|
XVI.
TIṂSATINIPĀTO - NHÓM BA MƯƠI KỆ NGÔN
|
|
Nguồn: Tam Tạng
Pāli - Sinhala thuộc Buddha Jayanti Tripitaka Series (BJTS) |
Lời tiếng Việt:
Tỳ khưu Indacanda |
|
Trang 88: |
Trang 89:
|
|
▪ 1.
KIṂCHANDAJĀTAKAṂ
|
▪ 1. BỔN
SANH MONG MUỐN G̀ |
511. Chuyện dục
tham kỳ dị
(Tiền thân
Kimchanda) |
|
2713. Kiṃ chando kimadhippāyo eko
sammasi ghammani,
kiṃ patthayāno kiṃ esaṃ kena atthena brāhmaṇa.
|
2713. “Này vị Bà-la-môn, ngài một
ḿnh ngồi ở nơi nóng nực với mong muốn ǵ, với ư định ǵ, đang
ước nguyện điều ǵ, đang t́m kiếm cái ǵ, nhằm mục đích ǵ?” |
1. V́ cớ sao ngài ở bến sông
Suốt trong mùa hạ, nắng oi nồng
Bà-la-môn hỡi, người thầm nguyện
Chủ đích ǵ ngài vẫn ước mong |
|
2714. Yathā mahāvāridharo kumbho
suparināhavā,
tathūpamaṃ ambapakkaṃ vaṇṇagandharasuttamaṃ.
|
2714. “(Ta đă nh́n thấy) trái
xoài chín, có màu sắc, mùi thơm, và hương vị tuyệt vời, trông
tương tự như cái hũ đựng nước lớn, có kiểu dáng đẹp. |
2. Bồng bềnh trôi nổi ở trên ḍng
Ta thấy xoài kia, hỡi nữ thần
Vươn cánh tay dài ta lấy quả
Đem về nhà cất ở gian trong |
|
2715. Taṃ vuyhamānaṃ sotena
disvānāmalamajjhime,
pāṇīhi naṃ gahetvāna agyāyatanamāhariṃ.
|
2715. Hỡi cô nàng có ṿng eo
thanh khiết, sau khi nh́n thấy trái xoài đang bị cuốn trôi bởi
ḍng nước, ta đă vớt lấy nó bằng hai bàn tay, rồi đă mang nó đến
ngôi nhà cúng tế thần lửa. |
3. Ngọt ngào hương vị thật thanh
tao,
Ta nghĩ của trời quí giá sao!
H́nh dáng đẹp tươi này sánh với
Chiếc b́nh lớn nhất khác chi nào! |
|
2716. Tato kadalipattesu
nikkhipitvā sayaṃ ahaṃ,
satthena naṃ vikappetvā khuppipāsaṃ ahāsi me.
|
2716. Sau đó, đích thân ta đă đặt
nó xuống ở những mảnh lá chuối, rồi dùng dao cắt thành miếng. Nó
đă làm tiêu tan sự đói khát của ta. |
4. Ta dấu xoài trong lá chuối cây
Cắt ra từng lát với dao này
Ít oi thực phẩm, phần ăn uống
Hợp với đời người đạm bạc đây |
|
2717. Sohaṃ apetadaratho
vyantībhūto dukhakkhamo,
assādaṃ nādhigacchāmi phalesvaññesu kesupi.
|
2717. Ta đây không c̣n trạng thái
đuối sức, và trái xoài chín đă hết. Ta có sức chịu đựng sự khốn
khó, nhưng ta không đạt đến sự hứng thú ở các loại trái cây nào
khác. |
5. Phần ăn dần hết, bớt thèm
thuồng
Tuy thế ḷng ta vẫn tiếc luôn:
Trong các trái nào ta kiếm được
Ta đều không thấy vị thơm ngon! |
|
2718. Sosetvā nūna maraṇaṃ taṃ
mamaṃ āvahissati,
ambaṃ yassa phalaṃ sāduṃ madhuraggaṃ manoramaṃ,
yamuddhariṃ vuyhamānaṃ udadhismā mahaṇṇave.
|
2718. Trái xoài ấy là thứ trái
cây ngon, có vị ngọt đậm đà, làm thích ư, mà ta đă vớt nó lên
trong lúc nó đang trôi nổi từ đầm nước ở trong biển lớn. Chẳng
lẽ sau khi không có nó để thọ dụng, nó sẽ mang lại cái chết cho
ta? |
6. Héo hắt ta đà mỏi mắt trông
Xoài ngon ta lượm ở bên ḍng
Sẽ làm ta chết, ta lo sợ
Chẳng trái cây nào ta ước mong! |
|
2719. Akkhātaṃ te mayā sabbaṃ
yasmā upavasāmahaṃ,
rammaṃ patinisinnosmi puthulomāyutā puthu.
|
2719. Tất cả đă được ta giải
thích cho nàng v́ sao ta chịu đói khát, (mặc dù) ta ngồi bên
cạnh ḍng sông đáng yêu có nhiều loại cá. |
7. V́ sao giữ giới đă tŕnh nàng
Cho dẫu ta đang ở cạnh ḍng
Sóng vỗ chập chùng, bao loại cá
Đầy đàn bơi lội cứ tung tăng |
|
2720. Tvaṃ ca kho me akkhāsi
attānamapalāyinī,
kā vā tvamasi kalyāṇi kissa vā tvaṃ sumajjhime.
|
2720. Hỡi cô nàng (dạn dĩ) không
trốn chạy, nàng hăy nói với ta về bản thân. Này mỹ nữ, nàng là
ai? Hỡi cô nàng có ṿng eo xinh xắn, v́ sao nàng đi đến đây? |
8. Nay ta cầu khẩn nói cho ta
Chớ sợ hăi rồi bỏ chạy xa,
Hỡi nàng tố nữ, là ai đó?
Tại sao nàng lại đến đây mà? |
|
2721. Ruppa paṭṭapaḷimaṭṭhīva
vyagghiva girisānujā,
yā santi nāriyo devesu devānaṃ paricārikā.
|
2721. Những người nữ trong số chư
Thiên, các nàng hầu của chư Thiên, trông tựa như những dải lụa
vàng bóng loáng, tựa như những chú cọp con (xinh xắn) được sanh
ra ở vùng núi non. |
9. Thị nữ chư Thiên đẹp tuyệt vời
Khác nào vàng óng ánh ngời soi!
Xinh như bầy hổ c̣n thơ dại
Dọc các sườn non vẫn giỡn chơi |
|
2722. Yāva manussalokasmiṃ
rūpenatvāgatitthiyo
rūpe te sādisī natthi devesu gandhabbamanussaloke,
phuṭṭhāsi me cārupubbaṅgi brūhi
akkhāhi me nāmañca bandhave ca.
|
2722. Cho đến các phụ nữ được phú
cho sắc đẹp ở thế giới nhân loại, người sánh bằng với nàng về
sắc đẹp là không có ở giữa chư Thiên, ở các Càn-thát-bà, và ở
thế giới loài người. Hỡi nàng có đôi chân đẹp, được ta hỏi, xin
nàng hăy trả lời. Nàng hăy nói cho ta về danh tánh và về các
thân quyến.” |
10. Cũng ở nơi đây cơi thế gian,
Muôn vàn vẻ đẹp lắm hồng nhan
Song không ai giữa nhân Thiên ấy
Lại dam khoe tươi với nữ hoàng!
Ta hỏi nữ thần muôn diễm lệ
Được trời phú mọi vẻ thiên quang
Xin cho ta biết phương danh tánh
Nơi chốn xuất thân quí tộc nàng |
|
2723. Yaṃ tvaṃ patinisinnosi
rammaṃ brāhmaṇa kosikiṃ,
sāhaṃ bhusālayā vutthā varavārivahoghasā.
|
2723. “Này vị Bà-la-môn, ngài
ngồi bên cạnh ḍng sông Kosikī đáng yêu, c̣n thiếp đây sống ở
trú xứ nhộn nhịp với những ḍng nước triều và nước lũ. |
11. Trên ḍng sông nước thật
xinh tươi
Bên cạnh Hằng giang đạo sĩ ngồi
Bá chủ ngôi cao ta ngự trị
Dưới vùng sâu thắm, thủy triều trôi |
|
2724. Nānādumagaṇākiṇṇā bahūtā
girikandarā,
mameva pamukhā honti abhisandanti pāvuse.
|
2724. Nhiều hang núi được xen lẫn
với những đám cây cối khác loại tuôn chảy vào mùa mưa khiến
chính thiếp trở thành ḍng chảy tiên phong.
|
12. Cầm quyền ngàn thạch động
chung quanh
Che phủ rừng cây rậm lá xanh
Từ đó bao ḍng tràn ngập chảy
Ḥa theo với sóng nước sông ḿnh |
|
Trang 90:
|
Trang 91:
|
|
2725. Atho bahū vanā todā
nīlavārivahandharā,
bahukā nāgacittodā abhisandanti vārinā.
|
2725. Và c̣n có nhiều nguồn nước
chảy ra từ các cánh rừng mang theo ḍng nước màu lục, có nhiều
ḍng nước đầy màu sắc của các con rồng tuôn chảy với nguồn nước
(dồi dào). |
13. Mỗi khu rừng, mỗi khóm
vườn cây
Đưa đến Long cung lắm suối đầy
Đổ xuống bao nguồn nước xanh biếc
Ngập ḍng bát ngát của ta này |
|
2726. Tā ambajambulabujā nīpā
tālā cudumbarā,
bahūni phalajātāni āvahanti abhiṇhaso.
|
2726. Các ḍng nước ấy luôn luôn
mang theo nhiều loại trái cây như trái xoài, trái đào đỏ, trái
sa-kê, trái nīpa, trái thốt nốt, và trái sung. |
14. Lệ thường trên các phụ lưu
này
Nhiều trái sinh từ đủ loại cây
Đào đỏ, chà là, sung mít vả
Với xoài, người thấy rơ ràng ngay |
|
2727. Yaṃ kiñci ubhato tīre
phalaṃ patati ambuni,
asaṃsayaṃ taṃ sotassa phalaṃ hoti vasānugaṃ.
|
2727. Bất cứ trái cây nào ở hai
bên bờ rơi rụng xuống nước, chắc chắn rằng trái cây ấy bị cuốn
trôi theo mănh lực của ḍng nước chảy. |
15. Trái kia đều mọc mỗi bên
bờ
Rơi xuống vừa tầm với của ta
Ta bảo của trời cho chánh đáng
Danh ta, ai có thể gièm pha? |
|
2728. Etadaññāya medhāvi
puthupañña suṇohi me,
mā rocayamabhisaṅgaṃ paṭisedha janādhipa.
|
2728. Thưa bậc thông minh, thưa
bậc có trí tuệ bao la, sau khi biết rơ điều ấy, xin ngài hăy
lắng nghe thiếp. Thưa bậc quân vương, chớ vui thích sự bám víu
(vào tham ái). Hăy chặn đứng điều ấy. |
16. Hiểu thông điều ấy lắng
nghe đây
Hỡi đại vương thông tuệ, trí tài
Chớ đắm tham vào tâm dục vọng
Bỏ ngay lời nguyện đáng chê bai |
|
2729. Na cāhaṃ vaddhavaṃ maññe
yaṃ tvaṃ raṭṭhābhivaddhana,
āceyyamāno rājisi maraṇaṃ abhikaṅkhasi.
|
2729. Thưa bậc làm hưng thịnh đất
nước, thưa nhà vua ẩn sĩ, thiếp không nghĩ rằng việc ngài mong
mỏi cái chết trong lúc c̣n trẻ tuổi là điều sáng suốt. |
17. Đại vương xưa ngự trị
giang sơn
Nay việc ngài, ta chẳng tán dương
Muốn chết giữa mùa xuân tuổi trẻ
Rơ ràng biểu lộ đại điên cuồng |
|
2730. Tassa jānanti pitaro
gandhabbā ca sadevakā,
ye cāpi isayo loke saññatattā yasassino,
asaṃsayante jānanti vaddhabhūtā yasassino.
|
2730. Các bậc cha ông, các
Càn-thát-bà, luôn cả chư Thiên, biết được bản tính tham ái của
ngài đây, và thậm chí các vị ẩn sĩ có bản thân thu thúc, có danh
tiếng ở thế gian, và những người lớn tuổi, có danh vọng, chắc
chắn rằng những người ấy cũng biết.” |
18. Giáo sĩ, chư thần, quư
hiển linh
Mọi người biết hạnh nghiệp uy danh
Của ngài, mọi Thánh nhân thanh tịnh
Dưới thế đă thành tựu hiển vinh
Quả thấy việc ngài làm trái đạo
Hiền nhân tất cả biểu đồng thanh! |
|
2731. Evaṃ viditvā vidū
sabbadhammaṃ
viddhaṃsanaṃ cavanaṃ jīvitassa,
nācīyati tassa narassa pāpaṃ
sace na ceteti vadhāya tassa.
|
2731. “Các bậc hiểu biết dă hiểu
rơ như vậy về tất cả các thiện pháp, về sự tan ră, về sự tiêu
hoại của mạng sống. Tội ác không bị tích lũy cho người nam ấy,
nếu người ấy không suy nghĩ về việc giết hại kẻ khác. |
19. Ai biết đời người thật
mỏng manh
Mọi loài dục giới thoáng qua nhanh
Không hề nghĩ đến điều sinh sát
Mà trú an trong mọi hạnh lành |
|
2732. Isipūgasamaññāte evaṃ lokyā
viditā sati,
anariya parisambhāse pāpakammaṃ jigiṃsasi.
|
2732. Hỡi cô nàng được tôn trọng
bởi tập thể các ẩn sĩ, trong khi nàng được thể gian biết đến như
vậy, nàng lại muốn tạo ra ác nghiệp ở việc chê bai không thánh
thiện. |
20. Xưa nàng được hội Thánh
tôn vinh
Là bậc làm công đức sáng danh
Nay lại giao du nhiều kẻ ác
Tiếng xấu nàng đang cố tạo thành! |
|
2733. Sace ahaṃ marissāmi tīre te
puthu sussoṇi,
asaṃsayaṃ asiloko mayi pete āgamissati.
|
2733. Hỡi nữ thần có cặp mông nở
nang xinh xắn, nếu như ta chết ở bờ sông của nàng, chắc chắn
rằng tiếng xấu sẽ đến với nàng khi ta đă ra đi. |
21. Ví ta chết cạnh bến sông
nàng
Hỡi nữ thần dung sắc vẹn toàn
Tiếng xấu trùm lên nàng tất cả
Khác nào mây phủ giữa không gian! |
|
2734. Tasmā hi pāpakaṃ kammaṃ
rakkhasseva sumajjhime,
mā taṃ sabbo jano pacchā pakatthāsi mayi mate.
|
2734. Chính v́ điều ấy, hỡi cô
nàng có ṿng eo xinh xắn, nàng hăy bảo vệ hành động xấu xa (của
ta trong việc ham muốn trái xoài). Chớ để sau này, khi ta đă
chết, tất cả mọi người lại phỉ báng nàng.” |
22. Vậy kiều tiên hỡi, lăo van
nàng
Hăy tránh xa điều ác, sợ rằng
Mặc lăo chết đi, rồi hối tiếc
Làm tṛ đàm tiếu giữa trần gian! |
|
2735. Aññātametaṃ avisayhasāhi
attānaṃ ambaṃ ca dadāmi te taṃ,
yo duccaje kāmaguṇe pahāya
santiñca dhammañca adhiṭṭhitosi.
|
2735. “Thưa vị có sự chịu đựng
việc không thể chịu đựng, điều ấy đă được biết rơ. Thiếp sẽ đích
thân biếu trái xoài ấy đến ngài. Ngài đây, sau khi dứt bỏ các
loại dục khó thể từ bỏ, ngài hăy duy tŕ sự an tịnh và thiện
pháp.
|
23. Ta biết ngài thầm kín ước
mong
Và ngài nhẫn nhục thật cam tâm
Ta cam đành phận làm tỳ nữ
Đem đến xoài ngon tặng đạo nhân
Ḱa ác dục từ bao thưở trước
Khó thay bỏ lạc thú phàm trần
Ngài đă đạt đến tâm thanh tịnh
Và trí b́nh an, phải giữ luôn. |
|
Trang 92:
|
Trang 93:
|
|
2736. Yo hitvā pubbasaṃyogaṃ
pacchā saṃyojane ṭhito,
adhammañceva carati pāpañcassa pavaḍḍhati.
|
2736. Kẻ nào sau khi từ bỏ sự
ràng buộc trước đây, rồi lại dính vào sự ràng buộc sau này, và
c̣n thực hành phi pháp nữa; sự xấu xa gia tăng cho kẻ ấy. |
24. Người nào đă thoát buộc
ràng xưa
Lại bám xiềng gông trước chuyện thừa
Phóng dật bước vào phi thánh đạo
Chất chồng ác nghiệp măi luôn mà. |
|
2737. Ehi taṃ pāpayissāmi kāmaṃ
appossukko bhava,
upānayāmi sītasmiṃ viharāhi anussuko.
|
2737. Ngài hăy đến, thiếp sẽ giúp
ngài đạt được điều mong muốn. Ngài hăy ít ham muốn. Hăy để thiếp
đưa ngài đi, và ngài hăy trú ở nơi (rừng xoài) mát mẻ, không c̣n
ham muốn nữa. |
25. Ta tặng ngài điều nguyện
khát khao,
Rồi ngài tiêu hết mọi ưu sầu,
Ta đưa ngài đến nơi êm mát,
Ngài sống đời an lạc biết bao! |
|
2738. Taṃ puppharasamattehi
vakkaṅgehi arindama,
koñcā mayūrā diviyā koyaṭṭhimadhusāliyā.
|
2738. Thưa vị thuần hóa kẻ thù,
nơi ấy với những con chim bị say đắm hương vị của các bông hoa.
Có các chim c̣, các chim công, các chim sếu, và các chim sáo
ngọt ngào thuộc cơi Trời. |
26. Mây-na, cu-gáy, hạc, hồng
nga,
Say mật quây quần cạnh khóm hoa,
Từng đám thiên nga cao vút lượn
Chim đồng, đàn khổng tước kiêu sa
Cùng nhau ḥa tiếng ca êm ái
Đánh thức rừng cây tỉnh giấc mơ! |
|
2739. Kūjitā haṃsapūgehi
kokilettha pabodhare,
ambettha vippasūnaggā palālakhalasannibhā,
kosumbhasalalā nīpā pakkatālavilambino.
|
2739. Được cất tiếng kêu cùng với
bầy thiên nga, các con chim cu cu làm thức giấc chốn này. Ở đây,
có những cây xoài với những chùm trái trĩu nặng ở đầu cành,
trông giống như những bó lúa trĩu hạt, có những cây kosumbha,
cây salala, cây nīpa, và những quầy trái thốt nốt
chín treo lỏng thỏng.” |
27. Hoa nghệ, Ka-dam-ba rộ
bông
Khác nào rơm rạ ở trên đồng
Chà là, thốt nót, nồng nàn chín
Tô điểm chung quanh lủng lẳng chùm
Và giữa cây cành đầy trĩu trái
Xoài cây sung măn, hăy nh́n trông! |
|
2740. Mālī tiriṭī kāyūrī aṅgadī
candanassado,
rattiṃ tvaṃ paricāresi divā vedesi vedanaṃ.
|
2740. “Là người có ṿng hoa, có
khăn đội đầu, có ṿng đeo tay, có thoa trầm hương, ông hưởng thụ
vào ban đêm, và cảm nhận thọ khổ vào ban ngày. |
28. Suốt đêm, quán đảnh tiệc
liên hoan
Vương miện trên mày lại được mang
Tô điểm cổ tay, đầy ngọc quí
Sáng ngày đau khổ thật kinh hoàng |
|
2741. Soḷasitthisahassāni yā temā
paricārikā,
evaṃ mahānubhāvosi abbhuto lomahaṃsano.
|
2741. Mười sáu ngàn phụ nữ này là
những người hầu hạ của ông. Như vậy, ông có uy quyền lớn lao,
ông thật phi thường, có sự dựng đứng lông. |
29. Hàng ngàn tiên nữ hộ quanh
ngài
Thần lực ngài kia thật đại tài!
Kỳ diệu biết bao quyền biến đổi
Khổ h́nh lại hóa cảnh bồng lai! |
|
2742. Kiṃ kammamakari pubbe pāpaṃ
attadukhāvahaṃ,
yaṃ karitvā manussesu piṭṭhimaṃsāni khādasi.
|
2742. Ông đă tạo nghiệp ǵ xấu xa
trong đời quá khứ khiến nó đem lại khổ đau cho bản thân? Sau khi
đă làm nghiệp ǵ ở thế giới loài người khiến ông phải ăn các
miếng thịt ở lưng?” |
30. Ngài đă làm sao phải đọa
đày?
Tội ǵ ngài hối tiếc ngày nay?
Sao từ lưng nọ nay ngài phải
Móc thịt ḿnh ăn lại mỗi ngày? |
|
2743. Ajjhenāni paṭiggayha kāmesu
gathito ahaṃ,
acariṃ dīghamaddhānaṃ paresaṃ ahitāyahaṃ.
|
2743. “Sau khi tiếp thu các môn
học, tôi bị tham đắm ở các dục. Tôi đă hành xử điều bất lợi đến
những người khác trong một thời gian dài. |
31. Xưa thân thọ hưởng thánh
tam kinh
Song ác nghiệp giam hăm đắm ḿnh
Việc ác đă làm cho bạn hữu
Bao năm ṛng, cuộc sống trôi nhanh |
|
2744. Yo piṭṭhimaṃsiko hoti evaṃ
ukkacca khādati,
yathāhamajja khādāmi piṭṭhimaṃsāni attano ”ti.
|
2744. Hôm nay tôi ngấu nghiến
những miếng thịt lưng của chính ḿnh như thế nào, th́ kẻ nói xấu
sau lưng người khác sẽ phải rứt ra (những miếng thịt lưng) rồi
nhai tương tự như thế ấy.”
|
32. Kẻ nào phỉ báng các tha
nhân
Cứ thích ŕnh ṃ phá tiếng thơm
Phải móc thịt ḿnh ăn lại măi
Như ta việc ấy hiện đang làm!
Câu chuyện
511 |
|
Kiṃchandajātakaṃ.
*** |
Bổn Sanh Mong
Muốn Ǵ. [511]
*** |
|
Trang 94: |
Trang 95:
|
|
▪ 2.
KUMBHAJĀTAKAṂ |
▪ 2. BỔN SANH
CÁI B̀NH RƯỢU
|
512. Chuyện b́nh
rượu
(Tiền thân
Kumbha) |
|
2745. Ko pāturāsi tidivā nabhamhi
obhāsayaṃ saṃvariṃ candimāva,
gattehi te rasmiyo niccharanti
sateritā vijjurivantalikkhe.
|
2745. “Ngài là ai mà đến từ Thiên
cung và hiện ra ở trên bầu trời? Ngài đang chiếu sáng đêm đen
tựa như mặt trăng. Các hào quang phát ra từ thân thể của ngài
tựa như tia chớp Sateritā ở không trung. |
1. Ngài là đại sĩ hiện trên không
Ḿnh phóng hào quang rực ánh hồng
Như chớp ngang trời đang lóe sáng
Đêm đen kịt chiếu ánh trắng trong. |
|
2746. So chinnavātaṃ kamasi
aghamhi
vehāsayaṃ gacchasi tiṭṭhasī ca,
iddhī nu te vatthukatā subhāvitā
anaddhaguṇamapi devatānaṃ.
|
2746. Ngài đây lướt gió bước đi ở
bầu trời. Ngài đi và đứng ở không trung. Thần thông của ngài đă
được tạo thành nền tảng, đă khéo được phát triển, phải chăng nó
không thuộc về các khách lữ hành, mà thuộc về chư Thiên? |
2. Giữa chốn bao la, lượt nhẹ
ḿnh,
Đi đứng trong khoảng chẳng âm thanh.
Lực thần ngài đạt, ôi vi diệu,
Chứng tỏ ngài thần thánh hiển linh |
|
2747. Vehāsayaṃ kamamāgamma
tiṭṭhasi
kumbhaṃ kiṇāthāti yametamatthaṃ,
ko vā tuvaṃ kissa vatāya kumbho
akkhāhi me brāhmaṇa etamatthaṃ.
|
2747. Ngài đă đi đến theo đường
không trung rồi đứng lại. Và ngài nói rằng: ‘Bệ hạ hăy mua cái
b́nh.’ Ngài là ai? Cái b́nh này là của ai? Thưa vị Bà-la-môn,
xin ngài hăy giải thích ư nghĩa ấy cho trẫm.” |
3. Đạo Sĩ, xin cho biết bậc nào
Vật ǵ trong ấy, chiếc b́nh cao
Giữa không trung giáng trần như vậy
Chắc muốn bán hàng cho trẫm sao? |
|
2748. Na sappikumbho napi
telakumbho
na phāṇitassa na madhussa kumbho,
kumbhassa vajjāni anappakāni
dose bahū kumbhagate suṇātha.
|
2748. “Nó không phải là b́nh bơ
lỏng, cũng không phải là b́nh dầu, không phải là b́nh mật đường,
không phải là b́nh mật ong. Các điều đáng chê trách của cái b́nh
không phải là ít. Bệ hạ hăy lắng nghe nhiều tật xấu liên quan
đến cái b́nh. |
4. B́nh không đựng lạc, chẳng dầu
hương,
Chẳng phải mật ong, chẳng mía đường
Song chuyện xấu xa không kể xiết
Chứa đây trong bụng quả cầu tṛn |
|
2749. Galeyya yaṃ pītvā pate
papātaṃ
sobbhaṃ guhaṃ candaniyoḷi gallaṃ,
bahumpi bhuñjeyya abhojaneyyaṃ
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2749. Người uống vào thức uống
này th́ có thể đi loạng choạng, có thể té ngă vào vực thẳm, hố
rănh, hang hốc, hầm phân, và nơi ô uế, thậm chí có thể ăn nhiều
thức không nên ăn. Quư vị hăy mua cái b́nh này, nó được chứa đầy
thức uống ấy. |
5. Ai uống, tội thay kẻ dại khờ
Sẽ ch́m trong hố thẳm đen dơ
Đâm đầu trong vũng bùn ghê tởm,
Ăn phải vật xưa đă nguyện chừa,
Đại đế, xin mua b́nh rượu nặng
Đầy lên tận miệng của nhà ta. |
|
2750. Yaṃ ve pītvā cittasmiṃ
anesamāno
āhiṇḍatī goriva bhakkhasādī,
anāthamāno upagāyati naccati ca
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2750. Thật vậy, người uống vào
thức uống này th́ không c̣n làm chủ tâm trí, tựa như con ḅ đi
lang thang gặm cỏ; trong lúc không c̣n tự chủ, lại c̣n ve văn ca
hát, và nhảy múa. Quư vị hăy mua cái b́nh này, nó được chứa đầy
thức uống ấy. |
6.Rượu vào trí đảo lộn quay cuồng
Như chú ḅ ăn cỏ lạc đường
Tâm trí phiêu diêu, người lảo đảo.
Múa men ca hát suốt ngày trường.
B́nh ta đầy rượu tràn lên miệng
Cực mạnh, mua ngay, hỡi Đại vương! |
|
2751. Yaṃ ve pītvā acelakova
naggo
careyya gāme visikhantarāni,
sammūḷhacitto ativelasāyī
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2751. Thật vậy, người uống vào
thức uống này th́ giống như người lơa thể, không mặc y phục, rồi
đi lang thang ở những đường lộ trong làng, có tâm trí bị đần
độn, và ngủ quá mức b́nh thường. Quư vị hăy mua cái b́nh này, nó
được chứa đầy thức uống ấy. |
7. Người uống rượu trơ trẽn chạy
rong
Khắp thành, như ẩn sĩ trần truồng
Đến khuya nằm nghỉ , liền đâm hoảng
Quên cả th́ giờ phải ngă lưng
B́nh rượu ta đầy lên tận miệng
Cực nồng, mua lấy hỡi Quân vương! |
|
2752. Yaṃ ve pītvā vuṭṭhāya
pavedhamāno
sīsañca bāhuñca pasārayanto,
so naccati dārukaṭallakova
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2752. Thật vậy, người uống vào
thức uống này th́ sau khi đứng dậy thường khuấy động, lúc lắc
đầu, và vung vẩy cánh tay. Người ấy nhảy múa tựa như h́nh nhân
múa rối bằng gỗ. Quư vị hăy mua cái b́nh này, nó được chứa đầy
thức uống ấy. |
8. Bợm rượu , như người hoảng múa
men,
Ngă nghiêng, dường chẳng đứng ngồi yên
Tay chân run rẩy, đầu co giật
Như nộm gỗ nhờ tay kéo lên
Đại đế, mua đi b́nh rượu đó
Đầy lên tận miệng, rượu cay men. |
|
Trang 96: |
Trang 97: |
|
2753. Yaṃ ve pītvā aggidaḍḍhā
sayanti
atho sigālehipi khāditāse,
bandhaṃ vadhaṃ bhogajāniñcupenti
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2753. Thật vậy, những người uống
vào thức uống này th́ bị ngọn lửa thiêu đốt, nằm dài, rồi bị các
chó rừng ăn thịt, đi đến t́nh trạng bị giam cầm, tử h́nh, và
tiêu hao của cải. Quư vị hăy mua cái b́nh này, nó được chứa đầy
thức uống ấy. |
9. Bợm rượu bị thiêu đốt ruột
gan,
Hoặc làm mồi lũ chó rừng hoang,
Dấn thân tù ngục hay thần chết
C̣n phải chịu hao tốn bạc vàng
B́nh rượu ta đầy lên tận miệng
Cực nồng, mua lấy, hỡi Vương quân! |
|
2754. Yaṃ ve pītvā bhāseyya
abhāsaneyyaṃ
sabhāyamāsīno apetavattho,
sammakkhito vantagato vyasanno
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2754. Thật vậy, người uống vào
thức uống này th́ có thể nói điều không nên nói, ngồi ở cuộc hội
họp không mặc y phục, tự làm cho lem luốc, đi đến ói mửa, bị suy
sụp. Quư vị hăy mua cái b́nh này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
|
10. Túy ông mất hết vẻ thanh tao
Tṛ chuyện những điều bẩn thỉu sao!
Ngồi đứng trần truồng cùng đám bạn
Mọi đàng ô trọc , bệnh lao đao
B́nh ta đầy rượu tràn lên miệng
Cực mạnh, quân vương hăy lấy vào! |
|
2755. Yaṃ ve pītvā ukkaṭṭho
āvilakkho
mameva sabbapaṭhavīti maññati,
na me samo cāturantopi rājā
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2755. Thật vậy, người uống vào
thức uống này th́ kiêu ngạo, mắt bị đỏ ngầu, nghĩ rằng: ‘Toàn bộ
trái đất thuộc về một ḿnh ta, thậm chí vị vua cai trị bốn
phương cũng không sánh bằng với ta.’ Quư vị hăy mua cái b́nh
này, nó được chứa đầy thức uống ấy. |
11. Kẻ uống thường hay thói tự
cao,
Nhăn quang chẳng sáng suốt đâu nào,
"Thế gian của tớ", ḷng thầm nghĩ,
Chẳng có vua nào sánh kịp đâu! |
|
2756. Mānātimānā kalahāni pesunī
dubbaṇṇinī naggiyinī palāyinī,
corāna dhuttāna gatī niketo
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2756. (Thức uống này là vật tạo
ra) ngă mạn và ngă mạn thái quá, các sự căi cọ, các việc nói đâm
thọc, các vóc dáng xấu xí, các sự lơa lồ, các sự trốn chạy, nó
là đích đến, là chỗ trú của những kẻ trộm cướp, của những gă vô
lại. Quư vị hăy mua cái b́nh này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
|
12. Rượu nồng là thứ đại kiêu
căng
Ác quỷ nhát gan tựa nhộng trần,
Kết hợp đánh nhau và phỉ báng
Ấy nhà cho trộm, điếm dung thân. |
|
2757. Dhaññaṃ dhanaṃ rajataṃ
jātarūpaṃ
khettaṃ gavaṃ yattha vināsayanti,
ucchedanī vittavataṃ kulānaṃ
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2757. Bị lệ thuộc vào thức uống
này, nhiều người làm tiêu tan thóc lúa, tài sản, bạc vàng, ruộng
vườn, trâu ḅ. Thức uống này là sự phá hoại đối với những gia
đ́nh có của cải. Quư vị hăy mua cái b́nh này, nó được chứa đầy
thức uống ấy. |
13. Dù gia đ́nh có thật giàu sang
Hưởng thọ kho vô số bảo tàng
Giữ của trời cho phong phú nhất
Rượu này cũng sẽ phá tan hoang |
|
2758. Iddhāni phītāni kulāni assu
anekasāhassadhanāni loke,
ucchinnadāyajjakatānimāya
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2758. Có những gia đ́nh giàu có,
thịnh vượng, có tài sản nhiều ngàn tiền vàng ở thể gian, bị làm
cho tiêu hoại phần gia tài thừa kế bởi v́ thức uống này. Quư vị
hăy mua cái b́nh này, nó được chứa đầy thức uống ấy. |
14. Bạc vàng, đồ đạc ở trong nhà
Đồng ruộng, trâu ḅ, thóc vựa kho
Ta sợ tiêu vong v́ rượu mạnh
Là mầm suy sụp của toàn gia |
|
2759. Yaṃ pītvā duṭṭha rūpova
poso
akkosati pitaraṃ mātarañca,
sassumpi gaṇheyya athopi suṇhaṃ
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2759. Sau khi uống vào thức uống
này, người nam như là có dáng vẻ tồi bại, mắng nhiếc cha và mẹ,
và có thể cưỡng ép mẹ vợ, rồi luôn cả con dâu. Quư vị hăy mua
cái b́nh này, nó được chứa đầy thức uống ấy. |
15. Túy ông đầy nặng tính kiêu
căng
Phỉ báng cả hai bậc lăo thân,
Thách đố bà con cùng máu huyết
Dám làm ô uế mối hôn nhân |
|
2760. Yaṃ ve pītvā duṭṭharūpāva
nārī
akkosati sasuraṃ sāmikañca,
dāsampi gaṇhe paricārakampi
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2760. Thật vậy, sau khi uống vào
thức uống này, người nữ như là có dáng vẻ tồi bại, mắng nhiếc
cha chồng và chồng, và có thể cưỡng ép đầy tớ trai, luôn cả
người nam hầu cận. Quư vị hăy mua cái b́nh này, nó được chứa đầy
thức uống ấy. |
16. Nữ nhân uống rượu cũng kiêu
căng
Phỉ báng chồng ḿnh lẫn phụ thân
Bất chấp thanh danh nhà quư tộc
Biến thành nô lệ tính điên khùng |
|
Trang 98: |
Trang 99:
|
|
2761. Yaṃ ve pivitvāna haneyya
poso
dhamme ṭhitaṃ samaṇaṃ brāhmaṇaṃ vā,
gacche apāyampi tato nidānaṃ
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2761. Thật vậy, sau khi uống vào
thức uống này, người nam có thể giết hại vị Sa-môn hay vị
Bà-la-môn đă trú vào thiện pháp, do nguyên nhân ấy có thể đi đến
cảnh giới khổ đau. Quư vị hăy mua cái b́nh này, nó được chứa đầy
thức uống ấy. |
17. Bợm rượu, gan liều dám sát
nhân
Sa môn chân chính Bà-la-môn,
Rồi cùng mọi cơi đời đau khổ
Hối tiếc hành vi quá bạo tàn |
|
2762. Yaṃ ve pītvā duccaritaṃ
caranti
kāyena vācāya ca cetasā vā,
nirayaṃ vajanti duccaritaṃ caritvā
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2762. Thật vậy, sau khi uống vào
thức uống này, nhiều người thực hành uế hạnh bằng thân, bằng
lời, hoặc bằng ư; sau khi thực hành uế hạnh th́ đi đến địa ngục.
Quư vị hăy mua cái b́nh này, nó được chứa đầy thức uống ấy.
|
18. Rượu vào, phạm ác nghiệp ba
phần:
Lời nói, việc làm với ư tâm
Địa ngục ch́m sâu đầy khổ năo
V́ hành động ác tạo sai lầm |
|
2763. Yaṃ yācamānā na labhanti
pubbe
bahuṃ hiraññampi pariccajantā,
so taṃ pivitvā alikaṃ bhaṇāti
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2763. Trước đây, trong khi bỏ ra
nhiều vàng rồi yêu cầu kẻ nào đó (nói dối), nhưng không thành
công, kẻ ấy (giờ đây), sau khi uống thức uống ấy, liền nói điều
giả dối. Quư vị hăy mua cái b́nh này, nó được chứa đầy thức uống
ấy. |
19. Có kẻ, người năn nỉ uổng công
Dù đem dâng mấy đống vàng, song
Khi say, chúng dụ theo đường chúng
Lời dối tuôn ra cũng sẵn ḷng |
|
2764. Yaṃ ve pītvā pesane
pesayanto
accāyike karaṇīyamhi jāte,
atthampi so nappajānāti vutto
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2764. Thật vậy, sau khi uống vào
thức uống này, kẻ được phái đi đưa tin vào lúc có công việc cần
làm khẩn cấp sanh khởi, kẻ ấy cũng không biết ư nghĩa (lời nhắn
gởi) khi được hỏi đến. Quư vị hăy mua cái b́nh này, nó được chứa
đầy thức uống ấy. |
20. V́ người say giữ việc thông
tin
Gặp cảnh gian nguy đến đột nhiên
Hăy ngắm! Kẻ này thề thốt nặng:
"Việc này tâm trí chợt quên liền!" |
|
2765. Hirīmanāpi ahirīkabhāvaṃ
pātuṃ karonti madanāya mattā,
dhīrāpi santā bahukaṃ bhaṇanti
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2765. Ngay cả những người có tâm
ư gắn bó với sự hổ thẹn, khi bị say sưa bởi chất say, cũng phô
bày bản tánh không hổ thẹn. Ngay cả các bậc sáng trí, trong khi
say sưa, cũng nói nhiều. Quư vị hăy mua cái b́nh này, nó được
chứa đầy thức uống ấy. |
21. Ngay người thanh lịch nhất,
khi say
Cũng hóa ra phường tục tử ngay
Đệ nhất trí nhân mà túy lúy
Cũng huyên thuyên nói xuẩn ngu đầy! |
|
2766. Yaṃ ve pītvā ekathūpā
sayanti
anāsakā thaṇḍiladukkhaseyyaṃ,
dubbaṇṇiyaṃ āyasakyañ cupenti
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2766. Thật vậy, sau khi uống vào
thức uống này, nhiều người nằm một đống ở chỗ nằm khổ sở là nền
đất cứng, không ăn uống, rồi đạt đến vóc dáng xấu xí và sự mất
danh tiếng. Quư vị hăy mua cái b́nh này, nó được chứa đầy thức
uống ấy. |
22. Uống nhiều, nhịn đói, ngă
chơi vơi
Đất cứng trần là chỗ nghỉ ngơi
Lúc nhúc trẽn trơ như lũ lợn
Chịu bao nhục nhă nhất trên đời |
|
2767. Yaṃ ve pītvā pattakkhandhā
sayanti
gāvo kūṭahatāriva,
nahi vāruṇiyā vego
narena sussaho riva.
|
2767. Thật vậy, sau khi uống vào
thức uống này, nhiều người có thân h́nh bị đổ xuống, nằm dài,
tựa như con ḅ bị đánh bởi cái búa tạ, bởi v́ với rượu mạnh th́
không c̣n sự mau mắn, dường như với người nam th́ có sự khéo
chịu đựng. |
23. Như ḅ, bị đánh ngă trên trên
sàn
La liệt nằm từng đống hỗn mang
Ngọn lửa chứa trong men rượu nặng
Sức người không thể sánh ngang bằng |
|
2768. Yaṃ manussā vivajjenti
sappaṃ ghoravisammiva,
taṃ loke visasamānaṃ ko naro pātumarahati.
|
2768. Loài người tránh xa thức
uống này như là tránh xa con rắn có nọc độc dữ dội, vậy người
nam nào ở thế gian có khả năng để uống thứ nước sánh bằng với
nọc độc ấy? |
24. Mọi người kinh hoảng vội lùi
ra.
Tránh độc dược kia tựa độc xà
Dũng sĩ to gan nào giải khát
Cho ḿnh bằng rượu giết người ta? |
|
2769. Yaṃ ve pītvā
andhakaveṇhuputtā
samuddatīre paricārayantā,
upakkamuṃ musalehaññamaññaṃ
tassā puṇṇaṃ kumbhamimaṃ kiṇātha.
|
2769. Thật vậy, sau khi uống vào thức uống này, những người con
trai của Andhaka và Veṇhu, trong lúc dạo chơi ở bờ biển, đă đánh
đập lẫn nhau bằng những cái chày. Quư vị hăy mua cái b́nh này,
nó được chứa đầy thức uống ấy. |
25. Ta chắc sau khi uống rượu
nồng
And-ha tộc, với Vrish-ni cùng
Lang thang bờ biển rồi nhào xuống
V́ chiếc chùy kia của họ hàng |
|
Trang 100: |
Trang 101: |
|
2770. Yaṃ ve pītvā pubbadevā
pamattā
tidivā cutā sassatiyā samāyā,
taṃ tādisaṃ majjamimaṃ niratthakaṃ
jānaṃ mahārāja kathaṃ pibeyya.
|
2770. Thật vậy, sau khi uống vào
thức uống này, chư Thiên trong thời quá khư bị say sưa, rồi bị
ĺa khỏi cơi Trời Tam Thập vĩnh viễn cùng với phép thần. Tâu đại
vương, trong khi biết chất say này là không có lợi ích giống như
thức uống ấy, làm sao người ta có thể uống được? |
26. Tiên say bị đọa khỏi cung
trời
Thần lực mất liền, Đại đế ơi!
Ai muốn nếm mùi ghê tởm ấy,
Mua đi b́nh rượu của nhà tôi! |
|
2771. Nayimasmiṃ kumbhasmiṃ dadhi
vā madhuṃ vā,
evaṃ abhiññāya kiṇāhi rāja,
evaṃ hi maṃ kumbhagatā mayā te
akkhātarūpaṃ tava sabbamitta.
|
2771. Tâu bệ hạ, trong b́nh này
không phải là sữa đông hay mật ong, bệ hạ phải biết rơ như vậy
rồi hăy mua. Này Sabbamitta, thức uống chứa đựng ở trong cái
b́nh này, như đă được ta giải thích cho bệ hạ, đúng là như vậy
và thuộc về bệ hạ. |
27. Chẳng phải sữa chua, mật ngọt
đây
Song ngài luôn nhớ măi từ nay
Cái ǵ chứa đựng trong bầu ấy
Đại đế xin mua lấy rượu này! |
|
2772. Na me pitā vā athavāpi mātā
etādiso yādisako tuvaṃsi,
hitānukampī paramatthakāmo
sohaṃ karissaṃ vacanaṃ tavajja.
|
2772. “Ngài không phải là cha hay
là mẹ của trẫm, nhưng họ như thế nào th́ ngài như thế ấy; ngài
là người hữu ích và có ḷng trắc ẩn, có sự ước muốn về mục đích
tối thượng. Hôm nay, trẫm đây sẽ làm theo lời nói của ngài.
|
28. Chẳng song thân dạy khéo như
ngài
Ngài thật nhân tử, thiện hảo thay,
Chân lư ngài t́m ra tối thượng
Trẫm vâng lời dạy bảo hôm nay |
|
2773. Dadāmi te gāmavarāni pañca
dāsīsataṃ satta gavaṃ satāni,
ājaññayutte ca rathe dasā ime
ācariyo hosi mamatthakāmo.
|
2773. Trẫm ban cho ngài ân huệ là
năm ngôi làng, một trăm nữ tỳ, bảy trăm con ḅ cái, và mười cỗ
xe kéo này đă được thắng vào những con ngựa thuần chủng. Ngài
hăy là thầy dạy học có ḷng mong mỏi đến sự lợi ích của trẫm.” |
29. Năm đệ nhất thôn của trẫm ban
Bảy trăm ḅ, thị nữ trăm nàng
Mười xe tuấn mă thuần cao quư.
V́ lợi ích ngài đă dạy răn |
|
2774. Taveva dāsī satamatthu rāja
gāmā ca gāvo ca taveva hontu,
ājaññayuttā ca rathā taveva
sakkohamasmi tidasānamindo.
|
2774. “Tâu bệ hạ, một trăm nữ tỳ
là thuộc về chính bệ hạ, các ngôi làng và bầy ḅ là thuộc về
chính bệ hạ, và các cỗ xe kéo đă được thắng vào những con ngựa
thuần chủng là thuộc về chính bệ hạ. Ta là Thiên Chủ Sakka, chúa
của chư Thiên cơi Tam Thập. |
30. Một trăm thị nữ vẫn nhà ngài
Làng mạc, đàn ḅ, cũng mặc ai
Chẳng ngựa xe, đ̣i thuần chủng quư
Sak-ka Thiên chủ chính danh này |
|
2775. Maṃsodanaṃ sappipāyañca
bhuñja
khādassu ca tvaṃ madhumāsapūve,
evaṃ tuvaṃ dhammarato janinda
anindito saggamupehi ṭhānanti.
|
2775. Bệ hạ hăy thọ dụng cơm thịt
và cơm sữa. Bệ hạ hăy nhai bánh đậu và mật ong. Tâu vị chúa của
loài người, được vui thích với thiện pháp như vậy, bệ hạ là
người không bị chê trách, và sẽ đạt đến vị thế cơi trời.” |
31. Hưởng đủ bơ tươi, thịt ướp,
cơm
Vui ḷng ăn bánh mật men thơm
Thích nhiều chân lư ta vừa dạy
Trong sạch cơi Thiên đến đúng đường.
Câu chuyện
512 |
|
Kumbhajātakaṃ.
*** |
Bổn Sanh Cái B́nh Rượu. [512]
*** |
|
▪ 3.
JAYADDISAJĀTAKAṂ
|
▪ 3. BỔN
SANH VUA JAYADDISA
|
513. Chuyện vương
tử chiến thắng (Tiền thân Jayaddisa) |
|
2776. Cirassaṃ vata me udapādi
ajja
bhakkho mahā sattamibhattakāle,
kutosi ko vāsi tadiṅgha brūhi
ācikkha jātiṃ vidito yathāsi.
|
2776. “Quả thật đă lâu lắm mới có
một bữa ăn thịnh soạn sanh lên cho ta hôm nay, vào bữa ăn lần
thứ bảy. Ngươi từ đâu đến? Hoặc ngươi là ai? Nào, hăy nói ra
điều ấy. Hăy khai báo ḍng dơi như ngươi đă được biết.” |
1. Ḱa! Bảy ngày qua chịu đói
ḷng
Mồi ngon bỗng xuất hiện sau cùng
Phải chăng danh tiếng ngươi lừng lẫy?
Ta muốn biết tên họ, giống ḍng. |
|
Trang 102:
|
Trang 103:
|
|
2777. Pañcālarājā migavaṃ
paviṭṭho
jayaddiso nāma yadissuto te,
carāmi kacchāni vanāni cāhaṃ
pasadimaṃ khāda mamajja muñca.
|
2777. “Trẫm là vua xứ Pañcāla tên
Jayaddisa đang đi săn thú, nếu ngươi đă được nghe tin. Trẫm lang
thang ở các đầm lầy và các khu rừng. Hôm nay, ngươi hăy ăn thịt
con hươu này và hăy thả trẫm ra.” |
2. Nếu ngươi biết Chiến Thắng là
vua
Của xứ Păn-ca, quốc độ ta!
Săn bắn trong rừng ta lạc bước,
Xin dùng hươu nọ thả ta ra. |
|
2778. Seneva tvaṃ paṇasi
sassamāne
mameso bhakkho pasado yaṃ vadesi,
taṃ khādiyāna pasadaṃ jighaññaṃ
khādissaṃ pacchā na vilāpakālo.
|
2778. “Trong khi bị hăm hại, ngài
đánh đổi mạng sống bằng chính vật sở hữu của ḿnh. Con hươu này
sẽ là thức ăn của ta là điều ngài nói. Ta sẽ ăn ngài là vật nên
ăn (trước), c̣n con hươu kém ngon hơn ta sẽ ăn sau. Giờ không
phải là lúc nói nhảm.” |
3. Muốn cứu mạng, ngài đă hiến
dâng
Mồi kia ngon thật đấy Quân vương
Ta xơi ngài trước và không bỏ
Thú nếm thịt hươu: chớ nói quàng! |
|
2779. Na catthi mokkho mama
vikkayena
gantvāna pacchā gamanāya paṇhe,
taṃ saṅgaraṃ brāhmaṇassappadāya
saccānurakkhī punarāvajissaṃ.
|
2779. “Không có việc trốn tránh
đối với sự đánh đổi của trẫm. Trẫm ra đi rồi sau đó trở lại vào
sáng sớm ngày mai. Là người bảo vệ sự chân thật, sau khi bàn
giao cho vị Bà-la-môn điều đă được thỏa thuận ấy, trẫm sẽ quay
trở lại.” |
4. V́ ta chẳng thuộc mạng an toàn
Được thả như ta khẩn thiết van
Th́ hăy cho ta tṛn hứa cũ
Ta đà giao ước Bà-la-môn
Sáng mai cứu được lời danh dự
Rồi sẽ trở về với quỷ nhân. |
|
2780. Kiṃ kammajātaṃ anutappatī
taṃ
pattaṃ samīpaṃ maraṇassa rāja,
ācikkha me taṃ api sakkuṇemu
anujānituṃ āgamanāya paṇhe.
|
2780. “Này đức vua, việc ǵ khiến
ngài lo lắng, khi ngài đă đến bên cạnh cái chết? Hăy nói việc ấy
với ta, thậm chí ta có thể cho phép ngài quay lại vào sáng sớm
ngày mai.” |
5. Đến gần chỗ chết chẳng an ḷng
Lo lắng việc ǵ hỡi Đại vương
Nói thật cho ta rồi có thể
Ta bằng ḷng thả một ngày ṛng. |
|
2781. Katā mayā brāhmaṇassa
dhanāsā
taṃ saṅgaraṃ paṭimokkhaṃ na muttaṃ,
taṃ saṅgaraṃ brāhmaṇassappadāya
saccānurakkhī punarāvajissaṃ.
|
2781. “Sự mong mỏi tài sản của vị
Bà-la-môn đă được thực hiện bởi trẫm, và điều đă được thỏa thuận
ấy c̣n bị vướng lại, chưa được tháo gỡ. Là người bảo vệ sự chân
thật, trẫm sẽ bàn giao cho vị Bà-la-môn điều đă được thỏa thuận
ấy, rồi sẽ quay trở lại.” |
6. Ta hứa lời cùng một đạo nhân
Nợ kia chưa trả, hứa cho xong
Mong tṛn nguyện ước, thanh danh cứ
Ta sẽ gặp ngài buổi rạng đông. |
|
2782. Yaṃ te katā brāhmaṇassa
dhanāsā
taṃ saṅgaraṃ paṭimokkhaṃ na muttaṃ,
taṃ saṅgaraṃ brāhmaṇassappadāya
saccānurakkhī punarāvajassu.
|
2782. “Về sự mong mỏi tài sản của
vị Bà-la-môn đă được thực hiện bởi ngài, và điều đă được thỏa
thuận ấy c̣n bị vướng lại, chưa được tháo gỡ. Là người bảo vệ sự
chân thật, ngài hăy bàn giao cho vị Bà-la-môn điều đă được thỏa
thuận ấy, rồi hăy quay trở lại.” |
7. Ngài đă hứa cùng một đạo nhân
Nợ kia chưa trả, hứa chưa xong
Mong tṛn nguyện ước thanh danh cứu
Rồi trở về đây buổi rạng đông. |
|
2783. Mutto ca so purisādassa
hatthā
gantvā sakaṃ mandiraṃ kāmakāmī,
taṃ saṅgaraṃ brāhmaṇassappadāya
āmantayī putta malīnasattaṃ.
|
2783. Và vị vua ấy đă được thoát
khỏi ṿng tay của kẻ ăn thịt người. Vị có sự đeo đuổi ước muốn,
sau khi di đến cung điện của ḿnh, đă bàn giao cho vị Bà-la-môn
điều đă được thỏa thuận ấy, rồi đă nói với hoàng tử Alīnasatta
rằng: |
8. Thoát ác quỷ kia, lại trở về
Nhà yêu, mộng nước đẹp tràn trề
Với La-môn bạn, không sai hứa
Song dặn A-lin quư tử kia. |
|
2784. Ajjeva rajjaṃ abhisecayassu
dhammañca raṭṭhesu janesu cāpi,
adhammakāro ca te māhu raṭṭhe
gacchāmahaṃ porisādassa ñatte.
|
2784. “Nội trong ngày hôm nay,
con hăy làm lễ đăng quang vương quyền và luật pháp ở trong các
xứ sở và luôn cả ở nơi các người dân. Và con chớ có các hành
động bất công trong xứ sở, trẫm sẽ đi đến nơi ở của kẻ ăn thịt
người.”
|
9. Vương nhi nay nhận chức Quân
vương
Cai trị bạn thù thật chính chân
Đừng để bất công làm hại nước
Cha đành nộp mạng chốn hung thần. |
|
Trang 104:
|
Trang 105:
|
|
2785. Kiṃ kamma kubbaṃ tava deva
pāde
nārādhayiṃ tadicchāmi sotuṃ,
yamajja rajjamhi udassaye tvaṃ
rajjampi na iccheyyaṃ tayā vinā ahaṃ.
|
2785. “Tâu phụ vương, con đă
không làm cho phụ vương hài ḷng trong khi làm công việc ǵ dưới
quyền của phụ vương? Để rồi hôm nay phụ vương sẽ đưa con lên làm
vua, con mong được nghe về điều ấy. Con không mong muốn ngay cả
vương quyền, nhưng thiếu vắng phụ vương.” |
10. Hoàng nhi mong biết rơ nguyên
nhân
Khiến trẻ mất ân lộc phụ hoàng
Cha phải đưa con lên kế vị
Thiếu cha, con chẳng thiết ngai vàng. |
|
2786. Na kammunā vā vacasāva tāta
aparādhitohaṃ tuviyaṃ sarāmi,
sandhiñca katvā purisādakena
saccānurakkhī punahaṃ gamissaṃ.
|
2786. “Này con thương, vào lúc
này trẫm không nhớ đến lỗi lầm ǵ do hành động hay do chính lời
nói của con. Là người bảo vệ sự chân thật, sau khi thực hiện
điều cam kết với kẻ ăn thịt người, trẫm sẽ quay trở lại.” |
11. Này con, cha chẳng thể t́m ra
Một ác ngôn hay một nghiệp tà
Song nợ thanh danh, giờ trả trọn
C̣n lời nguyền giữ với yêu ma. |
|
2787. Ahaṃ gamissāmi idheva hohi
natthi tato jīvato vippamokkho,
sace tuvaṃ gacchasiyeva rāja
ahmpi gacchāmi ubho na homa.
|
2787. “Con sẽ đi, phụ vương hăy ở
lại tại nơi này. Không có sự phóng thích đối với người c̣n sống
từ nơi kẻ ấy. Tâu phụ vương, nếu phụ vương đi, con cũng đi nữa.
Hăy để cả hai không c̣n tồn tại.” |
12. Cha ở lại, đây con sẽ đi
Trở về an ổn, có ǵ mong
Nếu cha đi nữa, con theo gót
Phụ tử cùng nhau chẳng sống chi! |
|
2788. Addhā hi tāta satānesa
dhammo
maraṇā ca me dukkhataraṃ tadassa,
kammāsapādo taṃ yadā pacitvā
pasayha khāde bhidā rukkhasūle.
|
2788. “Này con thương, quả đúng
thế, điều này là bản thể của các hiền nhân. Việc ấy đối với trẫm
c̣n khổ sở hơn là cái chết, là vào lúc gă Kammāsapāda xuyên
thủng con ở nơi cọc gỗ, nướng chín, rồi dùng bạo lực nhai ngấu
nghiến.” |
13. Vương tử , con theo đúng đạo
trời
Song cha mất hết thú yêu đời
Nếu yêu tinh nọ dùng xiên gỗ
Nướng thịt con ăn trọn cả đời. |
|
2789. Pāṇena te pāṇamahaṃ
nimissaṃ
mā tvaṃ agā porisādassa ñatte,
etañca te pāṇamahaṃ nimissaṃ
tasmā mataṃ jīvitassa varemi.
|
2789. “Con có thể trao đổi mạng
sống của phụ vương bằng mạng sống (của con). Phụ vương chớ đi
đến nơi ở của kẻ ăn thịt người. Và con có thể trao đổi mạng sống
này cho phụ vương, v́ điều ấy, con chọn cái chết cho sự sống c̣n
(của phụ vương).” |
14. Nếu cha thoát được vuốt yêu
tinh
V́ phụ vương, con nguyện bỏ ḿnh
Hơn nữa con tràn trề hỷ lạc
Được đem đời hiến sinh thành. |
|
2790. Tato have dhitimā rājaputto
vandittha mātucca pitucca pāde,
dukhinissa mātā nipatī pathabyā
pitassa paggayha bhujāni kandati.
|
2790. Thật vậy, sau đó, vị hoàng
tử dũng cảm đă đảnh lễ hai bàn chân của mẫu hậu và phụ vương.
Người mẹ, khổ đau, đă ngă quỵ xuống đất, c̣n người cha đă đưa
hai cánh tay lên, khóc lóc. |
15. Thái tử anh hùng, xin vĩnh
biệt
Cúi đầu ngài đảnh lễ song thân.
16. Phụ vương khóc lớn, giơ tay
cản,
Hiền mẫu buồn thương, ngă lịm dần. |
|
2791. Taṃ gacchantaṃ tāva pitā
viditvā
parammukho vandati pañjalīko,
somo ca rājā varuṇo ca rājā
pajāpatī candimā sūriyo ca,
etehi gutto purisādakamhā
anuññāto sotthi paccehi tāta.
|
2791. Cho đến lúc biết được người
con ấy đang bước đi, người cha, với mặt quay hướng khác, chắp
tay lên, đảnh lễ các vị: Vua Soma, Vua Varuṇa, Thần Pajāpatī,
Mặt Trăng, và Mặt Trời. “Này con thương, được các vị này bảo vệ,
được cho phép từ kẻ ăn thịt người, con hăy trở về b́nh yên.”
|
17. Khi h́nh thái tử khuất mờ
dần
Trước mắt thảm sầu của phụ thân
Cầu nguyện chư thần , tay chắp khấn
Va-rù-na với So-ma vương
Phạm thiên, nhật nguyệt, chư thần nữa,
Bảo vệ hoàng nhi được vạn an
Nhờ các thần linh này, thái tử
Mong con thoát ác quỷ kinh hoàng. |
|
2792. Yaṃ daṇḍakāraññagatassa
mātā
romassakā sotthānaṃ suguttā
tante ahaṃ sotthānaṃ karomi
etena saccena sarantu devā
anuññāto sotthi paccehi putta.
|
2792. “(Có câu chuyện) một người
mẹ khéo được bảo vệ đă tạo ra sự b́nh yên cho Roma (con ḿnh),
là kẻ đă đi vào khu rừng Daṇḍaka; vậy hăy để mẹ tạo ra sự b́nh
yên ấy cho con; do sự chân thật này, mong rằng chư Thiên hăy ghi
nhớ. Này con trai, được cho phép, con hăy trở về b́nh yên.” |
18. Như mẹ Ra-ma đẹp dáng
người
Cứu con nàng đă bặt tăm hơi
Khi vào rừng rậm Dam-da ấy
Con trẻ ta mong giải thoát thôi
Nhờ khấn lời chân thành, ước nguyện
Chư thần cho trở lại an vui. |
|
Trang 106:
|
Trang 107:
|
|
2793. Āvī raho vāpi manopadosaṃ
nāhaṃ sare jātumalīnasatte,
etena saccena sarantu devā
anuññāto sotthi paccehi bhāta.
|
2793. “Tôi nhớ một cách chắc chắn
là tôi đă không có ác ư nào đối với anh trai Alīnasatta (của
tôi), dầu là lộ liễu hay kín đáo; do sự chân thật này, mong rằng
chư Thiên hăy ghi nhớ. Này anh trai, được cho phép, anh hăy trở
về b́nh yên.” |
19. Hoàng huynh chẳng có lỗi
lầm ǵ
Dù lộ rơ ràng hoặc giấu che
Chứng thực lời này, con nguyện ước
Chư thần mang thái tử quay về. |
|
2794. Yasmā ca me anadhimanosi
sāmi
nacāpi me manasā appiyosi,
etena saccena sarantu devā
anuññāto sotthi paccehi sāmi.
|
2794. “Thưa tướng công, bởi v́
chàng không có ư phụ bạc thiếp, và thiếp cũng không có ư nghĩ
không yêu thương chàng; do sự chân thật này, mong rằng chư Thiên
hăy ghi nhớ. Thưa tướng công, được cho phép, tướng công hăy trở
về b́nh yên.” |
20 Với thiếp, chàng không phạm
lỗi lầm
Ḷng đầy yêu dấu, hỡi lang quân
Chứng thực lời này xin ước nguyện
Thần thánh cho chàng trọn tấm thân. |
|
2795. Brahā ujū cārumukho kutosi
na maṃ pajānāsi vane vasantaṃ,
luddañca maṃ ñatvā purisādakoti
ko sotthimājānamidhāvajeyya.
|
2795. “Ngươi cao to, ngay thẳng,
có khuôn mặt khôi ngô, ngươi từ nơi nào đến? Ngươi không biết
lăo đang cư ngụ ở khu rừng hay sao? Sau khi biết được lăo là kẻ
hung bạo có biệt hiệu ‘kẻ ăn thịt người,’ người nào c̣n quan tâm
đến sự b́nh yên, sao lại có thể đi đến nơi này?” |
21. Chàng từ đâu đến, hỡi
hoàng nam
Có biết rừng này của quỷ chăng?
Ai đến thật xem thường tính mạng
Nơi loài quỷ dữ chiếm làm hang. |
|
2796. Jānāmi ludda purisādako
tvaṃ
na taṃ na jānāmi vane vasantaṃ,
ahañca puttosmi jayaddisassa
mamajja khāda pituno pamokkhā.
|
2796. “Này kẻ hung bạo, ta biết
ngươi là kẻ ăn thịt người. Không phải ta không biết ngươi đang
cư ngụ ở khu rừng. Và ta là con trai của vua Jayaddisa. V́ việc
giải thoát cho người cha, nên hôm nay, ngươi hăy ăn thịt ta.” |
22. Ta biết rơ ngươi, quỷ bạo
tàn
Chốn này ngươi ở giữa rừng hoang
Ta là đích tử Ja-ya đế,
Ăn thịt rồi , thả phụ vương. |
|
2797. Jānāmi puttoti jayaddisassa
tathāhi vo mukhavaṇṇo ubhinnaṃ,
sudukkaraññeva kataṃ tavedaṃ
yo mattumicche pituno pamokkhā.
|
2797. “Lăo biết là ‘con trai’ của
Jayaddisa, bởi v́ khuôn mặt và vóc dáng của cả hai người các
ngươi là giống nhau. Việc đă làm này của ngươi quả là việc làm
vô cùng khó khăn, là một người có thể chấp nhận cái chết v́ việc
giải thoát cho người cha.” |
23. Ta biết con trai chúa
Ja-ya
Dáng chàng để lộ việc kia mà
Thật là gian khổ cho chàng quá
Phải chết v́ thay mạng của cha. |
|
2798. Na dukkaraṃ kiñcimahettha
maññe
yo mattumicche pituno pamokkhā,
mātucca hetu paralokagamyā
sukhena saggena ca sampayutto.
|
2798. “Ta nghĩ rằng bất cứ việc
ǵ ở đây không phải là việc khó làm, là một người có thể chấp
nhận cái chết v́ việc giải thoát cho người cha và v́ nguyên nhân
của người mẹ, (người ấy) sau khi đi đến thế giới khác, sẽ đạt
được hạnh phúc và cơi Trời. |
24. Nghĩ rằng chẳng phải việc
anh hùng
Được chết v́ ân phước phụ thân
Và mẹ quư yêu khi bỏ mạng
Đời đời hưởng cực lạc thiên cung. |
|
2799. Ahañca kho attano
pāpakiriyaṃ
āvī raho cāpi sare na jātu,
saṅkhātajāti maraṇohamasmi
yatheva me idha tathā parattha.
|
2799. Và thật vậy, ta nhớ một
cách chắc chắn rằng bản thân ta không có bất cứ hành động xấu xa
nào, dầu là lộ liễu hay kín đáo. Ta bị tạo tác bởi sanh và tử. Ở
kiếp này, của ta là như thế nào th́ ở kiếp sau sẽ là như vậy.
|
25. Nhớ ta không phạm lỗi lầm
ǵ
Dù lộ ra ngoài hoặc giấu che
Sinh tử ta đều cân nhắc kỹ
Dù đây, hay các cơi sau về. |
|
2800. Khādajja maṃdāni
mahānubhāva
karassu kiccāni imaṃ sarīraṃ,
rukkhassa vāte papatāmi aggā
chādayamāno mayhaṃ tvamadesi maṃsaṃ.
|
2800. Này lăo có đại năng lực,
lăo hăy ăn thịt ta ngày hôm nay, vào lúc này. Lăo hăy làm các
việc cần phải làm với thân xác này. Hay là ta rơi xuống từ chóp
đỉnh của thân cây cho lăo. Trong khi hứng thú, lăo hăy ăn phần
thịt của ta.”
|
26. Ăn thịt ta đây, hỡi quỷ
nhân
Phải làm công việc ấy cho xong
Ta buông ḿnh xuống trên cao chết
Người cứ ăn ta, thỏa nguyện ḷng. |
|
Trang 108:
|
Trang 109:
|
|
2801. Idañca te ruccati rājaputta
cajāsi pāṇaṃ pituno pamokkhā,
tasmātiha tvaṃ taramānarūpo
sambhañja kaṭṭhāni jalehi aggiṃ.
|
2801. “Này hoàng tử, và việc này
được ngươi ưa thích. Ngươi từ bỏ mạng sống v́ việc giải thoát
cho người cha. V́ thế, ở đây ngươi có vẻ gấp gáp. Ngươi hăy bẻ
găy các nhánh củi rồi đốt lên ngọn lửa.” |
17. Nếu chàng tự nguyện muốn liều
thân
Thái tử, đem đời cứu phụ vương
Ta bảo chàng rời ngay bước vội
T́m gom củi đốt lửa than hừng. |
|
2802. Tato have dhitimā rājaputto
dārū samāhatva mahantamaggiṃ,
ādīpayitvā paṭivedayittha
ādīpitodāni mahāyamaggi.
|
2802. Thật vậy, sau đó, vị hoàng
tử dũng cảm đă gom lại các khúc gỗ và đốt cháy ngọn lửa lớn, rồi
đă thông báo rằng: ‘Bây giờ, ngọn lửa lớn này đă được đốt cháy.’
|
27. Hoàng nam anh dũng nhặt cây
rừng
Và chất cao lên một cái giàn
Và thét vừa châm: "Bày tiệc sẵn!
Hăy xem, ta nhóm lửa cho hừng!" |
|
2803. Khādajja maṃ dāni
pasayhakārī
kiṃ maṃ muhuṃ pekkhasi haṭṭhalomo,
tathā tathā tuyhamahaṃ karomi
yathā yathā maṃ chādayamāno adesi.
|
2803. “Lăo hăy ăn thịt ta ngày
hôm nay, vào lúc này, bằng hành động bạo lực. Việc ǵ mà lăo lén
nh́n ta, (sửng sốt) có lông dựng đứng? Ta làm cho lăo thế này
thế nọ để cho lăo hứng thú ăn thịt ta.” |
28. Đừng đứng nh́n ta , dáng sửng
sờ
Ta cầu ngươi giết bắt ăn ta
Khi đang c̣n sống ta trù tính
Muốn để ngươi ăn thịt đúng giờ. |
|
2804. Ko tādisaṃ arahati
khāditāye
dhamme ṭhitaṃ saccavādiṃ vadaññuṃ,
muddhāpi tassa viphaleyya sattadhā
yo tādisaṃ saccavādiṃ adeyya.
|
2804. “Ai xứng đáng để ăn thịt
người vững vàng về đạo đức, có lời nói chân thật, rộng lượng như
thế ấy? Kẻ nào ăn thịt người có lời nói chân thật như thế ấy,
thậm chí cái đầu của kẻ ấy cũng có thể vỡ tan thành bảy mảnh.”
|
29. Một hiền nhân, chánh trực,
công bằng
Chắc chẳng bao giờ phải bị ăn
Hoặc kẻ nào ăn người, ắt hẳn
Đầu kia tan nát bảy phần chăng. |
|
2805. Idaṃ hi so brāhmaṇaṃ
maññamāno
saso avāsesi sake sarīre,
teneva so candimā devaputto
sasatthuto kāmaduhajja yakkha.
|
2805. “Trong khi nghĩ rằng:
‘Người này là Bà-la-môn,’ con thỏ ấy đă quyết định bố thí thân
thể của ḿnh; chính v́ thế, vị Thiên tử Mặt Trăng ấy, được ngợi
khen về (h́nh bóng) con thỏ, ngày nay là vị Dạ-xoa có nguồn ban
phát các điều mong muốn.”
|
30. Đế Thiên giả dạng một La-môn
Thỏ lấy thịt ḿnh để cúng dâng
Từ đó mặt trăng in dáng thỏ
Ta chào nguyệt diện: "Dạ xoa thần!" |
|
2806. Cando yathā rāhumukhā
pamutto
virocate paṇṇaraseva bhānumā,
evaṃ tuvaṃ porisādā pamutto
viroca kampilla mahānubhāva,
āmodayaṃ pitaraṃ mātarañca
sabbo ca te nandatu ñātipakkho.
|
2806. “Giống như mặt trăng được
thoát khỏi miệng của thần Rāhu (nguyệt thực) chiếu sáng vào ngày
rằm, tựa như mặt trời, tương tự như vậy, này vị hoàng tử có đại
năng lực, được thoát khỏi kẻ ăn thịt người, ngài hăy chiếu sáng
xứ sở Kampilla. Trong lúc làm cha và mẹ hoan hỷ, ngài hăy để cho
toàn bộ nhóm thân quyến của ngài vui mừng.” |
31. Như trăng thoát vuốt La thần
Chiếu giữa đêm rằm tỏa ánh quang
Ngài, chúa Kam-pi anh dũng đă
Thoát tay quỷ dữ, sáng huy hoàng
Bạn đang sầu, bỗng tung hô dậy
Trước mặt ngài xuất hiện vẻ vang
Phụ mẫu thân yêu , ngài cống hiến
Bao niềm hạnh phúc ngập hân hoan. |
|
2807. Tato have dhitimā rājaputto
katañjalī pariyagā porisādaṃ,
anuññāto sotthi sukhī arogo
paccāgamā kampillamalīnasatto.
|
2807. Thật vậy, sau đó, vị hoàng
tử dũng cảm đă chắp tay lại, đi ṿng quanh kẻ ăn thịt người.
Được cho phép, hoàng tử Alīnasatta đă trở về lại thành Kampilla
b́nh yên, hạnh phúc, khỏe mạnh. |
32. A-lin thái tử anh hùng
Nghiêng ḿnh kính lễ quỷ nhân hung tàn
Thêm lần thoát nạn lên đàng
Về Kam-pi xứ, an toàn tấm thân. |
|
2808. Taṃ negamā jānapadā ca
sabbe
hatthārohā rathikā pattikā ca,
namassamānā pañjalikā upāgamuṃ
namatthu te dukkarakārakosī ”ti.
|
2808. Tất cả các thị dân và dân
chúng cỡi ngựa, đi xe, và đi bộ, đă đến gần vị hoàng tử ấy, chắp
tay, bày tỏ sự tôn kính: ‘Kính lễ đến ngài. Ngài là người làm
công việc khó khăn.’”
|
33. Từ thành thị đến thôn trang
Nhân dân lũ lượt lên đàng chen chân
Ḱa! Đồng nô nức hô vang
Uy danh thái tử can tràng hùng anh
Tượng, xa ngất nghểu đăng tŕnh
Đến ngài đảnh lễ, cung nghênh khải hoàn.
Câu chuyện
513 |
|
Jayaddissajātakaṃ.
*** |
Bổn Sanh Vua
Jayaddisa. [513]
*** |
|
Trang 110:
|
Trang 111:
|
|
▪ 4.
CHADDANTAJĀTAKAṂ
|
▪ 4. BỔN
SANH VOI CHÚA CHADDANTA
|
514. Chuyện tượng
vương ở hồ Chaddanta
(Tiền thân Chaddanta) |
|
2809. Kinnu socasi anuccaṅgi
paṇḍūsi varavaṇṇini,
milāyasi visālakkhi mālāva parimadditā. |
2808. “Này cô nàng có cơ thể tựa
như vàng, v́ sao nàng sầu muộn? Này cô nàng có sắc đẹp cao quư,
v́ sao nàng có vẻ xanh xao? Này cô nàng có đôi mắt to, v́ sao
nàng bị héo hon, tựa như lẵng hoa bị vày ṿ?” |
1. Ái hậu mắt nhung, đẹp tuyệt
trần,
Nàng xanh xao quá, dáng đau buồn,
Như tràng hoa dưới chân giày xéo,
V́ cớ sao nàng héo úa dần? |
|
2810. Dohaḷo me mahārāja
supinantenupaccagā,
na so sulabharūpova yādiso mama dohaḷo.
|
2809. “Tâu đại vương, thiếp có sự
khao khát. Nó đến trong giấc mơ. Sự khao khát như thế ấy của
thiếp dường như có vẻ không dễ dàng đạt được.” |
2. Dường như chuyện thấy ở trong
mơ,
Thần thiếp hằng mong mỏi thiết tha,
Mộng ước hăo huyền e khó đạt,
Cho nên ḷng thiếp măi buồn lo. |
|
2811. Ye keci mānusā kāmā idha
lokasmiṃ nandane,
sabbe te pacurā mayhaṃ ahante dammi dohaḷaṃ. |
2810. “Bất kỳ những dục vọng nào
thuộc về nhân loại ở thế gian này, tất cả các điều ấy đều dồi
dào đối với trẫm. Trẫm sẽ ban cho nàng điều khao khát ấy.” |
3. Những lạc thú nào ở thế gian,
Con người khao khát tận tâm can,
Điều ǵ mong trẫm đem ban tặng,
Hăy nói trẫm nghe, ước nguyện nàng. |
|
2812. Luddā deva samāyantu ye
keci vijite tava,
etesaṃ ahamakkhissaṃ yādiso mama dohaḷo. |
2811. “Tâu bệ hạ, hăy cho tập hợp
các thợ săn lại, bất kỳ những ai đang ở trong lănh địa của bệ
hạ. Thiếp sẽ nói cho những người ấy điều khao khát của thiếp là
như thế nào.” |
4. Truyền đám thợ săn phụng mệnh
ngay,
Những người cư ngụ nước non này,
Điều thần thiếp muốn nhờ tay họ,
Khi diện kiến, xin sẽ giải bày. |
|
2813. Ime te luddakā devi
katahatthā visāradā,
vanaññū ca migaññū ca mamatthe cattajīvitā. |
2813. “Này ái hậu, những người
thợ săn này là thuộc về nàng. Họ đă khéo được rèn luyện, tự tin,
hiểu biết về rừng và các loài thú, có mạng sống đă được buông bỏ
cho mục đích của trẫm.” |
5. Nh́n đám thợ săn dũng cảm đây!
Nghề săn mồi lăo luyện cao tay,
Với tài chém giết bầy hoang thú,
V́ trẫm, sẵn sàng bỏ mạng ngay. |
|
2814. Luddaputtā nisāmetha
yāvantettha samāgatā,
chabbisāṇaṃ gajaṃ setaṃ addasaṃ supine ahaṃ,
tassa dantehi me attho alābhe natthi jīvitaṃ. |
2814. “Hỡi các thợ săn trai trẻ
đă đến tụ hội ở nơi này, các người hăy chú tâm lắng nghe. Bổn
cung đă nh́n thấy con voi sáu ngà màu trắng ở trong giấc mơ. Bổn
cung có nhu cầu với những cái ngà của nó; nếu không đạt được th́
không sống nổi.” |
6. Lạp hộ can trường tụ tập đây,
Những lời ta nói, lắng nghe vầy:
Dường như ta thấy trong cơn mộng
Bạch tượng sáu ngà tuyệt mỹ thay,
Ta ước bộ ngà, ḷng khắc khoải,
Chẳng c̣n ǵ đáng giá đời này! |
|
2815. Na no pitūnaṃ na
pitāmahānaṃ
diṭṭho suto kuñjaro chabbisāṇo,
yamaddasā supine rājaputti
akkhāhi no yādiso hatthināgo. |
2815. “Tâu lệnh bà, các người
cha, các người ông của chúng tôi c̣n chưa được thấy, chưa được
nghe về con voi có sáu ngà. Xin lệnh bà hăy nói rơ cho chúng tôi
về con long tượng mà lệnh bà đă nh́n thấy trong giấc mơ là như
thế nào. |
7. Các bậc tổ tiên thuở đă qua,
Sáu ngà voi trắng, thấy bao giờ?
Loài ǵ thú ấy, xin cho biết,
Đă hiện trong mơ của lệnh bà. |
|
2816. Disā catasso vidisā catasso
uddhaṃ adho dasadisā imāyo,
katamaṃ disaṃ tiṭṭhati nāgarājā
yamaddasā supine chabbisāṇaṃ. |
2816. Bốn hướng chánh, bốn hướng
phụ, hướng trên, hướng dưới, trong mười hướng này, con long
tượng mà lệnh bà đă nh́n thấy trong giấc mơ đứng ở hướng nào?”
|
8. Bốn phương Nam, Bắc, với Tây,
Đông,
Chính giữa bốn miền cũng họp chung,
Thiên đỉnh thêm vào thiên đế nữa,
Nơi nào trong thập hướng không trung,
Tượng vương này ở, xin cho biết,
Xuất hiện trong mơ của chánh cung. |
|
2817. Ito ujuṃ uttariyaṃ disāyaṃ
atikkamma so satta girī brahante,
suvaṇṇapasso nāma girī uḷāro
supupphito kimpurisānuciṇṇo. |
2817. “Từ nơi này, thẳng lên
hướng bắc, sau khi vượt qua bảy ngọn núi khổng lồ; (trong số đó)
ngọn núi nổi bậc ấy có tên là Suvaṇṇapassa (Sườn Núi Vàng), được
khéo nở rộ hoa, được lai văng bởi loài nhân điểu. |
9. Hướng Bắc bên kia dăy Thất
San,
Cuối cùng ta đến Vách non Vàng,
Đỉnh cao thường có loài ma quỷ,
Hoa tự chân lên ngọn rỡ ràng. |
|
2818. Āruyha selaṃ bhavanaṃ
kinnarānaṃ
olokaya pabbatapādamūlaṃ,
atha dakkhasī meghasamānavaṇṇaṃ
nigrodharājaṃ aṭṭhasahassapādaṃ.
|
2818. Sau khi trèo lên tảng núi
đá là chỗ ngụ của các nhân điểu, ngươi hăy nh́n xuống khu vực ở
chân núi, và ngươi sẽ nh́n thấy một cây đa chúa, với gốc có tám
ngàn cành, có h́nh dáng giống như đám mây.
|
10. Dưới núi ma kia lại thấy ngay
Xanh um cả khối, dáng như mây,
Một cây đa chúa, từ nhiều gốc
Sinh tám ngàn cành, tráng kiện thay. |
|
Trang 112:
|
Trang 113:
|
|
2819. Tatthacchati kuñjaro
chabbisāṇo
sabbaseto duppasaho parehi,
rakkhanti naṃ aṭṭhasahassanāgā
īsādantā vātajavappahārino.
|
2819. Con voi sáu ngà trú ẩn tại
nơi ấy. Nó có toàn thân màu trắng, khó bị khuất phục bởi những
con voi khác. Tám ngàn con voi bảo vệ nó. Chúng có ngà như cán
cày, có cú đánh với tốc độ của gió. |
11. Trú đây, Bạch tượng mạnh vô
song
Có sáu ngà, quân đội tám ngàn,
Ngà tựa càng xe, tài thiện chiến,
Hộ pḥng, giao đấu, tốc như phong! |
|
2820. Tiṭṭhanti te tumulaṃ
passasantā
kuppanti vātassapi eritassa,
manussabhūtaṃ pana tattha disvā
bhasmaṃ kareyyuṃ nāssa rajopi tassa.
|
2820. Chúng đứng, thở ra một cách
ồn ào. Chúng giận dữ, thậm chí đối với làn gió bị xao động. Hơn
nữa, sau khi nh́n thấy bóng dáng con người ở nơi ấy, chúng có
thể làm thành tro, thậm chí hạt bụi của con người cũng không
được.” |
12. Thở ph́, Voi đứng, mắt trừng
trừng,
Hơi gió nhẹ đưa cũng nổi sân,
Nếu chợt thấy người gây mảy gió,
Đùng đùng, chúng dẫm nát tan thân! |
|
2821. Bahū hi me rājakulamhi
santi
piḷandhanā jātarūpassa devi,
muttā maṇīveḷuriyāmayā ca
kiṃ kāhasi dantapiḷandhanena,
māretukāmā kuñjaraṃ chabbisāṇaṃ
udāhu ghātessasi luddaputte.
|
2821. “Tâu lệnh bà, có quá nhiều
các thứ này ở hoàng gia, các đồ trang sức thuộc về vàng, các
ngọc trai, các ngọc ma-ni, và các vật làm bằng ngọc bích. Với
ước muốn giết chết con voi sáu ngà, lệnh bà sẽ làm ǵ với đồ
trang sức bằng ngà voi? Hay là lệnh bà sẽ giết hại các thợ săn
trai trẻ?” |
13. Lam ngọc sáng ngời hoặc bảo
trân,
Biết bao trang sức với kim ngân,
Việc ǵ hoàng hậu cần ngà ấy,
Hay lệnh bà mong giết thợ săn? |
|
2822. Sā issitā dukkhitā casmi
ludda
uddhañca sussāmi anussarantī,
karohi me luddaka etamatthaṃ
dassāmi te gāmavarāni pañca.
|
2822. “Này thợ săn, bổn cung đây
bị ganh ghét, khổ đau. Và ta bị héo hon trong khi nhớ về quá
khứ. Này thợ săn, ngươi hăy làm việc ấy cho bổn cung. Bổn cung
sẽ ban cho ngươi ân huệ là năm ngôi làng.” |
14. Nung nấu ḷng ta rẫy giận
hờn,
Mỗi lần nhớ lại vết đau thương,
Cho ta, lạp hộ, điều ta ước,
Làng đẹp năm ngôi, sẽ hưởng ơn! |
|
2823. Katthacchati katthamupeti
ṭhānaṃ
vīthissa kā nahānagatassa hoti,
kathañhi so nahāyati nāgarājā
kathaṃ vijānemu gatiṃ gajassa.
|
2823. “Nó trú ở đâu? Nó đi đến
chỗ đứng ở đâu? Lối đi nào của nó khi đi tắm? Con voi chúa ấy
tắm như thế nào? Làm thế nào chúng thần có thể biết được đường
lối đi lại của con voi?” |
15. Voi ở đâu? T́m kiếm chốn nào?
Đường Voi đi tắm, hướng ra sao?
Nơi nào Vương tượng thường bơi lội?
Xin chỉ con đường để bắt mau. |
|
2824. Tattheva sā pokkharaṇī
adūre
rammā sutitthā ca mahodikā ca,
sampupphitā bhamaragaṇānuciṇṇā
ettha hi so nahāyati nāgarājā.
|
2824. “Ngay tại nơi đó, hồ sen
(Chaddanta) ấy ở không xa, đáng yêu, có bến tắm xinh đẹp, và có
nhiều nước, được nở rộ nhiều hoa, được lai văng bởi các bầy ong.
Chính nơi này, con voi chúa ấy tắm.
|
16. Không xa nơi tắm ấy là bao,
Thăm thẳm hồ sâu diễm lệ sao,
Hoa rộ nở, đầy ong bướm lượn,
Đấy nơi Vương tượng dễ t́m cầu. |
|
2825. Sīsaṃ nahāto
uppalamāladhārī
sabbaseto puṇḍarīkattacaṅgī,
āmodamāno gacchati santike taṃ
purakkhatvā mahesiṃ sabbabhaddaṃ.
|
2825. Khi đă tắm xong cái đầu,
con voi đội lên ṿng hoa sen xanh, toàn thân có màu trắng, với
các phần thân thể và làn da tựa như hoa sen trắng. Trong lúc vui
thích, con voi đi về nơi trú ngụ của ḿnh, dẫn đầu là voi chánh
hậu Sabbabhaddā. |
17. Tắm mát, cài sen, chiếc miện
hoa,
Hân hoan Voi rảo bước về nhà,
Như cành sen trắng cao ṿi vọi,
Theo gót bà hoàng yêu thiết tha! |
|
2826. Tattheva so uggahetvāna
vākyaṃ
ādāya tūṇiñca dhanuñca luddo,
vituriya so satta girī brahante
suvaṇṇapassaṃ nāma giriṃ uḷāraṃ.
|
2826. Ngay tại nơi ấy, sau khi đă
nắm vững lời dặn, gă thợ săn ấy đă cầm lấy túi tên và cây cung.
Gă ấy đă vượt qua bảy ngọn núi lớn khổng lồ, (trong số đó) ngọn
núi nổi bậc có tên là Suvaṇṇapassa (Sườn Núi Vàng).
|
18. Thợ săn nghe lệnh, vững can
tràng,
Nai nịt cung tên, tiến bước đàng,
Băng vượt bảy tầng non bát ngát,
Cuối cùng đến thượng đỉnh Kim San. |
|
Trang 114:
|
Trang 115:
|
|
2827. Āruyhaselaṃ bhavanaṃ
kinnarānaṃ
olokayī pabbatapādamūlaṃ,
tatthaddasā meghasamānavaṇṇaṃ
nigrodharājaṃ aṭṭhasahassapādaṃ.
|
2827. Sau khi trèo lên tảng núi
đá là chỗ ngụ của các nhân điểu, gă đă nh́n xuống khu vực ở chân
núi, và đă nh́n thấy tại nơi ấy một cây đa chúa, với gốc có tám
ngàn cành, có h́nh dáng giống như đám mây. |
19. Đến núi cao đầy quỷ ẩn thân,
Khối ǵ trước mắt, dáng như vân?
Chính cây đa chúa, thân to lớn
Đỡ tám ngàn cành tán trải giăng. |
|
2828. Tatthaddasā kuñjaraṃ
chabbisāṇaṃ
sabbasetaṃ duppasahaṃ parehi,
rakkhanti taṃ aṭṭhasahassanāgā
īsādantā vātajavappahārino.
|
2828. Gă đă nh́n thấy tại nơi ấy
con voi sáu ngà có toàn thân màu trắng, khó bị khuất phục bởi
những con voi khác. Tám ngàn con voi bảo vệ nó. Chúng có ngà như
cán cày, có cú đánh với tốc độ của gió.
|
20. Trú đây Bạch tượng mạnh vô
song
Có sáu ngà, quân đội tám ngàn,
Ngà tựa càng xe, tài thiện chiến,
Hộ pḥng, giao đấu, tốc như phong! |
|
2829. Tatthaddasā pokkharaṇiṃ
adūre
rammaṃ sutitthañca mahodikañca,
sampupphitaṃ bhamaragaṇānuciṇṇaṃ
yattha hi so nahāyati nāgarājā.
|
2829. Gă đă nh́n thấy tại nơi ấy
hồ sen (Chaddanta) ở không xa, đáng yêu, có bến tắm xinh đẹp, và
có nhiều nước, được nở rộ nhiều hoa, được lai văng bởi các bầy
ong. Chính nơi này, con voi chúa ấy tắm. |
21. Gần đó, hồ kia nước tận bờ,
Xứng nơi vương tượng lội bơi qua,
Đôi bờ khả ái muôn hoa đẹp,
Ong lượn quanh đầy tiếng nhỏ to. |
|
2830. Disvāna nāgassa gatiṃ
ṭhitiñca
vīthissa yā nahānagatassa hoti,
opātamāgañchi anariyarūpo
payojito cittavasānugāya.
|
2830. Sau khi nh́n thấy đường lối
đi lại và chỗ đứng của con voi, gă thợ săn, với bộ dạng không
thánh thiện, bị gắn bó theo mănh lực tâm (của hoàng hậu), đă
thực hiện một cạm bẫy ở lối đi của con voi khi nó đi tắm. |
22. Đánh dấu đường đi của Tượng
vương
Những khi bơi lội, chí kiên cường
Gă đào hố, việc làm hèn hạ
Xúi giục cho vương hậu giận hờn! |
|
2831. Khaṇitvāna kāsuṃ phalakehi
chādayi
attānamodhāya dhanuñca luddo,
passāgataṃ puthusallena nāgaṃ
samappayī dukkaṭa kammakārī.
|
2831. Sau khi đào một cái hố và
che đậy bằng các tấm ván, gă thợ săn đă ẩn ḿnh và cây cung (ở
trong cái hố), rồi đă xuyên thủng con voi ở bên hông bằng mũi
tên lớn; gă là kẻ đă tạo nghiệp ác hạnh. |
23. Che hố trước tiên đậy ván
dày,
Bước vào, cung nắm ở trong tay,
Vừa khi Bạch tượng đi qua đó,
Kẻ ác cho tên dữ vút bay. |
|
2832. Viddho ca nāgo koñcamanādi
ghoraṃ
sabbeva nāgā ninnaduṃ ghorarūpaṃ,
tiṇañca kaṭṭhañca cuṇṇaṃ karontā
dhāviṃsu te aṭṭha disā samantato.
|
2832. Và con voi bị xuyên thủng
đă kêu tiếng rống ghê rợn. Toàn bộ tất cả các con voi đă rống
đáp lại với h́nh thức ghê rợn. Chúng đă chạy theo tám hướng ở
xung quanh, làm cho lá cỏ và cây cối bị nát vụn.
|
24. Voi bị thương gầm rống thảm
thương,
Cả đoàn đáp lại cũng gầm vang,
Ngàn cây nghiêng ngă giày tan cỏ,
Tán loạn đàn voi chạy thẳng đường. |
|
2833. Vadhissametanti parāmasanto
kāsāvamaddakkhi dhajaṃ isīnaṃ,
dukkhena puṭṭhassudapādi saññā
arahaddhajo sabbhi avajjharūpo.
|
2833. (Nghĩ rằng): ‘Ta sẽ giết
chết kẻ này,’ trong lúc chạm vào (gă thợ săn), con voi đă nh́n
thấy tấm vải màu ca-sa, biểu hiệu của các ẩn sĩ. Sự nhận biết đă
sanh khởi đến con voi bị xúc chạm bởi khổ đau rằng: ‘Biểu hiệu
của các bậc A-la-hán, theo các bậc sáng suốt, là không được xâm
phạm.’ |
25. Voi chúa đă gần giết địch
nhân
V́ chứng đau đớn hóa điên cuồng,
Nhưng ḱa! Đôi mắt ngài vừa gặp
Biểu tượng thanh cao, chiếc áo vàng,
Bộ áo tu hành bất khả phạm,
Ấy điều suy nghĩ của hiền nhân. |
|
2834. Anikkasāvo kāsāvaṃ yo
vatthaṃ paridahessati,
apeto damasaccena na so kāsāvamarahati.
|
2834. Kẻ nào có uế trược chưa
ĺa, sẽ khoác lên tấm vải ca-sa, (mà) bỏ bê việc rèn luyện và sự
chân thật, kẻ ấy không xứng với y ca-sa. |
26. Người nào vấy phải tội đầy
thân,
Chẳng chế ngự ḿnh, thiếu thật chân,
Dù chiếc hoàng y, ḿnh nó mặc,
Chẳng ḥng mong đạt tịnh thanh tâm. |
|
2835. Yo ca vantakasāvassa sīlesu susamāhito,
upeto damasaccena sa ve kāsāvamarahati.
|
2835. C̣n vị nào có uế trược đă
được tẩy trừ, khéo định tĩnh trong các giới, gắn bó với việc rèn
luyện và chân thật, người ấy quả nhiên xứng với y ca-sa.
|
27. C̣n kẻ thoát ra mọi lỗi lầm
Đầy ḷng chân thật, tự điều tâm,
Vững ḷng cương quyết theo công chánh,
Xứng đáng y vàng khoác tấm thân. |
|
Trang 116:
|
Trang 117:
|
|
2836. Samappito puthusallena nāgo
aduṭṭhacitto luddakaṃ ajjhabhāsi,
kimatthayaṃ kissa vā samma hetu
mamaṃ vadhī kassa vāyaṃ payogo.
|
2836. Bị mũi tên lớn đâm vào, con
voi, với tâm không sân hận, đă nói với gă thợ săn rằng: “Này
bạn, bạn đang ước nguyện điều ǵ? Cái chết của ta là v́ nguyên
nhân ǵ? Kế hoạch này là của ai?” |
28. Voi trúng tên tàn bạo quỵ
chân,
Trong ḷng b́nh thản, hỏi cừu nhân:
"Đích ǵ khi giết nhằm ta thế,
Cho biết ai xúi giục, bạn thân?" |
|
2837. Kāsissa rañño mahesī
bhadante
sā pūjitā rājakule subhaddā,
taṃ addasā sā ca mamaṃ asaṃsi
dantehi atthoti ca maṃ avoca.
|
2837. “Thưa ngài, chánh hậu của
đức vua xứ Kāsi, nàng Subhaddā ấy được tôn vinh ở gia đ́nh hoàng
tộc. Bà ấy đă nh́n thấy ngài và đă giải thích cho tôi, rồi đă
nói với tôi rằng: ‘Có nhu cầu với những cái ngà.’” |
29. Ái hậu Kà-si bậc đại quân,
Su-bhad-dà, bảo đă từng trông
Dáng ngài trong mộng, và v́ thế:
"Ta muốn ngà kia, hăy kiếm dâng!". |
|
2838. Bahū hi me dantayugā uḷārā
ye me pitūnañca pitāmahānaṃ,
jānāti sā kodhanā rājaputtī
vadhatthikā veramakāsi bālā.
|
2838. “Các cặp ngà cao quư này
của các cha ông của ta là rất nhiều. Bà hoàng hậu ấy biết, nhưng
v́ sân hận, ngu dốt, có ư định giết hại, nên đă gây ra việc thù
hằn. |
30. Kho báu ta mang ở bộ ngà,
H́nh hài di tích của ông cha,
Điều này ác phụ am tường quá,
Nên kẻ khốn nhằm đoạt mạng ta. |
|
2839. Uṭṭhehi tvaṃ ludda kharaṃ
gahetvā
dante ime chinda purā marāmi,
vajjāsi taṃ kodhanaṃ rājaputtiṃ
nāgo hato handa imassa dantā.
|
2839. Này thợ săn, ngươi hăy đứng
lên, rồi cầm lấy cái cưa, và hăy cắt những cái ngà này trước khi
ta chết. Ngươi có thể nói với hoàng hậu về sự sân hận ấy rằng:
‘Con voi đă chết. C̣n đây là những cái ngà của nó.’” |
31. Trước khi ta chết, thợ săn
ôi,
Cưa lấy bộ ngà của chúa Voi,
Bảo ác phụ kia mừng măn nguyện,
"Đây ngà, Bạch tượng đă ĺa đời!" |
|
2840. Uṭṭhāya so luddo kharaṃ
gahetvā
chetvāna dantāni gajuttamassa,
vaggū subhe appaṭime pathabyā
ādāya pakkāmi tato hi khippaṃ.
|
2840. Gă thợ săn ấy đă đứng lên,
rồi cầm lấy cái cưa, và cắt những cái ngà xinh xắn, đẹp đẽ,
không ǵ sánh bằng ở trái đất của con voi tối thượng, sau đó,
cầm lấy chúng rồi vội vă rời khỏi nơi ấy. |
32. Rồi thợ săn cưa lấy bộ ngà
Từ hàm Bạch tượng tối cao ra,
Sáng ngời, bảo vật vô song ấy,
Gă bước nhanh chân trở lại nhà. |
|
2841. Bhayadditā nāgavadhena aṭṭā
ye te nāgā aṭṭha disā vidhāvuṃ,
adisva posaṃ gajapaccamittaṃ
paccāgamuṃ yena so nāgarājā.
|
2841. Bị hốt hoảng bởi nỗi sợ
hăi, bị khổ đau bởi cái chết của con voi chúa, các con voi ấy đă
chạy tản mác tám phương. Sau khi không nh́n thấy con người thù
địch của loài voi, chúng quay trở lại nơi con voi chúa ấy.
|
33. Kinh hăi nh́n Vương tượng
bỏ thân,
Đàn voi vùng tán loạn, hoang mang,
Chẳng t́m thấy vết cừu nhân ác,
Trở lại nh́n vua ngă xuống đàng. |
|
2842. Te tattha kanditvā roditva
nāgā
sīse sake paṃsukaṃ okiritvā,
agamaṃsu te sabbe sakaṃ niketaṃ
purakkhatvā mahesiṃ sabbabhaddaṃ.
|
2842. Các con voi ấy than van,
khóc lóc tại nơi ấy. Sau khi rắc bụi tro xuống ở trên đầu của
ḿnh, tất cả các con voi ấy đă đi về chỗ trú ngụ của ḿnh, dẫn
đầu là voi chánh hậu Sabbabhaddā. |
34. Đàn voi khóc lóc lẫn kêu
gào,
Tất cả chất tro đội đỉnh đầu,
Chầm chậm trở về nơi cư trú,
Theo sau hoàng hậu măi thanh cao. |
|
2843. Ādāya dantāni gajuttamassa
vaggū subhe appaṭime pathabyā,
suvaṇṇarājīhi samantamodare
so luddako kāsipuraṃ upāgami,
upānesi so rājakaññāya dante
nāgo hato handa imassa dantā.
|
2843. Sau khi cầm lấy những cái
ngà xinh xắn, đẹp đẽ, không ǵ sánh bằng ở trái đất của con voi
tối thượng; chúng chiếu sáng ở xung quanh với những tia sáng màu
hoàng kim. Gă thợ săn ấy đă đi đến thành Kāsi. Gă ấy đă dâng các
cái ngà đến vị hoàng hậu (tâu rằng): ‘Con voi đă chết. C̣n đây
là những cái ngà của nó.’
|
35. Thẳng đến Kà-si, gă thợ săn,
Vô song tặng vật, gă vừa mang:
Bộ ngà của chúa Voi ngời chiếu
Làm mọi tâm hoan với ánh vàng; |
|
Trang 118:
|
Trang 119:
|
|
2844. Disvāna dantāni
gajuttamassa
bhattuppiyassa purimāya jātiyā,
tattheva tassā hadayaṃ aphāli
teneva sā kālamakāsi bālā.
|
2844. Sau khi nh́n thấy những cái
ngà của con voi tối thượng, của người chồng yêu quư trong kiếp
sống trước. Ngay tại nơi ấy, trái tim của nàng ấy đă vỡ tan.
Chính v́ điều ấy, người đàn bà ngu si ấy đă từ trần. |
36. Bà hoàng vừa chợt thấy đôi
ngà,
Chúa thượng dấu yêu thuở đă qua,
Ḷng quá đau thương liền vỡ nát,
V́ ngài, kẻ ngốc hóa ra ma. |
|
2845. Sambodhipatto ca
mahānubhāvo
sitaṃ akāsi parisāya majjhe,
pucchiṃsu bhikkhū suvimuttacittā
nākāraṇe pātukaronti buddhā.
|
2845. Và bậc đă đạt đến quả vị
Toàn Giác, có đại thần lực, đă nở nụ cười ở giữa hội chúng. Các
vị tỳ khưu có tâm khéo được giải thoát đă thắc mắc rằng: “Chư
Phật biểu lộ (nụ cười) không phải không có nguyên nhân.” |
37. Khi Đại trí nhân đủ lực thần,
Mỉm cười trước mắt các hiền Tăng,
Tức th́ Thánh chúng liền suy nghĩ:
"Chư Phật chẳng cười chuyện bỗng dưng!". |
|
2846. Yamaddasātha dahariṃ
kumāriṃ
kāsāva vatthaṃ anagāriyaṃ carantiṃ,
sā kho tadā rājakaññā ahosi
ahaṃ tadā nāgarājā ahosiṃ.
|
2846. “Người thiếu nữ trẻ tuổi
khoác tấm vải màu ca-sa đang sống không nhà mà các ngươi nh́n
thấy, vào lúc bấy giờ, nàng ấy đă là công chúa (sau trở thành
chánh hậu), c̣n Ta khi ấy đă là con voi chúa. |
38. Ngài bảo: "Các ông thấy nữ
nhi
Làm Sa-di ấy, khoác hoàng y,
Xưa là hoàng hậu, và Ta nữa,
Ngài tiếp, "là Voi chúa mất đi". |
|
2847. Ādāya dantāni gajuttamassa
vaggū subhe appaṭime pathabyā,
yo luddako kāsipuraṃ upāgami
so kho tadā devadatto ahosi.
|
2847. Gă thợ săn, sau khi cầm lấy
những cái ngà xinh xắn, đẹp đẽ, không ǵ sánh bằng ở trái đất
của con voi tối thượng, rồi đă đi đến thành Kāsi, lúc bấy giờ,
Devadatta đă là gă ấy.” |
39. Kẻ ác cưa ngà báu trắng tinh,
Vô song dưới thế, ánh quang minh,
Đem về thành phố Ba-la-nại
Nay chính Đề-bà-đạt đích danh". |
|
2848. Anāvasūraṃ
cirarattasaṃsitaṃ
uccāvacaṃ caritamidaṃ purāṇaṃ,
vītaddaro vītasoko visallo
sayaṃ abhiññāya abhāsi buddho.
|
2848. Là bậc đă xa ĺa sự lo
lắng, bậc đă xa ĺa sự sầu muộn, bậc không c̣n mũi tên, đức
Phật, sau khi tự ḿnh biết rơ, đă nói về hạnh kiểm cao thượng và
thấp hèn này trong thời quá khứ đă được trải qua thời gian dài
lâu, nhưng c̣n chưa phai nhạt. |
40. Phật-đà với trí tuệ riêng
Ngài
Kể lại chuyện xưa ấy thật dài,
Đủ mọi nỗi buồn đau thống thiết,
Dù Ngài đă thoát hết bi ai. |
|
2849. Ahaṃ vo tena kālena ahosiṃ
tattha bhikkhavo,
nāgarājā tadā hosiṃ evaṃ dhāretha jātakanti.
|
2849. Này các tỳ khưu, vào lúc
ấy, Ta đă ở nơi ấy (hồ nước Chaddanta). Khi ấy, Ta đă là con voi
chúa. Các ngươi hăy ghi nhớ chuyện Bổn Sanh như thế ấy.
|
41. "Ngày xưa Bạch tượng chính Ta
đây,
Làm chúa Voi đông đảo cả bầy,
Như vậy, chư Tăng, ta muốn bảo
Các ông hiểu rơ Tiền thân này".
Câu chuyện
514 |
|
Chaddantajātakaṃ.
*** |
Bổn Sanh Voi
Chúa Chaddanta.
[514]
*** |
|
▪ 5.
SAMBHAVAJĀTAKAṂ
|
▪ 5. BỔN
SANH BẬC TRÍ SAMBHAVA
|
515. Chuyện nam
tử Sambhava
(Tiền thân
Sambhava) |
|
2850. Rajjañca paṭipannasmā
ādhipaccaṃ sucīrata,
mahattaṃ pattumicchāmi vijetuṃ paṭhaviṃ imaṃ.
|
2850. “Này khanh Sucīrata, chúng
ta đă đạt được vương quốc và quyền thống trị. Trẫm muốn đạt đến
bản thể vĩ đại để cai quản trái đất này– |
1. Trẫm chẳng màng ngôi vị đế
vương,
Su-ć, và thống trị giang sơn,
V́ mong trẫm đạt thành cao cả,
Ngự trị khắp toàn cơi thế gian. |
|
2851. Dhammena no adhammena
adhammo me na ruccati,
kiccova dhammo carito rañño hoti sucīrata.
|
2851. –bằng công lư không phải
bằng phi công lư; phi công lư không hứng thú đối với trẫm. Này
Sucīrata, công lư được thực hành chính là việc cần phải làm của
vị vua. |
2. Bằng Chánh chân thôi, tránh
lỗi lầm,
Bởi v́ tất cả đấng quân vương,
Ở trên trần thế cần theo đúng
Bất cứ điều Chân chánh Thiện lương. |
|
2852. Idha cevāninditā yena pecca
yena aninditā,
yasaṃ devamanussesu yena pappemu brāhmaṇa.
|
2852. Và nhờ thế, chúng ta không
bị chê bai ở đời này; nhờ thế, chúng ta không bị chê bai ở đời
sau; này Bà-la-môn, nhờ thế, chúng ta có thể đạt được danh tiếng
ở chư Thiên và nhân loại. |
3. Do đó ta xa lánh lỗi lầm
Đời này và măi măi ngàn năm
Ta cầu mong được danh vinh hiển
Ở giữa chư Thiên lẫn thế nhân. |
|
Trang 120:
|
Trang 121:
|
|
2853. Yohaṃ atthañca dhammañca
kattumicchāmi brāhmaṇa,
taṃ tvaṃ atthañca dhammañca brāhmaṇakkhāhi pucchito.
|
2853. Này Bà-la-môn, trẫm đây
mong muốn thực hiện phúc lợi và công lư. Này Bà-la-môn, được
hỏi, khanh hăy nói về phúc lợi và công lư ấy.” |
4. Này hỡi tế sư, hăy biết
rằng
Những ǵ Chân thiện, trẫm mong làm,
Vậy khi được hỏi, xin cho biết
Những việc làm nào đúng Thiện Chân. |
|
2854. Nāññatra vidhurā rāja
etadakkhātum arahati,
yaṃ tvaṃ atthañca dhammañca kattumicchasi khattiya.
|
2854. “Tâu bệ hạ, về việc bệ hạ
mong muốn tạo ra phúc lợi và công lư, tâu vị Sát-đế-lỵ, không có
ai ngoại trừ Vidhura có khả năng nói về điều ấy.” |
5. Khải tấu Đại vương, chẳng
có ai
Ngoài Vi-dhu ấy đủ thiên tài,
Nói điều kỳ diệu là Chân thiện,
Chúa thượng hằng mong thực hiện hoài. |
|
2855. Ehi kho pahito gaccha
vidhurassa upantikaṃ,
nikkhaṃ ratta suvaṇṇassa haraṃ gaccha sucīrata,
abhihāraṃ imaṃ dajjā atthadhammānusiṭṭhiyā.
|
2855. “Này Sucīrata, được ủy
nhiệm, khanh hăy đi đến khu vực của Vidhura. Khanh hăy đi mang
theo tấm lắc vàng ṛng. Khanh nên trao quà biếu này v́ lời giáo
huấn về phúc lợi và công lư. |
6. Hiền hữu, đi ngay lấy phiến
vàng
Đến Vi-dhu ấy, trẫm nhờ mang
Tặng phần xứng trí nhân ưu tú
Dạy trẫm điều Chân thiện tỏ tường. |
|
2856. Svādhippāgā bhāradvājo
vidhurassa upantikaṃ,
tamaddasa mahābrāhmā asamānaṃ sake ghare.
|
2856. Vị đại Bà-la-môn Bhāradvāja
đă nhanh chóng đi đến khu vực của Vidhura và đă nh́n thấy vị ấy
đang thọ thực ở nhà của ḿnh. |
7. Bhà-rad vội vă tiến lên
đàng
Đến gặp Vi-dhu, thấy bạn vàng
Ngồi tại nhà riêng, sắp sửa dự
Bữa cơm thanh đạm sáng tinh sương. |
|
2857. Raññohaṃ pahito dūto
koravyassa yasassino,
atthaṃ dhammañca pucchesi iccabravi yudhiṭṭhilo,
taṃ tvaṃ atthañca dhammañca vidhurakkhāhi pucchito.
|
2857. “Tôi là sứ giả được ủy
nhiệm của đức vua Koravya có danh tiếng. Vị vua ḍng dơi
Yudhiṭṭhila đă nói như vầy: ‘Khanh hăy hỏi về phúc lợi và công
lư.’ Này Vidhura, được hỏi, ông hăy nói về phúc lợi và công lư
ấy.” |
8. Đến v́ thánh chỉ chúa
Câu-lâu
Ḍng dơi Yu-dhi, hiện thỉnh cầu,
Hiền hữu, Vi-dhu, cho đệ biết
Thiện lương, Chân chánh phải là đâu. |
|
2858. Gaṅgaṃ me pidahissanti na
taṃ sakkomi brāhmaṇa,
apidhetuṃ mahāsindhuṃ taṃ kathaṃ so bhavissati,
na te sakkomi akkhātuṃ atthaṃ dhammañca pucchito.
|
2858. “Thưa vị Bà-la-môn, nhiều
công việc ngăn cản tôi. Tôi không thể ngăn chặn con sông lớn
Sindhu được, làm thế nào sẽ có cơ hội cho việc ấy? Dầu được hỏi,
tôi không thể nói cho ông về phúc lợi và công lư. |
9. Tràn ngập chủ đề quá lớn
lao
Như sông Hằng nước lụt tuôn trào,
Ta không thể nói đâu là lẽ
Chân Thiện, hiền huynh đến thỉnh cầu. |
|
2859. Bhadrakāro ca me putto
oraso mama atrajo,
taṃ tvaṃ atthañca dhammañca gantvā pucchassu brāhmaṇa.
|
2859. Này vị Bà-la-môn,
Bhadrakāra là con trai của tôi, là đứa con trai ruột được tôi
nuôi lớn, ông hăy đi đến và hỏi nó về phúc lợi và công lư ấy.”
|
10. Hiện giờ đệ có một con
trai
Tên gọi Bhà-dra ở giữa đời,
T́m đến chàng ngay, chàng sẽ nói
Thiện lương, Chân lư rơ cho ngài. |
|
2860. Svādhippāgā bhāradvājo
bhadrakārassa santikaṃ,
tamaddasa mahābrahmā nisinnaṃ samhi vesmani.
|
2860. Vị đại Bà-la-môn Bhāradvāja
đă nhanh chóng đi đến khu vực của Bhadrakāra, và đă nh́n thấy vị
ấy đang ngồi ở chỗ cư ngụ của ḿnh.
|
11. Lúc ấy Bhà-rad lại vội
vàng
Đến Bha-dra gấp tại gia đường,
Giữa bao bằng hữu đang tề tựu,
An tọa thong dong được thấy chàng. |
|
2861. Raññohaṃ pahito dūto
koravyassa yasassino,
atthaṃ dhammañca pucchesi iccabravi yudhiṭṭhilo,
taṃ tvaṃ atthañca dhammañca bhadrakāra bravīhi me.
|
2861. “Ta là sứ giả được ủy nhiệm
của đức vua Koravya có danh tiếng. Vị vua ḍng dơi Yudhiṭṭhila
đă nói như vầy: ‘Khanh hăy hỏi về phúc lợi và công lư.’ Này
Bhadrakāra, con hăy giải thích cho ta về phúc lợi và công lư
ấy.”
|
12. Đến v́ thánh chỉ Câu-lâu
Ḍng họ Yu-dhi, hiện thỉnh cầu
Hiền điệt Bhà-dra, cho chú biết
Thiện lương, Chân lư phải là đâu. |
|
Trang 122:
|
Trang 123:
|
|
2862. Maṃsakājaṃ avahāya godhaṃ
anupatāmahaṃ,
na te sakkomi akkhātuṃ atthaṃ dhammañca pucchito.
|
2862. “Sau khi bỏ xuống một
gánh thịt, con lại đeo đuổi con kỳ đà.
Dầu được hỏi, con không thể nói cho ông về phúc lợi và công lư.
|
13. Cháu bỏ thịt nai thật ngọt
ngon,
Và đang theo đuổi tắc kè con,
Làm sao có thể nào thông hiểu
Đâu lẽ Thiện lương với Thật chơn? |
|
2863. Sañjayo nāma me bhātā
kaṇiṭṭho me sucīrata,
taṃ tvaṃ athañca dhammañca gantvā pucchassu brāhmaṇa.
|
2863. Thưa ông Sucīrata, Sañjaya
là người em trai của con. Thưa vị Bà-la-môn, ông hăy đi đến và
hỏi nó về phúc lợi và công lư ấy.” |
14. Song có em trai, ngài phải
biết,
San-ja tên gọi, hăy lên đường
Kiếm chàng cho được, chàng tuyên thuyết
Chân Thiện ngài nghe thật tỏ tường. |
|
2864. Svādhippāgā bhāradvājo
sañjayassa upantikaṃ,
tamaddasa mahābrahmā nisinnaṃ samhi vesmani.
|
2864. Vị đại Bà-la-môn Bhāradvāja
đă nhanh chóng đi đến khu vực của Sañjaya, và đă nh́n thấy vị ấy
đang ngồi ở chỗ cư ngụ của ḿnh. |
15. Lúc ấy Bhà-rad phải vội
vàng
Đến San-jay gấp tại gia đường
Giữa bao bằng hữu đang tề tựu,
An tọa thong dong được thấy chàng. |
|
2865. Raññohaṃ pahito dūto
koravyassa yasassino,
atthaṃ dhammañca pucchesi iccabravi yudhiṭṭhilo,
taṃ tvaṃ atthañca dhammañca sañjayakkhāhi pucchito.
|
2865. “Ta là sứ giả được ủy nhiệm
của đức vua Koravya có danh tiếng. Vị vua ḍng dơi Yudhiṭṭhila
đă nói như vầy: ‘Khanh hăy hỏi về phúc lợi và công lư.’ Này
Sañjaya, được hỏi, con hăy nói về phúc lợi và công lư ấy.” |
16. Đến v́ thánh chỉ chúa
Câu-lâu,
Ḍng dơi Yu-dhi, hiện thỉnh cầu
Hiền điệt San-jay, cho chú biết
Thiện lương, Chân lư phải là đâu. |
|
2866. Sadā maṃ gilatī maccu sāyaṃ
pāto sucīrata,
na te sakkomi akkhātuṃ atthaṃ dhammañca pucchito.
|
2866. “Thưa ông Sucīrata, cái
chết luôn luôn nuốt lấy con vào buổi tối và buổi sáng. Dầu được
hỏi, con không thể nói cho ông về phúc lợi và công lư. |
17. Tử thần há miệng rộng đầy
chông
Sáng tối chờ con, hỡi thúc ông
Làm thế nào con thưa với chú
Đâu là Chân lư với Hiền lương? |
|
2867. Sambhavo nāma me bhātā
kaṇiṭṭho me sucīrata,
taṃ tvaṃ atthañca dhammañca gantvā pucchassu brāhmaṇa.
|
2867. Thưa ông Sucīrata, Sambhava
là người em trai của con. Thưa vị Bà-la-môn, ông hăy đi đến và
hỏi nó về phúc lợi và công lư ấy.” |
18. Song có em thơ, chú biết
chăng,
Sam-bha tên gọi, hăy lên đường,
T́m em, thưa chú, em nêu rơ
Chân lư, Thiện lương thật tỏ tường! |
|
2868. Abbhuto vata bho dhammo
nāyaṃ asmāka ruccati,
tayo janā pitāputtā tesu paññāya no vidū.
|
2868. “Con ơi, câu hỏi quả thật
là phi thường! Điều này không làm cho chúng ta ưa thích. Ba
người gồm có người cha và hai người con trai, họ không hiểu được
bằng trí tuệ. |
19 - 20. Việc lạ lùng này phật
ư ta,
Chẳng hai con lớn, chẳng ông cha,
Biết phương giải đáp điều mầu nhiệm
Vậy nếu như chàng cũng chịu thua,
Th́ phải chăng đây là cậu bé
Biết ǵ về lư Thiện Chân ư! |
|
2869. Na naṃ sakkotha akkhātuṃ
atthaṃ dhammañca pucchitā,
kathaṃ nu daharo jaññā atthaṃ dhammaññca pucchito.
|
2869. Dầu được hỏi, họ không thể
nói về phúc lợi và công lư ấy. Vậy làm thế nào đứa trẻ con có
thể biết về phúc lợi và công lư, khi được hỏi?” |
|
2870. Mā naṃ daharoti uññāsi
apucchitvāna sambhavaṃ,
pucchitvā sambhavaṃ jaññā atthaṃ dhammañca brāhmaṇa.
|
2870. “Xin ngài chớ xem thường
em, (nghĩ rằng): ‘Trẻ con,’ rồi không hỏi Sambhava. Thưa vị
Bà-la-môn, sau khi hỏi Sambhava, em có thể biết về phúc lợi và
công lư. |
21. Xin ngài đi hỏi Sam-bha,
Xin ngài chớ vội khinh là trẻ thơ,
Em đầy thông thái tài ba
Nói ngay ngài biết đâu là Thiện Chân. |
|
2871. Yathāpi cando vimalo
gacchaṃ ākāsadhātuyā,
sabbe tārāgaṇe loke ābhāya atirocati.
|
2871. Cũng giống như mặt trăng
(tṛn), trong ngần, đang di chuyển ở hư không giới, nó vượt trội
tất cả các quần thể tinh tú ở thế gian về ánh sáng. |
22. Khác nào ánh nguyệt trong
ngần
Sáng bừng vượt hẳn sao giăng đầy trời,
Ánh sao le lói mờ soi
Chim dần trong ánh rạng ngời Hằng nga, |
|
2872. Evampi daharūpeto
paññāyogena sambhavo,
mā naṃ daharoti uññāsi apucchitvāna sambhavaṃ,
pucchitvā sambhavaṃ jaññā atthaṃ dhammañca brāhmaṇa.
|
2872. Cũng tương tự như vậy,
Sambhava dầu là trẻ con, nhưng đă được phú cho sự gắn bó với trí
tuệ. Xin ngài chớ xem thường em (nghĩ rằng): ‘Trẻ con,’ rồi
không hỏi Sambhava. Thưa vị Bà-la-môn, sau khi hỏi Sambhava, em
có thể biết về phúc lợi và công lư. |
23. Cũng như chú bé Sam-bha
Trí tài kiệt xuất vượt xa tuổi vàng,
Hỏi Sam-bha, biết tỏ tường,
Xin ngài chớ vội khinh thường tuổi thơ. |
|
2873. Yathāpi rammako māso
gimhānaṃ hoti brāhmaṇa,
atevaññehi māsehi dumapupphehi sobhati.
|
2873. Thưa vị Bà-la-môn, cũng
giống như tháng Rammaka thuộc mùa nắng là vượt trội các tháng
khác; nó rực rỡ với những bông hoa của các loại cây. |
24. Em đầy thông thái tài ba
Nói rành Chân Thiện đâu là lẽ ngay.
Tháng tư quyến rủ đắm say,
Vượt xa tất cả tháng ngày trong năm.
25. Hoa xuân đâm lộc nảy mầm,
Màu xanh bát ngát bao trùm rừng cây, |
|
Trang 124:
|
Trang 125:
|
|
2874. Evampi daharūpeto
paññāyogena sambhavo,
mā naṃ daharoti uññāsi apucchitvāna sambhavaṃ,
pucchitvā sambhavaṃ jaññā atthaṃ dhammañca brāhmaṇa.
|
2874. Cũng tương tự như vậy,
Sambhava dầu là trẻ con, nhưng đă được phú cho sự gắn bó với trí
tuệ. Xin ngài chớ xem thường em (nghĩ rằng): ‘Trẻ con,’ rồi
không hỏi Sambhava. Thưa vị Bà-la-môn, sau khi hỏi Sambhava, em
có thể biết về phúc lợi và công lư. |
Bé Sam-bha cũng thế này,
Vượt xa tuổi trẻ, trí tài tuyệt luân. |
|
2875. Yathāpi himavā brahme
pabbato gandhamādano,
nānārukkhehi sañchanno mahābhūtagaṇālayo,
osadhehi ca dibbebhi disā bhāti pavāti ca.
|
2875. Thưa vị Bà-la-môn, cũng
giống như ngọn núi tuyết Gandhamādana được bao phủ bởi nhiều
loại cây khác nhau, là nơi trú ngụ của tập thể chư Thiên. Với
các loại thảo dược của cơi Trời, nó chói sáng và tỏa hương đi
khắp các phương. |
26. Như trên đỉnh tuyết Hương
Sơn
Rừng cây bao phủ, có thần điểm trang
Tỏa ra ánh sáng huy hoàng,
Mùi hương ngào ngạt dần lan toàn miền,
27. Dành cho vô số thần tiên
T́m nơi ẩn náu b́nh yên chốn này. |
|
2876. Evampi daharūpeto
paññāyogena sambhavo,
mā naṃ daharoni uññāsi apucchitvāna sambhavaṃ,
pucchitvā sambhavaṃ jaññā atthaṃ dhammañca brāhmaṇa.
|
2876. Cũng tương tự như vậy,
Sambhava dầu là trẻ con, nhưng đă được phú cho sự gắn bó với trí
tuệ. Xin ngài chớ xem thường em (nghĩ rằng): ‘Trẻ con,’ rồi
không hỏi Sambhava. Thưa vị Bà-la-môn, sau khi hỏi Sambhava, em
có thể biết về phúc lợi và công lư. |
Bé Sam-bha cũng như vầy,
Vượt xa tuổi trẻ, trí đầy khôn ngoan. |
|
2877. Yathāpi pāvako brahme
accimālī yasassimā,
jalamāno vane gacche analo kaṇhavattanī.
|
2877. Thưa vị Bà-la-môn, cũng
giống như trận hỏa hoạn với nhiều ngọn lửa, có sức nóng, trong
lúc đốt cháy, nó di chuyển ở khu rừng, không hề thỏa măn, tạo
thành vệt dài đen thui (nơi nào nó đi qua). |
28. Khác nào ngọn lửa huy
hoàng
Cháy tràn lan khắp đồng hoang tung hoành,
Với cây cột lửa cuộn nhanh,
Không hề biết thỏa, tan tành cỏ non.
29. Để trơ một lối đen ng̣m,
Bất kỳ nơi chốn lửa bùng lướt qua.
Cũng vầy chú bé Sam-bha,
Trí tài kiệt xuất vượt đà ấu niên, |
|
2878. Ghatāsano dhūmaketu
uttamāhevanaṃ daho,
nisīthe pabbataggasmiṃ pahūtedho virocati.
|
2878. Ngọn lửa tế thần (cháy bằng
bơ lỏng), có cột khói là biểu hiệu, đốt cháy khu rừng loại tốt
nhất. Với nhiều nhiên liệu, nó rực sáng trong đêm tối ở trên
đỉnh ngọn núi. |
30. Khác nào một ngọn lửa
thiêng
Đốt bằng bỏ sống trong đêm tối trời,
Gặp cây gỗ quư nhất đời,
Giục cơn thèm cháy sáng ngời cao xa. |
|
2879. Evampi daharūpeto
paññāyogena sambhavo,
mā naṃ daharoti uññāsi apucchitvāna sambhavaṃ,
pucchitvā sambhavaṃ jaññā atthaṃ dhammañca brāhmaṇa.
|
2879. Cũng tương tự như vậy,
Sambhava dầu là trẻ con, nhưng đă được phú cho sự gắn bó với trí
tuệ. Xin ngài chớ xem thường em (nghĩ rằng): ‘Trẻ con,’ rồi
không hỏi Sambhava. Thưa vị Bà-la-môn, sau khi hỏi Sambhava, em
có thể biết về phúc lợi và công lư. |
31. Cũng vầy chú bé Sam-bha
Thông minh trí tuệ vượt xa tuổi vàng,
Hỏi Sam-bha, chớ coi thường
Em thông hiểu, nói tận tường Thiện Chơn. |
|
2880. Javena bhadraṃ jānanti
balivaddañca vāhiye,
dohena dhenuṃ jānanti bhāsamānañca paṇḍitaṃ.
|
2880. Người ta biết được ngựa tốt
bởi tốc độ, và con ḅ đực trong việc kéo nặng. Người ta biết
được ḅ sữa do việc vắt sữa, và bậc sáng suốt trong khi vị ấy
nói. |
32. Trâu nhờ sức lực tráng
cường
Ngựa nhờ tốc độ phô trương giống ṇi,
Ḅ nhờ vắt sữa tuôn ṿi,
Hiền nhân, ta biết nhờ lời khôn ngoan. |
|
2881. Evampi daharūpeto
paññāyogena sambhavo,
mā naṃ daharoti uññāsi apucchitvāna sambhavaṃ,
pucchitvā sambhavaṃ jaññā atthaṃ dhammañca brāhmaṇa. |
2881. Cũng tương tự như vậy,
Sambhava dầu là trẻ con, nhưng đă được phú cho sự gắn bó với trí
tuệ. Xin ngài chớ xem thường em (nghĩ rằng): ‘Trẻ con,’ rồi
không hỏi Sambhava. Thưa vị Bà-la-môn, sau khi hỏi Sambhava, em
có thể biết về phúc lợi và công lư. |
33. Sam-bha cũng vậy, mầm non,
Thông minh trí tuệ vượt hơn tuổi vàng,
Hỏi Sam-bha, chớ coi thường
Em thông thái, nó tận tường Thiện Chân. |
|
2882. Svādhippāgā bhāradvājo
sambhavassa upantikaṃ,
tamaddasa mahābrahmā kīḷamānaṃ bahīpure.
|
2882. Vị đại Bà-la-môn Bhāradvāja
đă nhanh chóng đi đến khu vực của Sambhava, và đă nh́n thấy vị
ấy đang đùa giỡn ở bên ngoài thành phố.
|
34. Lúc ấy Bhà-rad lại vội
vàng
Đến Sam-bha gấp tại gia đường
Ở ngoài công lộ, ḱa ngay đó
Cậu bé đùa chơi thấy rơ ràng. |
|
Trang 126:
|
Trang 127:
|
|
2883. Raññohaṃ pahito dūto
koravyassa yasassino,
atthaṃ dhammañca pucchesi iccabravi yudhiṭṭhilo,
taṃ tvaṃ atthañca dhammañca sambhavakkhāhi pucchito. |
2883. “Tôi là sứ giả được ủy
nhiệm của đức vua Koravya có danh tiếng. Vị vua ḍng dơi
Yudhiṭṭhila đă nói như vầy: ‘Khanh hăy hỏi về phúc lợi và công
lư.’ Này Sambhava, được hỏi, em hăy nói về phúc lợi và công lư
ấy.” |
35. Đến vi thánh chỉ chúa
Câu-lâu,
Ḍng dơi Yu-dhi, hiện thỉnh cầu,
Hiền điệt Sam-bha, cho chú biết,
Thiện lương, Chân lư phải là đâu? |
|
2884. Taggha te ahamakkhissaṃ
yathāpi kusalo tathā,
rājā ca kho taṃ jānāti yadi kāhati vā na vā.
|
2884. “Chắc chắn rồi, vị thiện
xảo sẽ nói như thế nào th́ con cũng sẽ nói với ông như thế ấy.
Và đức vua, đương nhiên hiểu được điều ấy, tuy nhiên đức vua sẽ
làm hay không làm (không phải là lỗi của con). |
36. Hiền hữu, ta nay sẽ bảo
ngài,
Đúng như bậc trí phải tŕnh bày,
Vua cần biết rơ điều Chân Thiện,
Song việc vua làm, ai có hay? |
|
2885. Ajja suveti saṃseyya raññā
puṭṭho sucīrata,
mā katvā avasī rājā atthe jāte yudhiṭṭhilo.
|
2885. Thưa ông Sucīrata, khi được
đức vua hỏi: ‘Có người tuyên bố chuyện hôm nay hăy để ngày mai,’
(th́ nên nói rằng): ‘Khi lợi ích sanh khởi, đức vua Yudhiṭṭhila
không nên thực hành và sống như vậy.’ |
37. Đáp lại đức vua, hăy tấu
ngài:
"Ngày nay không hẳn giống ngày mai,
Thần khuyên Chúa thượng nên thông suốt
Nắm lấy thời cơ kịp đến tay". |
|
2886. Ajjhattaññeva saṃseyya
raññā puṭṭho sucīrata,
kummaggaṃ na niveseyya yathā mūḷho acetaso.
|
2886. Thưa ông Sucīrata, khi được
đức vua hỏi: ‘Có người tuyên bố chỉ có bản ngă,’ (th́ nên nói
rằng): ‘Không nên đi vào con đường sai trái, giống như kẻ ngu si
không có tâm tư.’ |
38. Ta ước mong hiền hữu tế sư
Gợi cho vua biết cách suy tư,
Nhờ đây tâm trí ngài an lạc:
Vua phải tránh xa mọi oán thù,
Cũng chớ đi theo đường ác độc
Như là người độn trí mê mờ. |
|
2887. Attānaṃ nātivatteyya
adhammaṃ na samācare,
atitthe nappatāreyya anatthe na yuto siyā.
|
2887. Không nên vượt qua bản
thân, không nên thọ tŕ phi pháp, không nên dẫn đến nơi không
phải bến đỗ (dẫn đến 62 tà kiến), không nên gắn bó ở điều không
có lợi ích. |
39. Đừng gây tội lỗi mất tâm
hồn,
Đừng phạm hành vi bất chánh chơn,
Đừng có bao giờ theo ác hạnh,
Đừng đưa huynh đệ bước sai đường. |
|
2888. Yo ca etāni ṭhānāni kattuṃ
jānāti khattiyo,
sadā so vaḍḍhate rājā sukkapakkheva candimā.
|
2888. Và vị Sát- đế- lỵ nào biết
thực hiện các công việc này, vị vua ấy luôn luôn lớn mạnh, tựa
như mặt trăng vào thượng tuần. |
40. Ai biết hoàn thành đúng
chánh chân
Những điều này, giống nguyệt tṛn dần,
Như vua danh tiếng tăng lên măi,
Làm ánh sáng soi đám bạn thân, |
|
2889. Ñātīnañca piyo hoti mittesu
ca virocati,
kāyassa bhedā sappañño saggaṃ so upapajjatī ”ti.
|
2889. Và người có trí tuệ được
yêu quư trong số các thân quyến, và sáng chói ở giữa bạn bè; do
sự hoại ră của thân, vị ấy sẽ tái sanh vào cơi Trời.” |
Yêu mến họ hàng, khi tận mạng
Hiền nhân sẽ đạt đến thiên cung.
Câu chuyện
515 |
|
Sambhavajātakaṃ.
*** |
Bổn Sanh Bậc Trí Sambhava. [515]
*** |
| <Trang trước> |
<Trang Kế> |