|
09.
POṬṬHAPĀDASUTTAṂ
(tiếp theo)
|
|
09. POṬṬHAPĀDASUTTAṂ - Tạng
Miến Điện by Ven. Khánh Hỷ |
09. KINH
BỐ-SÁ-BÀ-LÂU - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas, phiên bản 7.07 |
|
Ekaṃsikadhammā
424.
Katame ca te Poṭṭhapāda mayā ekaṃsikā dhammā desitā paññattā.
Idaṃ dukkhanti kho Poṭṭhapāda mayā ekaṃsiko dhammo desito
paññatto, ayaṃ dukkhasamudayoti kho Poṭṭhapāda mayā ekaṃsiko
dhammo desito paññatto, ayaṃ dukkhanirodhoti kho Poṭṭhapāda mayā
ekaṃsiko dhammo desito paññatto, ayaṃ dukkhanirodhagāminī
paṭipadāti kho Poṭṭhapāda mayā ekaṃsiko dhammo desito paññatto.
|
Này
Potthapàda, những pháp ǵ được Ta tuyên thuyết tŕnh bày một
cách dứt khoát? "Đây là khổ", này Potthapàda, đó là pháp được Ta
tuyên thuyết tŕnh bày một cách dứt khoát. "Đây là khổ tập", này
Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết tŕnh bày một cách
dứt khoát. "Đây là khổ diệt", này Potthapàda, đó là pháp được Ta
tuyên thuyết tŕnh bày một cách dứt khoát. "Đây là con đường đưa
đến khổ diệt", này Potthapàda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết,
tŕnh bày một cách dứt khoát.
|
|
Kasmā ca te
Poṭṭhapāda mayā ekaṃsikā dhammā desitā paññattā. Ete hi
Poṭṭhapāda atthasaṃhitā ete dhammasaṃhitā ete ādibrahmacariyakā
ete nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya
Nibbānāya saṃvattanti. Tasmā te mayā ekaṃsikā dhammā desitā
paññattā.
|
Này Potthapàda, v́ sao những
pháp ấy được Ta tuyên thuyết tŕnh bày một cách dứt khoát? Này
Potthapàda, những pháp ấy thuộc về đích giải thoát, thuộc về
Pháp, thuộc căn bản phạm hạnh, đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến
tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến
Niết-bàn. V́ vậy những pháp ấy được Ta tuyên thuyết tŕnh bày
một cách dứt khoát.
|
|
425.
Santi Poṭṭhapāda eke samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino
“Ekantasukhī attā hoti arogo paraṃ maraṇā”ti. Tyāhaṃ
upasaṅkamitvā evaṃ vadāmi “Saccaṃ kira tumhe āyasmanto
evaṃvādino evaṃdiṭṭhino ekantasukhī attā hoti arogo paraṃ
maraṇā”ti. Te ce me evaṃ puṭṭhā “Āmā”ti
paṭijānanti. Tyāhaṃ evaṃ vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto
ekantasukhaṃ lokaṃ jānaṃ passaṃ viharathā”ti, iti puṭṭhā “No”ti
vadanti.
Tyāhaṃ evaṃ
vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto ekaṃ vā rattiṃ ekaṃ vā divasaṃ
upaḍḍhaṃ vā rattiṃ upaḍḍhaṃ vā divasaṃ ekantasukhiṃ attānaṃ
sañjānāthā”ti (Sampajānāthāti
- Sī, Syā, Ka),
iti puṭṭhā “No”ti vadanti. Tyāhaṃ evaṃ vadāmi “Api pana tumhe
āyasmanto jānātha ayaṃ maggo ayaṃ paṭipadā ekantasukhassa
lokassa sacchikiriyāyā”ti, iti puṭṭhā “No”ti vadanti.
|
34. Này Potthapàda, có một số
Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế
này: "Sau khi chết, tự ngă hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh". Ta đến
những vị ấy và hỏi: "Có phải quư Đại đức có chủ trương như thế
này, có chủ kiến như thế này: "Sau khi chết, tự ngă hoàn toàn
hạnh phúc, vô bệnh". Khi được Ta hỏi như vậy, những vị ấy công
nhận là phải. Ta nói: "Chư Đại đức có sống và đă biết đă thấy
thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?". Khi được hỏi vậy,
các vị ấy trả lời là không.
Ta nói với các vị ấy: "Vậy chư Đại
đức có tự thân cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay
trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày không?".
Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị
ấy: "Chư Đại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào
có thể đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc
không?" Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không?
|
|
Tyāhaṃ evaṃ
vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto yā tā devatā ekantasukhaṃ lokaṃ
upapannā, tāsaṃ bhāsamānānaṃ saddaṃ suṇātha, suppaṭipannāttha
mārisā ujuppaṭipannāttha mārisā ekantasukhassa lokassa
sacchikiriyāya, mayampi hi mārisā evaṃpaṭipannā ekantasukhaṃ
lokaṃ upapannā”ti, iti puṭṭhā “No”ti vadanti.
Taṃ kiṃ maññasi
Poṭṭhapāda “Nanu evaṃ sante tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ
appāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatī”ti. Addhā kho bhante evaṃ
sante tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ appāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ
sampajjatīti.
|
Ta nói với các vị ấy: "Chư Đại
đức có nghe tiếng nói của chư thiên, đă được sinh vào một thế
giới hoàn toàn hạnh phúc. "Này các vị, hăy cố gắng khéo thực
hành. Này các vị hăy thực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh
phúc. Này các vị, chúng tôi đă thực hành, đă sanh vào một thế
giới hoàn toàn hạnh phúc" không? Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả
lời không.
Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như
vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn kia là
không chánh xác hợp lư?
|
|
426.
Seyyathāpi Poṭṭhapāda puriso evaṃ vadeyya “Ahaṃ yā imasmiṃ
janapade Janapadakalyāṇī, taṃ icchāmi taṃ kāmemī”ti. Tamenaṃ
evaṃ vadeyyuṃ “Ambho purisa yaṃ tvaṃ Janapadakalyāṇiṃ icchasi
kāmesi, jānāsi taṃ Janapadakalyāṇiṃ khattiyī vā brāhmaṇī vā
vessī vā suddī vā”ti, iti puṭṭho “No”ti vadeyya. Tamenaṃ evaṃ
vadeyyuṃ “Ambho purisa yaṃ tvaṃ Janapadakalyāṇiṃ icchasi kāmesi,
janāsi taṃ Janapadakalyāṇiṃ evaṃnāmā evaṃgottāti vā, dīghā vā
rassā vā majjhimā vā kāḷī vā sāmā vā maṅguracchavī vāti,
amukasmiṃ gāme vā nigame vā nagare vā”ti, iti puṭṭho “No”ti
vadeyya. Tamenaṃ evaṃ vadeyyuṃ “Ambho purisa yaṃ tvaṃ na jānāsi
na passati, taṃ tvaṃ icchasi kāmesī”ti, iti puṭṭho “Āmā”ti
vadeyya.
Taṃ kiṃ maññasi
Poṭṭhapāda “Nanu evaṃ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṃ
bhāsitaṃ sampajjatī”ti.
Addhā kho bhante evaṃ sante tassa
purisassa appāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatīti.
|
35. Như có một người nói: "Tôi
yêu và ái luyến một cô gái đẹp trong nước này". Có người hỏi:
"Này bạn, cô gái đẹp ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết là
người giai cấp nào, là Sát-đế-lỵ, hay Bà-la-môn, hay Phệ-xá, hay
Thủ-đà?" Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người
hỏi: "Này bạn, cô gái đẹp Ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết
tên ǵ, lớn người, thấp người hay người bậc trung? Da đen sẫm,
da ngăm ngăm đen hay da hồng hào? Ở tại làng nào, hay thành phố
nào?" Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người
hỏi: "Này bạn, như vậy có phải Ông đă yêu và ái luyến một người
Ông không biết, Ông không thấy?" Được hỏi vậy
vị ấy trả lời phải.
Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy,
thời có phải lời nói của người kia là không chánh xác hợp lư?
- Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự
kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là không chánh xác,
hợp lư.
|
|
Evameva kho
Poṭṭhapāda ye te samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino
“Ekantasukhī attā hoti arogo paraṃ maraṇā”ti. Tyāhaṃ
upasaṅkamitvā evaṃ vadāmi “Saccaṃ kira tumhe āyasmanto
evaṃvādino evaṃdiṭṭhino ekantasukhī attā hoti arogo paraṃ
maraṇā”ti. Te ce me evaṃ puṭṭhā “Āmā”ti
paṭijānanti. Tyāhaṃ evaṃ vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto
ekantasukhaṃ lokaṃ jānaṃ passaṃ viharathā”ti, iti puṭṭhā “No”ti
vadanti.
Tyāhaṃ evaṃ
vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto ekaṃ vā rattiṃ ekaṃ vā divasaṃ
upaḍḍhaṃ vā rattiṃ upaḍḍhaṃ vā divasaṃ ekantasukhiṃ attānaṃ
sañjānāthā”ti, iti puṭṭhā “No”ti vadanti. Tyāhaṃ evaṃ vadāmi
“Api pana tumhe āyasmanto jānātha ayaṃ maggo ayaṃ paṭipadā
ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”ti, iti puṭṭhā “No”ti
vadanti.
Tyāhaṃ evaṃ
vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto yā tā devatā ekantasukhaṃ lokaṃ
upapannā, tāsaṃ bhāsamānānaṃ saddaṃ suṇātha, suppaṭipannāttha
mārisā ujuppaṭipannāttha mārisā ekantasukhassa lokassa
sacchikiriyāya, mayampi hi mārisā evaṃpaṭipannā ekantasukhaṃ
lokaṃ upapannā”ti, iti puṭṭhā “No”ti vadanti.
Taṃ kiṃ maññasi
Poṭṭhapāda “Nanu evaṃ sante tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ
appāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatī”ti.
Addhā kho bhante evaṃ
sante tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ appāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ
sampajjatīti.
|
36. - Như vậy này Potthapàda,
những Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến
như thế này: "Sau khi chết tự ngă hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh",
Ta đến những vị ấy và hỏi: "Có phải quư Đại đức có chủ trương
như thế này, có chủ kiến như thế này: "Sau khi chết, tự ngă hoàn
toàn hạnh phúc, vô bệnh". Khi được hỏi như vậy, những vị ấy công
nhận là phải. Ta nói: "Chư Đại đức có sống và đă biết, đă thấy
thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?" Khi được hỏi vậy,
các vị ấy trả lời là không.
Ta nói với các vị ấy: "Vậy chư Đại
đức có tự nhận cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay
trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày không?".
Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị
ấy: "Chư Đại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào
đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?"
Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không?
Ta nói với các vị
ấy: "Chư Đại đức có nghe tiếng nói của chư thiên đă được sinh
vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc: 'Này các vị, hăy cố gắng
khéo thực hạnh! Này các vị, hăy trực chứng một thế giới hoàn
toàn hạnh phúc! Này các vị, chúng tôi đă thực hành, đă sanh vào
một thế giới hoàn toàn hạnh phúc' không?" Khi được hỏi vậy, các
vị ấy trả lời là không.
Này Potthapàda, Ngươi nghĩ thế nào? Sự
kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn,
Bà-la-môn kia là không chánh xác, hợp lư?
- Vâng phải, bạch Thế Tôn sự
kiện là như vậy, theo lời nói của người kia là không chánh xác,
hợp lư.
|
|
427.
Seyyathāpi Poṭṭhapāda puriso cātumahāpathe nisseṇiṃ kareyya
pāsādassa ārohaṇāya. Tamenaṃ evaṃ vadeyyuṃ “Ambho purisa yassa
tvaṃ (Yaṃ tvaṃ - Sī, Ka)
pāsādassa ārohaṇāya nisseṇiṃ karosi, jānāsi taṃ pāsādaṃ
puratthimāya vā disāya dakkhiṇāya vā disāya pacchimāya vā disāya
uttarāya vā disāya ucco vā nīco vā majjhimo vā”ti, iti puṭṭho
“No”ti vadeyya. Tamenaṃ evaṃ vadeyyuṃ “Ambho purisa yaṃ tvaṃ na
jānāsi na passati, tassa tvaṃ pāsādassa ārohaṇāya nisseṇiṃ
karosī”ti, iti puṭṭho “Āmā”ti
vadeyya.
|
37. - Này Potthapàda, như một
người muốn xây tại ngă tư đường một cái thang để leo lên lầu. Có
người hỏi: "Này bạn, Ông muốn xây một cái thang để leo lên lầu,
vậy Ông có biết lầu ấy là về hướng Đông, hay về hướng Tây, hay
về hướng Bắc, hay về hướng Nam? Nhà lầu ấy cao hay thấp, hay
trung b́nh?" Được hỏi vậy, vị ấy trả lời không biết. Có người
hỏi: "Này bạn, như vậy có phải, Ông xây một cái thang để leo lên
một cái lầu mà Ông không biết, không thấy?" Được hỏi vậy, vị ấy
trả lời phải. |
|
Taṃ kiṃ maññasi
Poṭṭhapāda “Nanu evaṃ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṃ
bhāsitaṃ sampajjatī”ti.
Addhā kho bhante evaṃ sante tassa
purisassa appāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatīti.
|
Này Potthapàda ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như
vậy thời có phải lời nói của người kia là không chánh xác, hợp
lư?
- Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự
kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là không chánh xác,
hợp lư.
|
|
Evameva kho
Poṭṭhapāda ye te samaṇabrāhmaṇā evaṃvādino evaṃdiṭṭhino
“Ekantasukhī attā hoti arogo paraṃ maraṇā”ti. Tyāhaṃ
upasaṅkamitvā evaṃ vadāmi “Saccaṃ kira tumhe āyasmānto
evaṃvādino evaṃdiṭṭhino ekantasukhī attā hoti arogo paraṃ
maraṇā”ti. Te ce me evaṃ puṭṭhā “Āmā”ti
paṭijānanti. Tyāhaṃ evaṃ vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto
ekantasukhaṃ lokaṃ jānaṃ passaṃ viharathā”ti, iti puṭṭhā “No”ti
vadanti. Tyāhaṃ evaṃ
vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto ekaṃ vā rattiṃ ekaṃ vā divasaṃ
upaḍḍhaṃ vā rattiṃ upaḍḍhaṃ vā divasaṃ ekantasukhiṃ attānaṃ
sañjānāthā”ti, iti puṭṭhā “No”ti vadanti.
|
38. - Như vậy này Potthapàda,
những Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến
như thế này: "Sau khi chết, tự ngă hoàn toàn hạnh phúc, vô
bệnh". Ta đến những vị ấy và hỏi: "Có phải quư Đại đức có chủ
trương như thế này, có chủ kiến như thế này: "Sau khi chết, tự
ngă hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh". Khi được hỏi vậy, những vị ấy
công nhận là phải. Ta nói: "Chư Đại đức có sống và đă biết, đă
thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?" Khi được hỏi
vậy, các vị ấy trả lời là không. |
|
Tyāhaṃ evaṃ vadāmi
“Api pana tumhe āyasmanto jānātha ayaṃ maggo ayaṃ paṭipadā
ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”ti, iti puṭṭhā “No”ti
vadanti.
|
Ta nói với các vị ấy: "Chư Đại
đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào có thể đưa
đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?" Khi
được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. |
|
Tyāhaṃ evaṃ
vadāmi “Api pana tumhe āyasmanto yā tā devatā ekantasukhaṃ lokaṃ
upapannā, tāsaṃ devatānaṃ bhāsamānānaṃ saddaṃ suṇātha,
suppaṭipannāttha mārisā ujuppaṭipannāttha mārisā ekantasukhassa
lokassa sacchikiriyāya, mayampi hi mārisā evaṃ paṭipannā
ekantasukhaṃ lokaṃ upapannā”ti, iti puṭṭhā “No”ti vadanti.
|
Ta nói với các vị ấy:
"Vậy chư Đại đức có tự tâm cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong
một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày
không?" Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với
các vị ấy: "Chư Đại đức có nghe tiếng nói của chư thiên đă được
sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc: 'Này các vị, hăy cố
gắng thực hành! Này các vị, hăy trực chứng một thế giới hoàn
toàn hạnh phúc. Này các vị, chúng tôi đă thực hành, đă sanh vào
một thế giới hoàn toàn hạnh phúc' không?" Khi được nói vậy, các
vị ấy trả lời là không. |
|
Taṃ kiṃ maññasi
Poṭṭhapāda “Nanu evaṃ sante tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ
appāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatī”ti.
Addhā kho bhante evaṃ
sante tesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ appāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ
sampajjatīti.
|
Này Potthapàda, ngươi nghĩ như thế nào?
Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn,
Bà-la-môn, kia là không chánh xác, hợp lư.
- Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự
kiện là như vậy, thời lời nói của người kia không chánh đáng,
hợp lư.
|
|
Tayo
attapaṭilābha
428.
Tayo kho me Poṭṭhapāda attapaṭilābhā oḷāriko attapaṭilābho,
manomayo attapaṭilābho, arūpo attapaṭilābho. Katamo ca
Poṭṭhapāda oḷāriko attapaṭilābho. Rūpī cātumahābhūtiko
kabaḷīkārāhārabhakkho (Kabaḷīkārabhakkho - Syā, Ka),
ayaṃ oḷāriko attapaṭilābho. Katamo manomayo attapaṭilābho. Rūpī
manomayo sabbaṅgapaccaṅgī ahīnindriyo, ayaṃ manomayo
attapaṭilābho. Katamo arūpo attapaṭilābho. Arūpī saññāmayo, ayaṃ
arūpo attapaṭilābho.
|
39. - Này Potthapàda, có ba loại
ngă chấp: thô phù ngă chấp, ư sở thành ngă chấp, vô sắc ngă
chấp. Này Potthapàda, thế nào là thô phù ngă chấp? Có sắc, do
bốn đại h́nh thành, do đoàn thực nuôi dưỡng là thô phù ngă chấp.
Thế nào ư sở thành ngă chấp? Có sắc, do ư sở thành, đầy đủ chi
tiết lớn nhỏ, các căn đầy đủ, là ư sở thành ngă chấp. Thế nào là
vô sắc ngă chấp? Không có sắc, do tưởng sở thành là vô sắc ngă
chấp.
|
|
429.
Oḷārikassapi kho ahaṃ Poṭṭhapāda attapaṭilābhassa pahānāya
dhammaṃ desemi “Yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā
pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ
vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja viharissathā”ti. Siyā kho pana te Poṭṭhapāda
evamassa “Saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā
abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme
sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, dukkho ca kho
vihāro”ti. Na kho panetaṃ Poṭṭhapāda evaṃ daṭṭhabbaṃ.
Saṃkilesikā ceva dhammā pahīyissanti, vodāniyā ca dhammā
abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme
sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, pāmujjañceva
bhavissati pīti ca passaddhi ca sati ca sampajaññañca sukho ca
vihāro.
|
40. Này Potthapàda, Ta thuyết
pháp để diệt thô phù ngă chấp. Nếu các người thực hành theo pháp
này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng,
và ngay hiện tại, tự ḿnh giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và
an trú trí tuệ sung măn, quảng đại. Này Potthapàda, rất có thể
các người nghĩ: "Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ
tăng trưởng, và ngay hiện tại tự ḿnh giác ngộ, với thắng trí,
chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn, quảng đại, tuy vậy đau khổ
vẫn tồn tại". Này Potthapàda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm
pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, ngay hiện tại tự
ḿnh giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung
măn, quảng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, khinh an, chánh
niệm, tỉnh giác và lạc trú sanh.
|
|
430.
Manomayassapi kho ahaṃ Poṭṭhapāda attapaṭilābhassa pahānāya
dhammaṃ desemi “Yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā
pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ
vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja viharissathā”ti. Siyā kho pana te Poṭṭhapāda
evamassa “Saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā
abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme
sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, dukkho ca kho
vihāro”ti. Na kho panetaṃ Poṭṭhapāda evaṃ daṭṭhabbaṃ.
Saṃkilesikā ceva dhammā pahīyissanti, vodāniyā ca dhammā
abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme
sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, pāmujjañceva
bhavissati pīti ca passaddhi ca sati ca sampajaññañca sukho ca
vihāro.
|
41. Này Potthapàda, Ta thuyết
pháp cũng để diệt trừ ư sở thành ngă chấp. Nếu các người thực
hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được
tăng trưởng, và ngay hiện tại, tự ḿnh giác ngộ và an trú trí
tuệ sung măn quảng đại. Này Potthapàda, rất có thể các ngươi
nghĩ: "Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng,
và ngay hiện tại tự ḿnh giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an
trú trí tuệ sung măn quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại".
Này Potthapàda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt
trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, khi ngay hiện tại tự ḿnh giác
ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn quăng
đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, khinh an, chánh niệm tỉnh giác
là lạc trú sanh.
|
|
431.
Arūpassapi kho ahaṃ Poṭṭhapāda attapaṭilābhassa pahānāya dhammaṃ
desemi “Yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti,
vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca
diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja
viharissathā”ti. Siyā kho pana te Poṭṭhapāda evamassa
“Saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā
abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme
sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, dukkho ca kho
vihāro”ti. Na kho panetaṃ Poṭṭhapāda evaṃ daṭṭhabbaṃ.
Saṃkilesikā ceva dhammā pahīyissanti, vodāniyā ca dhammā
abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva dhamme
sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, pāmujjañceva
bhavissati pīti ca passaddhi ca sati ca sampajaññañca sukho ca
vihāro.
|
42. Này Potthapàda, Ta thuyết
pháp cũng để diệt trừ vô sắc ngă chấp. Nếu các ngươi thực hành
theo pháp này, thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được
tăng trưởng, và ngay hiện tại tự ḿnh giác ngộ, với thắng trí
chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn quảng đại. Này Potthapàda,
rất có thể các ngươi nghĩ: "Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh
pháp sẽ tăng trưởng, ngay hiện tại tự ḿnh giác ngộ, với thắng
trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn quảng đại, tuy vậy đau
khổ vẫn tồn tại". Này Potthapàda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm
pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, ngay hiện tại tự
ḿnh giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung
măn quảng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, chánh niệm, tỉnh
giác và lạc trú sanh.
|
|
432.
Pare ce Poṭṭhapāda amhe evaṃ puccheyyuṃ “Katamo pana so āvuso
oḷāriko attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṃ desetha,
yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā
dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāparipūriṃ vepullattañca diṭṭheva
dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.
|
43. Này Potthapàda, có những
người ngoài hỏi chúng tôi: "Này Hiền giả, thô phù ngă chấp ấy là
ǵ mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực
hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được
tăng trưởng, và ngay hiện tại tự ḿnh giác ngộ, với thắng trí
chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn quảng đại?"
|
|
Tesaṃ mayaṃ evaṃ puṭṭhā evaṃ byākareyyāma “Ayaṃ vā so āvuso
oḷāriko attapaṭilābho, yassa mayaṃ pahānāya dhammaṃ desema,
yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā
dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva
dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.
|
Khi được chúng hỏi như vậy,
chúng tôi trả lời "Này Hiền giả, chính thô phù ngă chấp ấy,
chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành
theo pháp này, thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được
tăng trưởng và ngay hiện tại tự ḿnh giác ngộ, với thắng trí
chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn quảng đại".
|
|
433.
Pare ce Poṭṭhapāda amhe evaṃ puccheyyuṃ “Katamo pana so āvuso
manomayo attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṃ desetha,
yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā
dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva
dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.
|
44. Này Potthapàda, có những
người ngoài hỏi: "Này Hiền giả, ư sở thành ngă chấp ấy là ǵ mà
Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo
pháp này thời nhiễm pháp này được diệt trừ, tịnh pháp được tăng
trưởng và ngay hiện tại tự ḿnh giác ngộ, với thắng trí chứng
đạt và an trú trí tuệ sung măn, quảng đại?"
|
|
Tesaṃ mayaṃ evaṃ puṭṭhā evaṃ byākareyyāma “Ayaṃ vā so āvuso
manomayo attapaṭilābho yassa mayaṃ pahānāya dhammaṃ desema,
yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā
dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva
dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.
|
Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả
lời: "Này Hiền giả, chính ư sở thành ngă chấp ấy chúng tôi
thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này
thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và
ngay hiện tại, tự ḿnh giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an
trú trí tuệ sung măn quảng đại".
|
|
434. Pare ce Poṭṭhapāda amhe evaṃ puccheyyuṃ “Katamo pana so
āvuso arūpo attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṃ desetha,
yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā
dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva
dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.
Tesaṃ mayaṃ evaṃ puṭṭhā evaṃ byākareyyāma “Ayaṃ vā so āvuso
arūpo attapaṭilābho yassa mayaṃ pahānāya dhammaṃ desema,
yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā
dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva
dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.
|
45. Này Potthapàda, có những
người ngoài hỏi chúng tôi: "Này Hiền giả, vô sắc ngă chấp ấy là
ǵ mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực
hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được
tăng trưởng và ngay hiện tại, tự ḿnh giác ngộ với thắng trí
chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn quảng đại?". Khi được hỏi
vậy, chúng tôi trả lời: "Này Hiền giả, chính vô sắc ngă chấp ấy,
chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành
theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng
trưởng và ngay hiện tại, tự ḿnh giác ngộ với thắng trí chứng
đạt và an trú trí tuệ sung măn quảng đại".
|
|
Taṃ kiṃ maññasi
Poṭṭhapāda “Nanu evaṃ sante sappāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ
sampajjatī”ti. Addhā kho bhante evaṃ sante sappāṭihīrakataṃ
bhāsitaṃ sampajjatīti.
|
Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế
nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói ấy là chánh xác,
hợp lư?
|
|
435. Seyyathāpi Poṭṭhapāda puriso nisseṇiṃ kareyya pāsādassa
ārohaṇāya tasseva pāsādassa heṭṭhā. Tamenaṃ evaṃ vadeyyuṃ “Ambho
purisa yassa tvaṃ pāsādassa ārohaṇāya nisseṇiṃ karosi, jānāsi
taṃ pāsādaṃ puratthimāya vā disāya dakkhiṇāya vā disāya
pacchimāya vā disāya uttarāya vā disāya ucco vā nīco vā majjhimo
vā”ti. So evaṃ vadeyya “Ayaṃ vā so āvuso pāsādo, yassāhaṃ
ārohaṇāya nisseṇiṃ karomi tasseva pāsādassa heṭṭhā”ti.
|
46. Này Potthapàda, ví như một
người xây một cái thang để leo lên lầu, từ dưới chân lầu ấy.
Người ấy được hỏi: "Này bạn, Ông xây cái thang để leo lên lầu,
cái lầu ấy về hướng Đông hay hướng Nam, hay hướng Tây, hay hướng
Bắc? Nhà lầu ấy cao, hay thấp, hay trung b́nh? Nếu người ấy trả
lời: "Này Hiền giả, cái lầu mà tôi xây thang để leo lên chính
tại dưới chân lầu này".
|
|
Taṃ kiṃ maññasi
Poṭṭhapāda “Nanu evaṃ sante tassa purisassa sappāṭihīrakataṃ
bhāsitaṃ sampajjatī”ti.
Addhā kho bhante evaṃ sante tassa
purisassa sappāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ sampajjatīti.
|
Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế nào? Sự
kiện là như vậy thời có phải lời nói ấy là chính xác, hợp chăng?
- Vâng phải, bạch Thế Tôn, sự
kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là chánh xác, hợp
lư!
|
|
436. Evameva kho Poṭṭhapāda pare ce amhe evaṃ puccheyyuṃ
“Katamo pana so āvuso oḷāriko attapaṭilābho ‑pa‑. Katamo pana so
āvuso manomayo attapaṭilābho ‑pa‑. Katamo pana so āvuso arūpo
attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṃ desetha,
yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā
dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva
dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.
Tesaṃ mayaṃ evaṃ puṭṭhā evaṃ byākareyyāma “Ayaṃ vā so āvuso
arūpo attapaṭilābho, yassa mayaṃ pahānāya dhammaṃ desema,
yathāpaṭipannānaṃ vo saṃkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā
dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṃ vepullattañca diṭṭheva
dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā”ti.
|
47. - Như vậy, này Potthapàda,
và có những người ngoài hỏi chúng tôi: "Này Hiền giả, thô phù
ngă chấp là ǵ?... Này Hiền giả, ư sở thành ngă chấp là ǵ?...
Này Hiền giả, vô sắc ngă chấp ấy là ǵ mà Hiền giả thuyết pháp
để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm
pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại,
tự ḿnh giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung
măn quảng đại?" Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: "Này Hiền
giả, chính vô sắc ngă chấp ấy mà chúng tôi thuyết pháp để diệt
trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp
được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự
ḿnh giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung măn
quảng đại".
|
|
Taṃ kiṃ maññasi
Poṭṭhapāda “Nanu evaṃ sante sappāṭihīrakataṃ bhāsitaṃ
sampajjatī”ti.
Addhā kho bhante evaṃ sante sappāṭihīrakataṃ
bhāsitaṃ sampajjatīti.
|
- Này Potthapàda, ngươi nghĩ thế
nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói ấy là chánh xác,
hợp lư?
- Vâng phải, bạch Thế Tôn, sự
kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là chánh xác, hợp
lư!
|
|
437. Evaṃ vutte citto hatthisāriputto Bhagavantaṃ etadavoca
“Yasmiṃ bhante samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, moghassa
tasmiṃ samaye manomayo attapaṭilābho hoti, mogho arūpo
attapaṭilābho hoti, oḷāriko vāssa attapaṭilābho tasmiṃ samaye
sacco hoti. Yasmiṃ bhante samaye manomayo attapaṭilābho hoti,
moghassa tasmiṃ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, mogho arūpo
attapaṭilābho hoti, manomayo vāssa attapaṭilābho tasmiṃ samaye
sacco hoti. Yasmiṃ bhante samaye arūpo attapaṭilābho hoti,
moghassa tasmiṃ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, mogho
manomayo attapaṭilābho hoti, arūpo vāssa attapaṭilābho tasmiṃ
samaye sacco hotī”ti.
|
48. Khi nghe nói vậy, Citta
Hatthisàriputta bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, trong khi có thô
phù ngă chấp, phải chăng không có ư sở thành ngă chấp, không có
vô sắc ngă chấp? Thô phù ngă chấp khi ấy thật có tồn tại. Bạch
Thế Tôn, trong khi có ư sở thành ngă chấp, phải chăng không có
thô phù ngă chấp, không có vô sắc ngă chấp? Ư sở thành ngă chấp
khi ấy thật có tồn tại. Bạch Thế Tôn, trong khi có vô sắc ngă
chấp, phải chăng không có thô phù ngă chấp, không có ư sở thành
ngă chấp? Vô sắc ngă chấp khi ấy thật có tồn tại.
|
|
Yasmiṃ citta
samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, neva tasmiṃ samaye manomayo
attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, na arūpo attapaṭilābhoti
saṅkhaṃ gacchati, oḷāriko attapaṭilābhotveva tasmiṃ samaye
saṅkhaṃ gacchati. Yasmiṃ citta samaye manomayo attapaṭilābho
hoti, neva tasmiṃ samaye oḷāriko attapaṭilābhoti saṅkhaṃ
gacchati, na arūpo attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, manomayo
attapaṭilābhotveva tasmiṃ samaye saṅkhaṃ gacchati. Yasmiṃ citta
samaye arūpo attapaṭilābho hoti, neva tasmiṃ samaye oḷāriko
attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, na manomayo attapaṭilābhoti
saṅkhaṃ gacchati, arūpo attapaṭilābhotveva tasmiṃ samaye saṅkhaṃ
gacchati.
|
49. - Này Citta, trong khi có
thô phù ngă chấp, thời ngă chấp ấy không thuộc ư sở thành ngă
chấp, không thuộc vô sắc ngă chấp, chính khi ấy thuộc thô phù
ngă chấp. Này Citta, trong khi có ư sở thành ngă chấp, thời ngă
chấp ấy không thuộc thô phù ngă chấp, không thuộc vô sắc ngă
chấp, chính khi ấy thuộc ư sở thành ngă chấp. Này Citta, trong
khi có vô sắc ngă chấp, thời ngă chấp ấy không thuộc thô phù ngă
chấp, không thuộc ư sở thành ngă chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc
ngă chấp. Này Citta, nếu có người hỏi ngươi: "Ngươi đă có tồn
tại ở quá khứ hay không? Ngươi sẽ tồn tại ở tương lai hay không?
Ngươi có tồn tại ở hiện tại không?" Này Citta, được hỏi vậy,
ngươi trả lời như thế nào?
|
|
438. Sace taṃ citta evaṃ puccheyyuṃ “Ahosi tvaṃ
atītamaddhānaṃ, na tvaṃ nāhosi, bhavissasi tvaṃ
anāgatamaddhānaṃ, na tvaṃ na bhavissasi, atthi tvaṃ etarahi, na
tvaṃ natthī”ti, evaṃ puṭṭho tvaṃ citta kinti byākareyyāsīti.
Sace maṃ bhante evaṃ puccheyyuṃ “Ahosi tvaṃ atītamaddhānaṃ, na
tvaṃ na ahosi, bhavissasi tvaṃ anāgatamaddhānaṃ, na tvaṃ na
bhavissasi, atthi tvaṃ etarahi, na tvaṃ natthī”ti. Evaṃ puṭṭho
ahaṃ bhante evaṃ byākareyyaṃ “Ahosāhaṃ atītamaddhānaṃ, nāhaṃ na
ahosiṃ, bhavissāmahaṃ anāgatamaddhānaṃ, nāhaṃ na bhavissāmi,
atthāhaṃ etarahi, nāhaṃ natthī”ti. Evaṃ puṭṭho ahaṃ bhante evaṃ
byākareyyanti.
|
- Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi
con: "Ngươi đă có tồn tại ở quá khứ hay không? Ngươi sẽ tồn tại
ở tương lai hay không? Ngươi có tồn tại ở hiện tại hay không?"
Bạch Thế Tôn được hỏi vậy, con sẽ trả lời: "Tôi đă có tồn tại ở
quá khứ, không phải không tồn tại; tôi sẽ tồn tại ở tương lai,
không phải không tồn tại; tôi tồn tại ở hiện tại, không phải
không tồn tại". Bạch Thế Tôn, nếu được hỏi như vậy, con sẽ trả
lời như vậy.
|
|
Sace pana taṃ
citte evaṃ puccheyyuṃ “Yo te ahosi atīto attapaṭilābho, sova (Sveva
- Sī, I; soyeva - Syā)
te attapaṭilābho sacco, mogho anāgato, mogho paccuppanno. Yo (Yo vā - I)
te bhavissati anāgato attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho
sacco, mogho atīto, mogho paccuppanno. Yo (Yo
vā - I) te
etarahi paccuppanno attapaṭilābho, sova (So
ca - Ka)
te attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho anāgato”ti.
|
50. - Này Citta, nếu có người
hỏi lại ngươi: "Quá khứ ngă chấp mà Ngươi đă có, có phải ngă
chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngă chấp tương lai không tồn
tại, ngă chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngă chấp mà
Ngươi sẽ có, có phải ngă chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngă
chấp quá khứ không tồn tại, ngă chấp hiện tại không tồn tại?
Hiện tại ngă chấp mà Ngươi hiện có, có phải ngă chấp ấy đối với
Ngươi là thật có, ngă chấp quá khứ không tồn tại, ngă chấp tương
lai không tồn tại?" Này Citta, được hỏi vậy, Ngươi trả lời thế
nào?
|
|
Evaṃ
puṭṭho tvaṃ citta kinti byākareyyāsīti. Sace pana maṃ bhante
evaṃ puccheyyuṃ “Yo te ahosi atīto attapaṭilābho, sova te
attapaṭilābho sacco, mogho anāgato, mogho paccuppanno. Yo te
bhavissati anāgato attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco,
mogho atīto, mogho paccuppanno. Yo te etarahi paccuppanno
attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho
anāgato”ti. Evaṃ puṭṭho ahaṃ bhante evaṃ byākareyyaṃ “Yo me
ahosi atīto attapaṭilābho, sova me attapaṭilābho tasmiṃ samaye
sacco ahosi, mogho anāgato, mogho paccuppanno. Yo me bhavissati
anāgato attapaṭilābho, sova me attapaṭilābho tasmiṃ samaye sacco
bhavissati, mogho atīto, mogho paccuppanno. Yo me etarahi
paccuppanno attapaṭilābho, sova me attapaṭilābho sacco, mogho
atīto, mogho anāgato”ti. Evaṃ puṭṭho ahaṃ bhante evaṃ
byākareyyanti.
|
- Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi
con: "Quá khứ ngă chấp mà Ngươi đă có, có phải ngă chấp ấy đối
với Ngươi là thật có, ngă chấp tương lai không tồn tại, ngă chấp
hiện tại không tồn tại? Tương lai ngă chấp mà Ngươi sẽ có, có
phải ngă chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngă chấp quá khứ
không tồn tại, ngă chấp hiện tại không tồn tại? Hiện tại ngă
chấp mà Ngươi hiện có, có phải ngă chấp ấy đối với Ngươi là thật
có, ngă chấp quá khứ không tồn tại, ngă chấp tương lai không tồn
tại?" Bạch Thế Tôn, nếu được hỏi vậy, con sẽ trả lời: "Quá khứ
ngă chấp mà tôi đă có, ngă chấp ấy đối với tôi là thật có, ngă
chấp tương lai không tồn tại, ngă chấp hiện tại không tồn tại?
Tương lai ngă chấp mà tôi sẽ có, ngă chấp ấy đối với tôi là thật
có, ngă chấp quá khứ không tồn tại, ngă chấp hiện tại không tồn
tại. Hiện tại ngă chấp mà tôi hiện có, ngă chấp ấy đối với tôi
là thật có, ngă chấp quá khứ không tồn tại, ngă chấp tương lai
không tồn tại". Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy, con sẽ trả lời như
vậy.
|
|
439.
Evameva kho citta yasmiṃ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, neva
tasmiṃ samaye manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, na
arūpo attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, oḷāriko
attapaṭilābhotveva tasmiṃ samaye saṅkhaṃ gacchati. Yasmiṃ citta
samaye manomayo attapaṭilābho hoti ‑pa‑. Yasmiṃ citta samaye
arūpo attapaṭilābho hoti, neva tasmiṃ samaye oḷāriko
attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, na manomayo attapaṭilābhoti
saṅkhaṃ gacchati, arūpo attapaṭilābhotveva tasmiṃ samaye saṅkhaṃ
gacchati.
|
51. - Như vậy này Citta, trong
khi có thô phù ngă chấp, thời ngă chấp ấy không thuộc ư sở thành
ngă chấp, không thuộc vô sắc ngă chấp, chính khi ấy thuộc thô
phù ngă chấp. Này Citta, trong khi có ư sở thành ngă chấp, thời
ngă chấp ấy không thuộc vô sắc ngă chấp, chính khi ấy thuộc ư sở
thành ngă chấp. Này Citta, trong khi có vô sắc ngă chấp, thời
ngă chấp không thuộc thô phù ngă chấp, không thuộc ư sở thành
ngă chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngă chấp.
|
|
440.
Seyyathāpi citta gavā khīraṃ, khīramhā dadhi, dadhimhā
navanītaṃ, navanītamhā sappi, sappimhā sappimaṇḍo. Yasmiṃ samaye
khīraṃ hoti, neva tasmiṃ samaye dadhīti saṅkhaṃ gacchati, na
navanītanti saṅkhaṃ gacchati, na sappīti saṅkhaṃ gacchati, na
sappimaṇḍoti saṅkhaṃ gacchati, khīraṃtveva tasmiṃ samaye saṅkhaṃ
gacchati. Yasmiṃ samaye dadhi hoti ‑pa‑ navanītaṃ hoti. Sappi
hoti. Sappimaṇḍo hoti, neva tasmiṃ samaye khīranti saṅkhaṃ
gacchati, na dadhīti saṅkhaṃ gacchati, na navanītanti saṅkhaṃ
gacchati, na sappīti saṅkhaṃ gacchati, sappimaṇḍotveva tasmiṃ
samaye saṅkhaṃ gacchati.
|
52. Này Citta, ví như từ ḅ cái
sanh ra sữa, từ sữa sinh ra lạc, từ lạc sanh ra sanh tô, từ sanh
tô sanh ra thục tô, từ thục tô sanh ra đề hồ. Khi thành sữa thời
sữa ấy không thuộc lạc, không thuộc sanh tô, không thuộc thục
tô, không thuộc đề hồ, chính khi ấy thuộc sữa; khi thành lạc...
khi thành sanh tô... khi thành thục tô... khi thành đề hồ thời
đề hồ không thuộc sữa, không thuộc lạc, không thuộc sanh tô,
không thuộc thục tô, chính khi ấy thuộc đề hồ.
|
|
Evameva kho citta yasmiṃ samaye oḷāriko
attapaṭilābho hoti ‑pa‑. Yasmiṃ citta samaye manomayo
attapaṭilābho hoti ‑pa‑. Yasmiṃ citta samaye arūpo attapaṭilābho
hoti, neva tasmiṃ samaye oḷāriko attapaṭilābhoti saṅkhaṃ
gacchati, na manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṃ gacchati, arūpo
attapaṭilābhotveva tasmiṃ samaye saṅkhaṃ gacchati. Imā kho citta
lokasamaññā lokaniruttiyo lokavohārā lokapaññattiyo, yāhi
Tathāgato voharati aparāmasanti.
|
53. Như vậy này Citta trong khi
có thô phù ngă chấp... Này Citta, trong khi có ư sở thành ngă
chấp... Này Citta, trong khi có vô sắc ngă chấp thời ngă chấp ấy
không thuộc thô phù ngă chấp, không thuộc ư sở thành ngă chấp,
chính khi ấy thuộc vô sắc ngă chấp. Này Citta, chúng chỉ là danh
tự thế gian, ngôn ngữ thế gian, danh xưng thế gian, kư pháp thế
gian. Như Lai dùng chúng nhưng không chấp trước chúng.
|
|
441.
Evaṃ vutte Poṭṭhapādo paribbājako Bhagavantaṃ etadavoca
“Abhikkantaṃ bhante abhikkantaṃ bhante, seyyathāpi bhante
nikkujjitaṃ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā vivareyya, mūḷhassa
vā maggaṃ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṃ dhāreyya
‘Cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti, evamevaṃ Bhagavatā
anekapariyāyena dhammo pakāsito, esāhaṃ bhante Bhagavantaṃ
saraṇaṃ gacchāmi Dhammañca Bhikkhusaṃghañca, upāsakaṃ maṃ
Bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gatan”ti.
|
54. Được nghe nói vậy du sĩ
ngoại đạo Potthapàda bạch Thế Tôn:
- Thật vi diệu thay, bạch Thế
Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng lại những
ǵ bị quăng ngă xuống, phơi bày những ǵ bị che kín, chỉ đường
cho những người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để
những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đă được Thế
Tôn dùng nhiều phương tiện tŕnh bày, giải thích. Bạch Thế Tôn,
con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong
Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung,
con trọn đời quy ngưỡng.
|
|
Cittahatthisāriputta-upasampadā
442.
Citto pana Hatthisāriputto Bhagavantaṃ etadavoca
“Abhikkantaṃ
bhante abhikkantaṃ bhante, seyyathāpi bhante nikkujjitaṃ vā
ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ
ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṃ dhāreyya ‘Cakkhumanto
rūpāni dakkhantī’ti, evamevaṃ Bhagavatā anekapariyāyena dhammo
pakāsito, esāhaṃ bhante Bhagavantaṃ saraṇaṃ gacchāmi Dhammañca
Bhikkhusaṃghañca, labheyyāhaṃ bhante Bhagavato santike pabbajjaṃ
labheyyaṃ upasampadan”ti.
|
55. Và Citta Hatthisàriputta
cũng bạch Thế Tôn:
- Thật vi diệu thay, bạch Thế
Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại
những ǵ bị quăng ngă xuống, phơi bày ra những ǵ bị che kín,
chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong
bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh
pháp đă được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện tŕnh bày giải
thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tăng.
Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, mong cho con thọ
đại giới.
|
|
443.
Alattha kho citto Hatthisāriputto Bhagavato santike pabbajjaṃ
alattha upasampadaṃ. Acirūpasampanno kho panāyasmā citto
Hatthisāriputto eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto
viharanto na cirasseva yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā
anagāriyaṃ pabbajanti, tadanuttaraṃ brahmacariyapariyosānaṃ
diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi,
“Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ
itthattāyā”ti abbhaññāsi.
|
56. Citta Hatthisàriputta được
xuất gia với Thế Tôn và được thọ đại giới. Thọ đại giới không
bao lâu, Đại đức Citta Hatthisàriputta ở một ḿnh, an tịnh,
không phóng dật, sống nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị
này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đă
xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh hướng đến. Đó là
vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự ḿnh với thắng trí
chứng ngộ, chứng đạt và an trú: sanh đă tận, phạm hạnh đă thành,
những ǵ nên làm đă làm sau đời này sẽ không có đời sống khác
nữa. Đại đức Citta Hatthisàriputta hiểu biết như vậy.
|
|
Aññataro kho panāyasmā citto
Hatthisāriputto Arahataṃ ahosīti. |
Và đại đức Citta Hatthisàriputta
trở thành một vị A-la-hán nữa. |
|
Poṭṭhapādasuttaṃ niṭṭhitaṃ navamaṃ.
|
|
| <Trang Trước> |
<Bài
Kinh Kế> |
|