|
492.
Atha kho so Kevaṭṭa bhikkhu yena vasavattī devaputto
tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā vasavattiṃ devaputtaṃ etadavoca
“Kattha nu kho āvuso ime cattāro mahābhūtā aparisesā
nirujjhanti, seyyathidaṃ, pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu
vāyodhātū”ti. Evaṃ vutte Kevaṭṭa vasavattī devaputto taṃ
bhikkhuṃ etadavoca “Ahaṃpi kho bhikkhu na jānāmi, yatthime
cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ,
pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātūti. Atthi kho bhikkhu
brahmakāyikā nāma devā amhehi abhikkantatarā ca paṇītatarā ca,
te kho etaṃ jāneyyuṃ, yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā
nirujjhanti, seyyathidaṃ, pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu
vāyodhātū”ti.
493.
Atha kho so Kevaṭṭa bhikkhu tathārūpaṃ samādhiṃ samāpajji,
yathāsamāhite citte brahmayāniyo maggo pāturahosi. Atha kho so
Kevaṭṭa bhikkhu yena brahmakāyikā devā tenupasaṅkami,
upasaṅkamitvā brahmakāyike deve etadavoca “Kattha nu kho āvuso
ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ,
pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū”ti. Evaṃ vutte Kevaṭṭa
brahmakāyikā devā taṃ bhikkhuṃ etadavocuṃ “Mayaṃpi kho bhikkhu
na jānāma, yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti,
seyyathidaṃ, pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātūti. Atthi
kho bhikkhu brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso
vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā
bhūtabhabyānaṃ amhehi abhikkantataro ca paṇītataro ca, so kho
etaṃ jāneyya, yatthime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti,
seyyathidaṃ, pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū”ti.
Kahaṃ panāvuso
etarahi so mahābrahmāti. Mayaṃpi kho bhikkhu na jānāma, yattha
vā brahmā yena vā brahmā yahiṃ vā brahmā, api ca bhikkhu yathā
nimittā dissanti, āloko sañjāyati, obhāso pātubhavati, brahmā
pātubhavissati, brahmuno hetaṃ pubbanimittaṃ pātubhāvāya,
yadidaṃ āloko sañjāyati, obhāso pātubhavatīti. Atha kho so
Kevaṭṭa mahābrahmā nacirasseva pāturahosi.
494.
Atha kho so Kevaṭṭa bhikkhu yena so mahābrahmā tenupasaṅkami,
upasaṅkamitvā taṃ mahābrahmānaṃ etadavoca “Kattha nu kho āvuso
ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ,
pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū”ti. Evaṃ vutte Kevaṭṭa
so mahābrahmā taṃ bhikkhuṃ etadavoca “Ahamasmi bhikkhu brahmā
mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro
kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānan”ti.
Dutiyampi kho so
Kevaṭṭa bhikkhu taṃ mahābrahmānaṃ etadavoca,–na khohaṃ taṃ āvuso
evaṃ pucchāmi “Tvamasi brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto
aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī
pitā bhūtabhabyānan”ti. Evañca kho ahaṃ taṃ āvuso pucchāmi
“Kattha nu kho āvuso ime cattāro mahābhūtā aparisesā
nirujjhanti, seyyathidaṃ, pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu
vāyodhātū”ti.
Dutiyampi kho so
Kevaṭṭa mahābrahmā taṃ bhikkhuṃ etadavoca “Ahamasmi bhikkhu
brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī
issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānan”ti.
Tatiyampi kho so Kevaṭṭa bhikkhu taṃ mahābrahmānaṃ etadavoca,–na
khohaṃ taṃ āvuso evaṃ pucchāmi “Tvamasi brahmā mahābrahmā
abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā
nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānan”ti. Evañca kho
ahaṃ taṃ āvuso pucchāmi “Kattha nu kho āvuso ime cattāro
mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ, pathavīdhātu
āpodhātu tejodhātu vāyodhātū”ti.
495.
Atha kho so Kevaṭṭa mahābrahmā taṃ bhikkhuṃ bāhāyaṃ gahetvā
ekamantaṃ apanetvā taṃ bhikkhuṃ etadavoca “Ime kho maṃ bhikkhu
brahmakāyikā devā evaṃ jānanti ‘Natthi kiñci brahmuno aññātaṃ,
natthi kiñci brahmuno adiṭṭhaṃ, natthi kiñci brahmuno aviditaṃ
natthi kiñci brahmuno asacchikatan’ti. Tasmāhaṃ tesaṃ sammukhā
na byākāsiṃ. Ahaṃpi kho bhikkhu na jānāmi, yatthime cattāro
mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ, pathavīdhātu
āpodhātu tejodhātu vāyodhātūti. Tasmātiha bhikkhu tuyhevetaṃ
dukkaṭaṃ, tuyhevetaṃ aparaddhaṃ, yaṃ tvaṃ taṃ Bhagavantaṃ
atidhāvitvā bahiddhā pariyeṭṭhiṃ āpajjasi imassa pañhassa
veyyākaraṇāya. Gaccha tvaṃ bhikkhu tameva Bhagavantaṃ
upasaṅkamitvā imaṃ pañhaṃ puccha, yathā ca te Bhagavā byākaroti,
tathā naṃ dhāreyyāsī”ti.
496.
Atha kho so Kevaṭṭa bhikkhu seyyathāpi nāma balavā puriso
samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya.
Evameva brahmaloke antarahito mama purato pāturahosi. Atha kho
so Kevaṭṭa bhikkhu maṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi, ekamantaṃ
nisinno kho Kevaṭṭa so bhikkhu maṃ etadavoca “Kattha nu kho
bhante ime cattāro mahābhūtā aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ,
pathavīdhātu āpodhātu tejodhātu vāyodhātū”ti.
Tīradassisakuṇupamā
497.
Evaṃ vutte ahaṃ Kevaṭṭa taṃ bhikkhuṃ etadavocaṃ,–bhūtapubbaṃ
bhikkhu sāmuddikā vāṇijā tīradassiṃ sakuṇaṃ gahetvā nāvāya
samuddaṃ ajjhogāhanti. Te atīradakkhiniyā nāvāya tīradassiṃ
sakuṇaṃ muñcanti, so gacchateva puratthimaṃ disaṃ, gacchati
dakkhiṇaṃ disaṃ, gacchati pacchimaṃ disaṃ, gacchati uttaraṃ
disaṃ, gacchati uddhaṃ disaṃ, gacchati anudisaṃ. Sace so samantā
tīraṃ passati, Tathāgatakova (Tathāpakkantova
- Syā)
hoti. Sace pana so samantā tīraṃ na passati, tameva nāvaṃ
paccāgacchati. Evameva kho tvaṃ bhikkhu yato yāva brahmalokā
pariyesamāno imassa pañhassa veyyākaraṇaṃ nājjhagā, atha
mamaññeva santike paccāgato. Na kho eso bhikkhu pañho evaṃ
pucchitabbo “Kattha nu kho bhante ime cattāro mahābhūtā
aparisesā nirujjhanti, seyyathidaṃ, pathavīdhātu āpodhātu
tejodhātu vāyodhātū”ti.
498.
Evañca kho eso bhikkhu pañho pucchitabbo.
“Kattha āpo
ca pathavī, tejo vāyo na gādhati.
Kattha dīghañca
rassañca, aṇuṃ thūlaṃ subhāsubhaṃ.
Kattha nāmañca
rūpañca, asesaṃ uparujjhatī”ti.
499.
Tatra veyyākaraṇaṃ bhavati.
“Viññāṇaṃ
anidassanaṃ, anantaṃ sabbatopabhaṃ.
Ettha āpo ca
pathavī, tejo vāyo na gādhati.
Ettha dīghañca
rassañca, aṇuṃ thūlaṃ subhāsubhaṃ.
Ettha nāmañca
rūpañca, asesaṃ uparujjhati.
Viññāṇassa
nirodhena, etthetaṃ uparujjhatī”ti.
500.
Idamavoca Bhagavā. Attamano Kevaṭṭo gahapatiputto Bhagavato
bhāsitaṃ abhinandīti.
Kevaṭṭasuttaṃ niṭṭhitaṃ ekādasamaṃ.
|
79. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến
Thiên tử Vasavatti. Khi đến xong, liền hỏi Thiên tử Vasavatti:
"Này Hiền giả, bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi
đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?".
Này Kevaddha, được nghe nói vậy,
Thiên tử Vasavatti nói với Tỷ-kheo ấy. "Này Tỷ-kheo, chúng tôi
không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại... phong đại - đi
đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo, có chư Thiên gọi
là Brahmà Kayikà ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Những vị
này có thể biết bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi
đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn".
80. Này Kevaddha, lúc bấy giờ,
Tỷ-kheo ấy nhập định, và trong định tâm, con đường đưa đến Phạm
thiên giới hiện ra.
Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đi đến
chư Thiên Brahmà Kayikà: "Này các Hiền giả, bốn đại chủng này -
địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?".
Này Kevaddha, được nghe nói vậy,
chư Thiên Brahmà Kayikà nói với Tỷ-kheo ấy: "Này Tỷ-kheo, chúng
tôi không được biết bốn đại chủng ấy - địa đại... phong đại - đi
đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn. Này Tỷ-kheo, có vị Phạm thiên,
Đại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhăn, Thượng
tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Đại tôn, Chúa tể mọi
định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đă và sẽ sanh. Vị
này ưu thế hơn, thù thắng hơn chúng tôi. Vị này có thể biết bốn
đại chủng này địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt
hoàn toàn".
- Này Hiền giả, hiện nay Đại
Phạm thiên ấy ở đâu?
- Này Tỷ-kheo, chúng tôi không
biết Phạm thiên ở đâu, v́ sao có Phạm thiên và Phạm thiên từ đâu
đến. Nhưng này Tỷ-kheo, khi nào triệu tướng hiện, khi nào ánh
sáng sanh, khi nào hào quang hiển, thời Phạm thiên xuất hiện.
Ánh sáng xanh, hào quang hiển là tướng Phạm thiên xuất hiện từ
trước là như vậy.
81. Này Kevaddha, không bao lâu,
Đại Phạm thiên xuất hiện. Lúc bấy giờ, này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy
đến Đại Phạm thiên. Khi đến xong, liền hỏi Phạm thiên: "Này Hiền
giả, bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi
biến diệt hoàn toàn?" - Này Kevaddha, được nghe nói vậy, Đại
Phạm thiên nói với Tỷ-kheo ấy: "Này Tỷ-kheo, Ta là Phạm thiên,
Đại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhăn, Thượng
tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Đại tôn, Chúa tể mọi
định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đă và sẽ sanh".
82. Này Kevaddha, lần thứ hai
Tỷ-kheo ấy nói với Phạm thiên: "Này Hiền giả, tôi không hỏi:
"Ngài có phải là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối
thắng, Biến nhăn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh
chủ, Đại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các
chúng sanh đă và sẽ sanh". Này Hiền giả, tôi hỏi: "Này Hiền giả,
bốn đại chủng này - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến
diệt hoàn toàn?".
Này Kevaddha, lần thứ hai, Đại
Phạm thiên ấy nói với Tỷ-kheo ấy: "Này Tỷ-kheo, ta là Phạm
thiên, Đại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhăn,
Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Đại tôn, Chúa
tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đă và sẽ
sanh".
83. Này Kevaddha, lần thứ ba,
Tỷ-kheo ấy nói với Phạm thiên: "Này Hiền giả, tôi không hỏi:
"Ngài có phải là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối
thắng, Biến nhăn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh
chủ, Đại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các
chúng sanh đă và sẽ sanh". Này Hiền giả, tôi hỏi: "Này Hiền giả,
bốn đại chủng ấy, - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến
diệt hoàn toàn?".
Này Kevaddha, khi bấy giờ Đại
Phạm thiên cầm tay Tỷ-kheo ấy, kéo ra một bên rồi nói với
Tỷ-kheo: "Này Tỷ-kheo, chư Thiên Brahmà Kayikà xem rằng không có
ǵ Phạm thiên không thấy, không có ǵ Phạm thiên không hiểu,
không có ǵ Phạm thiên không chứng. Do vậy, trước mặt chúng, ta
không có trả lời: "Này Tỷ-kheo, ta không được biết bốn đại chủng
ấy - địa đại... phong đại - đi đâu, sau khi biến diệt hoàn
toàn". Do vậy, này Tỷ-kheo, Ngươi đă làm sai, Ngươi đă lầm lẫn,
khi Ngươi bỏ qua Thế Tôn, hướng đến người khác để trả lời câu
hỏi ấy. Này Tỷ-kheo, Ngươi hăy đi đến Thế Tôn hỏi câu hỏi ấy, và
hăy thọ tŕ những ǵ Thế Tôn trả lời".
84. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy,
như nhà đại lực sĩ duỗi ra cánh tay đă co lại, hay co lại cánh
tay đă duỗi ra, biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt
Ta. Này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên.
Sau khi ngồi xuống một bên, này Kevaddha, Tỷ-kheo ấy nói với Ta:
"Bạch Thế Tôn, bốn đại chủng này, - địa đại... phong đại - đi
đâu, sau khi biến diệt hoàn toàn?".
85. Này Kevaddha, được nghe nói
vậy, Ta nói với Tỷ-kheo ấy: "Này Tỷ-kheo, thuở xưa các hải
thương khi đi thuyền vượt biển thường đem theo con chim có thể
thấy bờ. Khi chiếc thuyền vượt biển quá xa không trông thấy bờ,
các nhà hải thương liền thả con chim có thể thấy bờ. Con chim
bay về phía Đông, bay về phía Nam, bay về phía Tây, bay về phía
Bắc, bay lên Trên, bay về các hướng Trung gian. Nếu con chim
thấy bờ xung quanh, con chim liền bay đến bờ ấy. Nếu con chim
không thấy bờ xung quanh, con chim bay trở về thuyền". Cũng vậy,
này Tỷ-kheo, Ngươi đă t́m cho đến Phạm thiên giới mà không gặp
được câu trả lời cho câu hỏi ấy, nên nay trở về với Ta. Này
Tỷ-kheo, câu hỏi không nên hỏi như sau: "Bạch Thế Tôn, bốn đại
chủng ấy - địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại - đi đâu, sau
khi biến diệt hoàn toàn?". Này Tỷ-kheo, câu hỏi phải nói như
sau:
"Chỗ nào mà địa đại, thủy đại,
hỏa đại, phong đại, dài ngắn, tế, thô, tịnh, bất tịnh không có
chân đứng? Chỗ nào cả danh và sắc tiêu diệt hoàn toàn?" và đây
là câu trả lời cho câu hỏi này:
"Thức là không thể thấy, vô
biên, biến thông hết thảy xứ. Ở đây, địa đại, thủy đại, hỏa đại,
phong đại không có chân đứng.
Ở đây, cũng vậy dài, ngắn, tế,
thô, tịnh và bất tịnh.
Ở đây danh và sắc tiêu diệt hoàn
toàn.
Khi thức diệt, ở đây mọi thứ đều
diệt tận".
Thế Tôn thuyết như vậy.
Kevaddha, cư sĩ trẻ tuổi hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
|