngă chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngă chấp quá khứ không tồn tại, ngă chấp hiện tại không tồn tại? Hiện tại ngă chấp mà Ngươi hiện có, có phải ngă chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngă chấp quá khứ không tồn tại, ngă chấp tương lai không tồn tại?" Bạch Thế Tôn, nếu được hỏi vậy, con sẽ trả lời: "Quá khứ ngă chấp mà tôi đă có, ngă chấp ấy đối với tôi là thật có, ngă chấp tương lai không tồn tại, ngă chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngă chấp mà tôi sẽ có, ngă chấp ấy đối với tôi là thật có, ngă chấp quá khứ không tồn tại, ngă chấp hiện tại không tồn tại. Hiện tại ngă chấp mà tôi hiện có, ngă chấp ấy đối với tôi là thật có, ngă chấp quá khứ không tồn tại, ngă chấp tương lai không tồn tại". Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy, con sẽ trả lời như vậy.

 

439. Evameva kho citta yasmiṃ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, neva tasmiṃ samaye manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, na arūpo attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, oḷāriko attapaṭilābhotveva tasmiṃ samaye saṅkhaṃ gacchati. Yasmiṃ citta samaye manomayo attapaṭilābho hoti ‑pa‑. Yasmiṃ citta samaye arūpo attapaṭilābho hoti, neva tasmiṃ samaye oḷāriko attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, na manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, arūpo attapaṭilābhotveva tasmiṃ samaye saṅkhaṃ gacchati.

 

51. - Như vậy này Citta, trong khi có thô phù ngă chấp, thời ngă chấp ấy không thuộc ư sở thành ngă chấp, không thuộc vô sắc ngă chấp, chính khi ấy thuộc thô phù ngă chấp. Này Citta, trong khi có ư sở thành ngă chấp, thời ngă chấp ấy không thuộc vô sắc ngă chấp, chính khi ấy thuộc ư sở thành ngă chấp. Này Citta, trong khi có vô sắc ngă chấp, thời ngă chấp không thuộc thô phù ngă chấp, không thuộc ư sở thành ngă chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngă chấp.

 

440. Seyyathāpi citta gavā khīraṃ, khīramhā dadhi, dadhimhā navanītaṃ, navanītamhā sappi, sappimhā sappimaṇḍo. Yasmiṃ samaye khīraṃ hoti, neva tasmiṃ samaye dadhīti saṅkhaṃ gacchati, na navanītanti saṅkhaṃ gacchati, na sappīti saṅkhaṃ gacchati, na sappimaṇḍoti saṅkhaṃ gacchati, khīraṃtveva tasmiṃ samaye saṅkhaṃ gacchati. Yasmiṃ samaye dadhi hoti ‑pa‑ navanītaṃ hoti. Sappi hoti. Sappimaṇḍo hoti, neva tasmiṃ samaye khīranti saṅkhaṃ gacchati, na dadhīti saṅkhaṃ gacchati, na navanītanti saṅkhaṃ gacchati, na sappīti saṅkhaṃ gacchati, sappimaṇḍotveva tasmiṃ samaye saṅkhaṃ gacchati.

 

52. Này Citta, ví như từ ḅ cái sanh ra sữa, từ sữa sinh ra lạc, từ lạc sanh ra sanh tô, từ sanh tô sanh ra thục tô, từ thục tô sanh ra đề hồ. Khi thành sữa thời sữa ấy không thuộc lạc, không thuộc sanh tô, không thuộc thục tô, không thuộc đề hồ, chính khi ấy thuộc sữa; khi thành lạc... khi thành sanh tô... khi thành thục tô... khi thành đề hồ thời đề hồ không thuộc sữa, không thuộc lạc, không thuộc sanh tô, không thuộc thục tô, chính khi ấy thuộc đề hồ.

 

 Evameva kho citta yasmiṃ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti ‑pa‑. Yasmiṃ citta samaye manomayo attapaṭilābho hoti ‑pa‑. Yasmiṃ citta samaye arūpo attapaṭilābho hoti, neva tasmiṃ samaye oḷāriko attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, na manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, arūpo attapaṭilābhotveva tasmiṃ samaye saṅkhaṃ gacchati. Imā kho citta lokasamaññā lokaniruttiyo lokavohārā lokapaññattiyo, yāhi Tathāgato voharati aparāmasanti.

 

53. Như vậy này Citta trong khi có thô phù ngă chấp... Này Citta, trong khi có ư sở thành ngă chấp... Này Citta, trong khi có vô sắc ngă chấp thời ngă chấp ấy không thuộc thô phù ngă chấp, không thuộc ư sở thành ngă chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngă chấp. Này Citta, chúng chỉ là danh tự thế gian, ngôn ngữ thế gian, danh xưng thế gian, kư pháp thế gian. Như Lai dùng chúng nhưng không chấp trước chúng.

 

441. Evaṃ vutte Poṭṭhapādo paribbājako Bhagavantaṃ etadavoca

 

“Abhikkantaṃ bhante abhikkantaṃ bhante, seyyathāpi bhante nikkujjitaṃ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṃ dhāreyya ‘Cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti, evamevaṃ Bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito, esāhaṃ bhante Bhagavantaṃ saraṇaṃ gacchāmi Dhammañca Bhikkhusaṃghañca, upāsakaṃ maṃ Bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gatan”ti.

 

54. Được nghe nói vậy du sĩ ngoại đạo Potthapàda bạch Thế Tôn:

 

- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng lại những ǵ bị quăng ngă xuống, phơi bày những ǵ bị che kín, chỉ đường cho những người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đă được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện tŕnh bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

 

Cittahatthisāriputta-upasampadā

442. Citto pana Hatthisāriputto Bhagavantaṃ etadavoca

 

“Abhikkantaṃ bhante abhikkantaṃ bhante, seyyathāpi bhante nikkujjitaṃ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṃ dhāreyya ‘Cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti, evamevaṃ Bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito, esāhaṃ bhante Bhagavantaṃ saraṇaṃ gacchāmi Dhammañca Bhikkhusaṃghañca, labheyyāhaṃ bhante Bhagavato santike pabbajjaṃ labheyyaṃ upasampadan”ti.

 

 

55. Và Citta Hatthisàriputta cũng bạch Thế Tôn:

 

- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những ǵ bị quăng ngă xuống, phơi bày ra những ǵ bị che kín, chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đă được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện tŕnh bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, mong cho con thọ đại giới.

 

443. Alattha kho citto Hatthisāriputto Bhagavato santike pabbajjaṃ alattha upasampadaṃ. Acirūpasampanno kho panāyasmā citto Hatthisāriputto eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto na cirasseva yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṃ pabbajanti, tadanuttaraṃ brahmacariyapariyosānaṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi, “Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā”ti abbhaññāsi.

 

56. Citta Hatthisàriputta được xuất gia với Thế Tôn và được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Đại đức Citta Hatthisàriputta ở một ḿnh, an tịnh, không phóng dật, sống nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đă xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh hướng đến. Đó là vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự ḿnh với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú: sanh đă tận, phạm hạnh đă thành, những ǵ nên làm đă làm sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa. Đại đức Citta Hatthisàriputta hiểu biết như vậy.

 

Aññataro kho panāyasmā citto Hatthisāriputto Arahataṃ ahosīti.  

 

Và đại đức Citta Hatthisàriputta trở thành một vị A-la-hán nữa.

Poṭṭhapādasuttaṃ niṭṭhitaṃ navamaṃ.

 

 

<Trang Trước>

<Bài Kinh Kế>

 

 | 09-01 | 09-02 |
| Mục lục Trường Bộ I | Mục lục Trường Bộ II | Mục lục Trường Bộ III |
 

<Đầu Trang>