|
XX.
SATTATINIPĀTO - NHÓM BẢY MƯƠI KỆ NGÔN
|
|
Nguồn: Tam Tạng
Pāli - Sinhala thuộc Buddha Jayanti Tripitaka Series (BJTS) |
Lời tiếng Việt:
Tỳ khưu Indacanda |
|
Trang 286: |
Trang 287:
|
|
▪ 1.
KUSAJĀTAKAṂ
|
▪ 1. BỔN
SANH ĐỨC VUA KUSA |
531. Chuyện Đại
Đế Kusa
(Tiền thân Kusa) |
|
3641. Idaṃ te raṭṭhaṃ sadhanaṃ
sayoggaṃ
sakāyuraṃ sabbakāmūpapannaṃ,
idante rajjaṃ anusāsa amma
gacchāmahaṃ yattha piyā pabhāvatī.
|
3641. “Đất nước này là thuộc về
mẹ, có tài sản, có cỗ xe,
có biểu hiệu (của đức vua), được
đầy đủ tất cả các dục.
Thưa mẹ, xin mẹ hăy lănh đạo
vương quốc này của mẹ.
Con đi đến nơi nào mà nàng
Pabhāvatī đáng yêu (đang ở).”
|
1. Đất nước này hoan lạc ngập
tràn
Ngọc vàng châu báu, vật trang hoàng,
Thay con, mẫu hậu lên cai trị,
Con sẽ ra đi để kiếm nàng. |
|
3642. Anujjubhūtena haraṃ
mahantaṃ
divā ca ratto ca nisīthakāle,
paṭigaccha tvaṃ khippaṃ kusāvatiṃ kusa
na icchāmi dubbaṇṇamahaṃ vasantaṃ.
|
3642. “Trong khi mang vác nặng nề
một cách không chính đáng,
vào ban ngày, vào ban đêm, và vào
lúc nửa đêm,
hỡi chàng Kusa, chàng hăy mau trở
về thành Kusāvatī.
Thiếp không muốn kẻ có bộ dạng
xấu xa sống (ở nơi này).
|
2. Ku-sa, ngài phải chịu ngày đêm
Mang gánh nặng này thực chẳng nên,
Đất nước Ku-sa, mau trở lại,
Dị h́nh, ta chẳng chút ưa nh́n! |
|
3643. Nāhaṃ gamissāmi ito
kusāvatiṃ
pabhāvatī vaṇṇapalobhito tava,
ramāmi maddassa niketaramme
hitvāna raṭṭhaṃ tava dassane rato.
|
3643. “Này Pabhāvatī, bị tham đắm
sắc đẹp của nàng,
ta sẽ không từ nơi này đi về lại
thành Kusāvatī.
Ta vui thích chỗ ở đáng yêu thuộc
xứ sở Madda.
Sau khi từ bỏ đất nước, ta được
vui thích trong việc nh́n thấy nàng.
|
3. Pab-hà, say đắm bởi dung nhan,
Đất nước ta đâu thiết ngó ngàng,
Mỹ quốc Mạch- đa, niềm lạc thú,
Bỏ ngai, ta sống để t́m nàng! |
|
3644. Pabhāvatī vaṇṇapalobhito
tava
sammūḷharūpo vicarāmi mediniṃ,
disaṃ na jānāmi kutomhi āgato
tayamhi matto migamandalocane.
|
3644. Này Pabhāvatī, bị tham đắm
sắc đẹp của nàng,
ta lang thang ở trái đất, với
dáng vẻ ngây dại.
Ta không nhận biết phương hướng.
Từ nơi nào ta đă đi đến?
Ta say mê nàng ở cặp mắt ngơ ngác
của loài nai.
|
4. Quang Huy kiều nữ, mắt mơ
màng,
Sao chiếm ḷng ta đến dại cuồng?
Hiểu rơ giang sơn là đất mẹ,
Điên rồ phiêu bạt khắp mười phương! |
|
3645. Suvaṇṇa cīravasane
jātarūpasumekhale,
sussoṇi tava kāmā hi nāhaṃ rajjenamatthiko.
|
3645. Hỡi cô nàng khoác y phục
dệt sợi vàng, hỡi cô nàng có thắt lưng xinh đẹp bằng vàng, hỡi
cô nàng có eo thon, bởi v́ ḷng ham muốn đối với nàng, ta không
c̣n hứng thú với đất nước.” |
5. Ḿnh khoác tấm da rực sáng
ngời,
Ṿng lưng đai quấn ánh vàng tươi,
T́nh nàng, kiều nữ, ta khao khát,
Ta chẳng màng ngôi báu ở đời! |
|
3646. Abbhū hi tassa bho hoti yo
anicchantamicchati,
akāmaṃ rāja kāmehi akanto kantamicchasi.
|
3646. “Thật không thực tế đối với
ngài đây, là kẻ mong muốn một người không mong muốn (ḿnh). Tâu
bệ hạ, bệ hạ ham muốn một người không ham muốn (bệ hạ); là kẻ
không được yêu, bệ hạ lại muốn trở thành người được yêu.” |
6. Rủi thay phận kẻ măi mong cầu
Thấy bị chối từ mọi ước ao,
Như Đại vương, theo đ̣i thắm thiết
T́nh kia chẳng đáp được đâu nào! |
|
3647. Akāmaṃ vā sakāmaṃ vā yo
naro labhate piyaṃ,
lābhamettha pasaṃsāmi alābho tattha pāpako.
|
3647. “Người nào đạt được người
ḿnh yêu, cho dầu người kia không tự nguyện hay là có sự tự
nguyện, ta ca ngợi việc đạt được trong trường hợp này, việc
không đạt được trong trường hợp ấy là tệ hại.”
|
7. Ai chiếm được người dạ luyến
thương,
Dù t́nh đáp lại hoặc đơn phương,
Chỉ thành công ấy làm khâm phục,
Thất bại là bi thảm đoạn trường! |
|
Trang 288:
|
Trang 289:
|
|
3648. Pāsāṇasāraṃ khaṇasi
kaṇikārassa dārunā,
vātaṃ jālena bādhesi yo anicchantamicchati.
|
3648. “Bệ hạ đào đá rắn bằng
thanh gỗ của cây kaṇikāra, bệ
hạ ngăn cản gió bằng tấm lưới, là kẻ mong muốn một người không
mong muốn (ḿnh).” |
8. Theo đuổi nữ nhi chẳng thuận
ḷng
Khác nào đào đá tảng trên đồng,
Lưỡi cày bằng gỗ gịn mau gẫy,
Hay đón gió bằng chiếc lưới không! |
|
3649. Pāsāṇo nūna te hadaye ohito
mudulakkhaṇe,
yo te sātaṃ na vindāmi tirojanapadāgato.
|
3649. “Hỡi cô nàng có đặc điểm
dịu dàng, ta đây đă đi đến, băng ngang qua các xứ sở, mà ta
không t́m thấy sự hứng thú ở nơi nàng. Có lẽ tảng đá đă đè nặng
ở trái tim của nàng. |
9. Như đá trơ trơ, quả dạ nàng,
Bề ngoài hiền dịu tuyệt trần gian!
Không lời thăm hỏi dù ta đến
Theo đuổi t́nh ai vạn dặm đàng! |
|
3650. Yadā maṃ bhūkuṭiṃ katvā
rājaputti udikkhasi,
āḷāriko tadā homi rañño maddassa thīpure.
|
3650. Hỡi nàng công chúa, khi nào
nàng cau mày nh́n ta, khi ấy ta là người đầu bếp ở hậu cung của
đức vua xứ Madda.
|
10 Nàng cứ cau mày lúc ngắm ta,
Sa sầm dáng điệu, chúa kiêu xa,
C̣n ta, chỉ một tên đầu bếp
Trong chốn cung đ́nh xứ Mạch-đa. |
|
3651. Yadā umhayamānā maṃ
rājaputti udikkhasi,
nāḷāriko tadā homi rājā homi tadā kuso.
|
3651. Hỡi nàng công chúa, khi nào
nàng nh́n ta mỉm cười, khi ấy ta không phải là người đầu bếp,
khi ấy ta là đức vua Kusa.” |
11. Hoàng phi, ví thử xót thương
người,
Hạ cố ban ta một nụ cười,
Ta chẳng c̣n làm đầu bếp nữa:
Ku-sa chúa tể ngự trên đời! |
|
3652. Sace hi vacanaṃ saccaṃ
nemittānaṃ bhavissati,
neva me tvaṃ pati assa kāmaṃ chindantu sattadhā.
|
3652. “Bởi v́, nếu lời nói của
các thầy bói tướng sẽ là sự thật, th́ hăy để cho họ chặt thiếp
thành bảy mảnh theo như ư muốn, chứ ngài không bao giờ có thể
trở thành chồng của thiếp.” |
12. Nếu thầy tướng số nói không
sai,
Th́ chính tiên tri đúng thế này:
"Nàng bị chặt ra thành bảy mảnh,
Khi nàng lấy chúa Cát Tường đây. |
|
3653. Sace hi vacanaṃ saccaṃ
aññesaṃ yadi vā mama,
neva tuyhaṃ pati atthi añño sīhassarā kusā.
|
3653. “Bởi v́, nếu lời nói của
những người khác hay của ta là sự thật, th́ không có người nào
khác là chồng của nàng, ngoại trừ đức vua Kusa có giọng nói sư
tử.”
|
13. Nếu thầy tướng số khác cùng
ta
Nói những lời chân thật, quả là:
Nàng chẳng tôn ai làm chúa tể
Của nàng, trừ Đại đế Ku-sa! |
|
3654. Nekkhaṃ gīvante kāressaṃ
patvā khujje kusāvatiṃ,
sace maṃ nāganāsūru olokeyya pabhāvatī.
|
3654. “Này bà gù, nếu nàng
Pabhāvatī có cặp đùi như ṿi voi nh́n ta, th́ ta sẽ bảo làm cho
bà tấm lắc vàng ở cổ, sau khi ta về lại Kusāvatī. |
14. Chuỗi vàng ta sẽ tặng cho
già,
Khi đến Ku-sa, xứ sở nhà,
Ví thử Pa-bhà thân yểu điệu
Rủ ḷng hạ cố đoái nh́n ta! |
|
3655. Nekkhaṃ gīvante kāressaṃ
patvā khujje kusāvatiṃ,
sace maṃ nāganāsūru ālapeyya pabhāvatī.
|
3655. Này bà gù, nếu nàng
Pabhāvatī có cặp đùi như ṿi voi nói chuyện với ta, th́ ta sẽ
bảo làm cho bà tấm lắc vàng ở cổ, sau khi ta về lại Kusāvatī. |
15. Chuỗi vàng ta sẽ tặng cho
già,
Khi đến Ku-sa, xử sở nhà,
Ví thử Pa-bhà, nàng thục nữ,
Rủ ḷng hạ cố nói cùng ta! |
|
3656. Nekkhaṃ gīvante kāressaṃ
patvā khujje kusāvatiṃ,
sace maṃ nāganāsūru umhāyeyya pabhāvatī.
|
3656. Này bà gù, nếu nàng
Pabhāvatī có cặp đùi như ṿi voi mỉm cười với ta, th́ ta sẽ bảo
làm cho bà tấm lắc vàng ở cổ, sau khi ta về lại Kusāvatī.
|
16. Chuỗi vàng ta sẽ tặng cho
già,
Khi đến Ku-sa, xử sở nhà,
Ví thử Pa-bhà, nàng thục nữ,
Rủ ḷng cười hé nụ cùng ta! |
|
3657. Nekkhaṃ gīvante kāressaṃ
patvā khujje kusāvatiṃ,
sace maṃ nāganāsūru pamhāyeyya pabhāvatī.
|
3657. Này bà gù, nếu nàng
Pabhāvatī có cặp đùi như ṿi voi cười đùa với ta, th́ ta sẽ bảo
làm cho bà tấm lắc vàng ở cổ, sau khi ta về lại Kusāvatī. |
17. Chuỗi vàng ta sẽ tặng cho
già,
Khi đến Ku-sa, đất nước nhà,
Ví thử Pa-bha thân yểu diệu,
Sẽ tươi cười diện kiến cùng ta! |
|
3658. Nekkhaṃ gīvante kāressaṃ
patvā khujje kusāvatiṃ,
sace maṃ nāganāsūru pāṇīhi upasamphuse.
|
3658. Này bà gù, nếu nàng
Pabhāvatī có cặp đùi như ṿi voi chạm các bàn tay vào ta, th́ ta
sẽ bảo làm cho bà tấm lắc vàng ở cổ, sau khi ta về lại
Kusāvatī.”
|
18. Chuỗi vàng ta sẽ tặng cho
già,
Khi đến Ku-sa, đất nước nhà,
Ví thử Pa-bhà nàng thục nữ,
Đưa tay âu yếm đặt vào ta! |
|
Trang 290:
|
Trang 291:
|
|
3659. Nahi nūnāyaṃ rājaputtī kuse
sātampi vindati,
āḷārike bhate pose vetanena anatthike.
|
3659. “Chẳng lẽ cô công chúa này
không t́m thấy sự hứng thú ở nơi vua Kusa, khi ông ta là người
đầu bếp phục dịch không v́ mục đích lương bổng.” |
19. Công nương này chẳng thấy
ḷng vui
Nh́n chúa Ku-sa chút nữa rồi,
Dù chẳng thiếu ǵ, ngài phục dịch
Kiếm tiền như nấu bếp tôi đ̣i. |
|
3660. Nahi nūna ayaṃ khujjā
labhati jivhāya chedanaṃ,
sunisitena satthena evaṃ dubbhāsitaṃ bhaṇaṃ.
|
3660. “Chẳng lẽ trong khi nói lời
nói tệ hại như vậy, cái bà gù này không đáng được việc cắt đứt
cái lưỡi bằng con dao bén ngót.” |
20. Mụ già nô lệ lưng gù vầy
Sao dám buông lời quái dị thay!
Xứng đáng được ta truyền cắt lưỡi
Bằng thanh kiếm ngọt nhất đời này! |
|
3661. Mā naṃ rūpena pāmesi
ārohena pabhāvati,
mahāyasoti katvāna karassu rucire piyaṃ.
|
3661. “Này Pabhāvatī, cô chớ đánh
giá ngài ấy qua h́nh dáng và chiều cao. Hăy ghi nhớ rằng: ‘Vị
này có danh tiếng lẫy lừng.’ Này cô gái xinh xắn, cô hăy tỏ ra
đáng yêu. |
21. Pab-hà hỡi, chớ quư yêu người
V́ dáng bề ngoài, hảo tướng thôi.
Hăy gắng làm cho ngài đẹp ư,
Vinh quang ngài vĩ đại cao vời! |
|
3662. Mā naṃ rūpena pāmesi
ārohena pabhāvati,
mahaddhanoti katvāna karassu rucire piyaṃ.
|
3662. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh
giá ngài ấy qua h́nh dáng và chiều cao. Hăy ghi nhớ rằng: ‘Vị
này có tài sản kếch sù.’ Này cô gái xinh xắn, cô hăy tỏ ra đáng
yêu. |
22. Pab-hà hỡi, chớ quư yêu người
V́ dáng bề ngoài, hảo tướng thôi.
Hăy cố làm cho ngài đẹp ư,
Triều ngài hưng thịnh nhất trên đời. |
|
3663. Mā naṃ rūpena pāmesi
ārohena pabhāvati,
mahabbaloti katvāna karassu rucire piyaṃ.
|
3663. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh
giá ngài ấy qua h́nh dáng và chiều cao. Hăy ghi nhớ rằng: ‘Vị
này có binh lực vĩ đại.’ Này cô gái xinh xắn, cô hăy tỏ ra đáng
yêu.
|
23. Pab-hà hởi, chớ quư yêu người
V́ dáng bề ngoài, hảo tướng thôi.
Hăy cố làm cho ngài đẹp ư,
Quyền uy ngài vĩ đại trên đời. |
|
3664. Mā naṃ rūpena pāmesi
ārohena pabhāvati,
mahāraṭṭhoti katvāna karassu rucire piyaṃ.
|
3664. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh
giá ngài ấy qua h́nh dáng và chiều cao. Hăy ghi nhớ rằng: ‘Vị
này có đất nước rộng lớn.’ Này cô gái xinh xắn, cô hăy tỏ ra
đáng yêu. |
24. Pab-hà hỡi, chớ quư yêu người
V́ dáng bề ngoài, hảo tướng thôi.
Hăy cố làm cho ngài đẹp ư,
Quyền ngài cai trị rộng khắp nơi. |
|
3665. Mā naṃ rūpena pāmesi
ārohena pabhāvati,
mahārājāti katvāna karassu rucire piyaṃ.
|
3665. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh
giá ngài ấy qua h́nh dáng và chiều cao. Hăy ghi nhớ rằng: ‘Vị
này là đại vương.’ Này cô gái xinh xắn, cô hăy tỏ ra đáng yêu. |
25. Pab-hà hỡi, chớ quư yêu người
V́ dáng bề ngoài, hảo tướng thôi.
Hăy cố làm cho ngài đẹp ư,
Ngài là vị Đại đế hùng oai. |
|
3666. Mā naṃ rūpena pāmesi
ārohena pabhāvati,
sīhassaroti katvāna karassu rucire piyaṃ.
|
3666. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh
giá ngài ấy qua h́nh dáng và chiều cao. Hăy ghi nhớ rằng: ‘Vị
này có giọng nói sư tử.’ Này cô gái xinh xắn, cô hăy tỏ ra đáng
yêu.
|
26. Pab-hà hỡi, chờ quư yêu người
V́ dáng bề ngoài, hảo tướng thôi.
Giọng của ngài như sư tử hống,
Hăy làm toại ư đẹp ḷng ngài. |
|
3667. Mā naṃ rūpena pāmesi
ārohena pabhāvati,
vaggussaroti katvāna karassu rucire piyaṃ.
|
3667. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh
giá ngài ấy qua h́nh dáng và chiều cao. Hăy ghi nhớ rằng: ‘Vị
này có giọng nói êm dịu.’ Này cô gái xinh xắn, cô hăy tỏ ra đáng
yêu. |
27. Pab-hà hỡi, chờ quư yêu người
V́ dáng bề ngoài, hảo tướng thôi.
Hăy cố làm cho ngài đẹp ư,
Giọng ngài trong trẻo vút ngân dài. |
|
3668. Mā naṃ rūpena pāmesi
ārohena pabhāvati,
bindussaroti katvāna karassu rucire piyaṃ.
|
3668. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh
giá ngài ấy qua h́nh dáng và chiều cao. Hăy ghi nhớ rằng: ‘Vị
này có giọng nói tṛn trịa.’ Này cô gái xinh xắn, cô hăy tỏ ra
đáng yêu. |
28. Pab-hà hỡi, chớ quư yêu người
V́ dáng bề ngoài, hảo tướng thôi.
Hăy cố làm cho ngài đẹp ư,
Giọng ngài trầm lắng tận ḷng ai! |
|
3669. Mā naṃ rūpena pāmesi
ārohena pabhāvati,
mañjussaroti katvāna karassu rucire piyaṃ.
|
3669. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh
giá ngài ấy qua h́nh dáng và chiều cao. Hăy ghi nhớ rằng: ‘Vị
này có giọng nói dịu dàng.’ Này cô gái xinh xắn, cô hăy tỏ ra
đáng yêu.
|
29. Pab-hà hỡi, chớ quư yêu người
V́ dáng bề ngoài, hảo tướng thôi.
Hăy cố làm cho ngài đẹp ư
Giọng ngài êm dịu quá, nàng ôi! |
|
Trang 292:
|
Trang 293:
|
|
3670. Mā naṃ rūpena pāmesi
ārohena pabhāvati,
madhurassaroti katvāna karassu rucire piyaṃ.
|
3670. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh
giá ngài ấy qua h́nh dáng và chiều cao. Hăy ghi nhớ rằng: ‘Vị
này có giọng nói ngọt ngào.’ Này cô gái xinh xắn, cô hăy tỏ ra
đáng yêu. |
30. Pab-hà hỡi, chớ quư yêu người
V́ dáng bề ngoài, hảo tướng thôi.
Hăy cố làm cho ngài đẹp ư
Giọng ngài như mật rót vào tai! |
|
3671. Mā naṃ rūpena pāmesi
ārohena pabhāvati,
satasippoti katvāna karassu rucire piyaṃ.
|
3671. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh
giá ngài ấy qua h́nh dáng và chiều cao. Hăy ghi nhớ rằng: ‘Vị
này biết trăm ngành nghề.’ Này cô gái xinh xắn, cô hăy tỏ ra
đáng yêu. |
31. Pab-hà hỡi, chớ quư yêu người
V́ dáng bề ngoài, hảo tướng thôi.
Hăy gắng làm cho ngài măn nguyện,
V́ ngài có cả một trăm tài. |
|
3672. Mā naṃ rūpena pāmesi
ārohena pabhāvati,
khattiyoti karitvāna karassu rucire piyaṃ.
|
3672. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh
giá ngài ấy qua h́nh dáng và chiều cao. Hăy ghi nhớ rằng: ‘Vị
này là Sát-đế-lỵ.’ Này cô gái xinh xắn, cô hăy tỏ ra đáng yêu.
|
32. Pab-hà hỡi, chớ quư yêu người
V́ dáng bề ngoài, hảo tướng thôi.
Hăy gắng làm cho ngài măn nguyện
Ngài, vua Sát-đế-lỵ anh tài! |
|
3673. Mā naṃ rūpena pāmesi
ārohena pabhāvati,
kusarājāti katvāna karassu rucire piyaṃ.
|
3673. Này Pabhāvatī, cô chớ đánh
giá ngài ấy qua h́nh dáng và chiều cao. Hăy ghi nhớ rằng: ‘Vị
này là đức vua Kusa.’ Này cô gái xinh xắn, cô hăy tỏ ra đáng
yêu.” |
33. Pab-hà hỡi, chớ quư yêu người
V́ dáng bề ngoài, hảo tướng thôi.
Hăy gắng làm cho ngài đẹp ư,
Ku-sa Đại đế, chính là ngài! |
|
3674. Ete nāgā upatthaddhā sabbe
tiṭṭhanti vammitā,
purā maddanti pākāraṃ ānentetaṃ pabhāvatiṃ.
|
3674. “Những con voi này là hung
hăn, tất cả đă được mang giáp đứng dàn trận. Hăy để cho chúng
đưa công chúa Pabhāvatī này đi trước khi chúng dẫm nát tường
thành.” |
34. Như thể bầy voi trận vẻ vang
Dàn binh sừng sững, giáp bào mang,
Trước khi chúng dẫm tan thành lũy,
Xin chúa mau mau gửi cống nàng! |
|
3675. Satta khaṇḍe karitvāna
ahametaṃ pabhāvatiṃ,
khattiyānaṃ padassāmi ye maṃ hantumidhāgatā.
|
3675. “Trẫm sẽ phanh thây công
chúa Pabhāvatī này thành bảy phần và sẽ ban cho các vị Sát-đế-lỵ
đă đi đến đây để giết chết trẫm.”
|
35. Chặt Pa-bhà bảy khúc cho cân,
Ấy chính lời nguyền của trẫm ban
Cho bảy vua kia, người một mảnh,
Những người đến giết phụ vương nàng! |
|
3676. Athuṭṭhahī rājaputtī sāmā
koseyyavāsinī,
assupuṇṇehi nettehi dāsīgaṇapurakkhatā.
|
3676. Nàng công chúa đă đứng dậy,
xuống sắc, choàng tấm lụa dệt sợi vàng, với đôi mắt đẫm lệ, được
hầu cận bởi đám nữ t́. |
36. Diễm lệ, dù da nhuốm sắc đen,
Bà hoàng vụt cất bước chân lên
Trước đoàn thị nữ theo hầu cận
Ḿnh khoác lụa tơ, tiếng khóc rền. |
|
3677. Taṃ nūna kakkūpasevitaṃ
mukhaṃ
ādāsadantātharupaccavekkhitaṃ,
subhaṃ sunettaṃ virajaṃ anaṅgaṇaṃ
chuddhaṃ vane ṭhassati khattiyehi.
|
3677. “Có lẽ khuôn mặt mỹ miều,
với đôi mắt xinh đẹp, không lấm bụi, không vết nhơ, được thoa
son phấn, được ngắm nh́n ở tấm gương có cán ngà ấy sẽ bị quăng
bỏ và tồn tại ở trong rừng bởi các vị Sát-đế-lỵ. |
37. Mặt phấn điểm trang, này soi
gương sáng
Khéo gắn khung ngà, quyến rũ, giờ đây
Bao nét trắng trong biểu lộ thơ ngây
Sắp bị các vua quăng nằm rừng vắng. |
|
3678. Te nūna me asite vellitagge
kese mudū candanasāralitte,
samākule sīvathikāya majjhe
pādehi gijjhā parikaḍḍhayanti.
|
3678. Có lẽ những sợi tóc đen
tuyền, có phần ngọn đă được uốn cong, mềm mại, đă được xức tinh
dầu trầm hương ấy của con sẽ vương văi ở giữa băi tha ma, và các
con kên kên sẽ lôi đi bằng những bàn chân. |
38. Làn tóc đen huyền cuộn tṛn
duyên dáng
Thật dịu mềm, ngào ngạt tỏa chiên-đàn,
Kền kền t́m, dù che kín rừng hoang
Dùng móng vuốt xé tan, tung theo gió. |
|
3679. Tā nūna me tambanakhā
sulomā
bāhā mudū candanasāralittā,
chinnā vane ujjhitā khattiyehi
gayha dhaṅko gacchati yenakāmaṃ.
|
3679. Có lẽ hai cánh tay có móng
màu đồng đỏ, có lông đẹp, mềm mại, đă được xức tinh dầu trầm
hương ấy của con sẽ bị các vị Sát-đế-lỵ chặt đứt, rồi thảy bỏ ở
trong rừng, và chim quạ sẽ gắp lấy rồi ra đi theo như ư muốn.
|
39. Đôi tay, đầu ngón sơn màu
đồng đỏ,
Tẩm trầm hương sực nức mịn lông măng,
Chặt vứt rừng hoang bởi chúa kiêu căng,
Loài sói chụp tha về hang dấu kín. |
|
Trang 294: |
Trang 295:
|
|
3680. Te nūna tālūpanibhe alambe
nisevite kāsikacandanena,
thanesu me lambissati sigālo
mātūva putto taruṇo tanūjo.
|
3680. Có lẽ con chó rừng sẽ đeo
bám hai bầu vú không bị thơng xuống tương tự trái thốt nốt, được
tẩm với trầm hương xứ Kāsi của con, tựa như đứa con trai, c̣n
nhỏ dại, bé bỏng, bám vào vú mẹ. |
40. Đầu vú tṛn như chà là muồi
chín,
Ngàt đàn hương người đốn ở Kà-si,
Sơn cẩu đến gần, chắc sẽ kéo đi,
Như đứa trẻ ôm gh́ bầu sữa mẹ. |
|
3681. Taṃ nūna soṇiṃ puthulaṃ
sukoṭṭhitaṃ
nisevitaṃ kañcanamekhalāhi,
chinnaṃ vane khattiyehī avatthaṃ
sigālasaṅghā parikaḍḍhayanti.
|
3681. Có lẽ cặp mông đầy đặn,
khéo được vỗ về, được quen thuộc với những dây nịt bằng vàng ấy
sẽ bị các vị Sát-đế-lỵ chặt đứt, rồi ném bỏ ở trong rừng, và bầy
chó rừng sẽ tranh giành. |
41. Đôi mông đầy, dáng căng tṛn,
mạnh khỏe,
Quấn quanh ṿng đai rực rỡ vàng ṛng,
Chặt vứt rừng hoang bởi chúa kiêu hùng,
Loài sói chụp tha về nơi muốn dấu. |
|
3682. Soṇā dhaṅkā sigālā ca ye
caññe santi dāṭhino,
ajarā nūna hessanti bhakkhayitvā pabhāvatiṃ.
|
3682. Những con chó, những con
quạ, những con chó rừng, và những loài thú khác có răng nanh,
sau khi ăn thịt Pabhāvatī, có lẽ sẽ không bị già.
|
42. Mănh thú săn mồi: sài lang,
sơn cẩu,
Hễ một khi chúng ăn thịt Pa-bhà,
Không thể nào c̣n phải chịu chết già. |
|
3683. Sace maṃsāni hāresuṃ
khattiyā dūragāmino,
aṭṭhīni amma yācitvā anupanthe dahātha naṃ.
|
3683. Thưa mẹ, nếu các vị
Sát-đế-lỵ đến từ phương xa ra lệnh mang đi các phần thịt, th́ mẹ
hăy xin lại các mẩu xương rồi thiêu nó ở dọc đường lộ. |
43. Nếu các vơ vương đến tử viễn
xứ,
Chặt tấm thân này của nàng thục nữ ,
Xin lấy xương con, đốt với lửa nồng,
Ở một nơi nào xa lánh bụi hồng. |
|
3684. Khettāni amma kāretvā
kaṇikārettha ropaya,
yadā te pupphitā assu hemantānaṃ himaccaye,
sareyyātha mamaṃ amma evaṃvaṇṇā pabhāvatī.
|
3684. Thưa mẹ, mẹ hăy cho thực
hiện các thửa ruộng rồi trồng cây
kaṇikāra ở nơi này. Vào lúc các cây ấy trổ bông vào cuối
mùa tuyết rơi của những tháng mùa đông, thưa mẹ, mẹ có thể nhớ
đến con rằng: ‘Pabhāvatī có màu da như vầy.’” |
44. Rồi mẹ lập một vườn hoa gần
đó,
Mẹ trồng khóm Ka-ni-kà-ra nhỏ,
Khi đông tàn, cây ấy sẽ đơm hoa,
Và mẹ ôi, khi mẹ nhớ con thơ,
Mẹ hăy chỉ vào hoa mà kể lể:
"Ái nữ Pa-bhà ngày xưa là thế..." |
|
3685. Tassā mātā udaṭṭhāsi
khattiyā devavaṇṇinī,
disvā asiñca sūṇañca rañño maddassa thīpure.
|
3685. Sau khi nh́n thấy thanh
gươm và thớt gỗ ở hậu cung của đức vua xứ Madda, vị nữ Sát-đế-lỵ
có vóc dáng Thiên thần, mẹ của nàng công chúa, đă đứng lên.
|
45. Khi nh́n tấm thớt với gươm
trần
Đă đặt trong ṿng tử tội nhân,
Mẫu hậu như Thiên thần đứng dậy,
Vội đi t́m gặp đấng vương quân. |
|
3686. Iminā nūna asinā susaññaṃ
tanumajjhimaṃ,
dhītaraṃ mama hantvāna khattiyānaṃ padassasi.
|
3686. “Có lẽ với thanh gươm này,
bệ hạ sẽ giết chết cô con gái vô cùng giỏi giang, có ṿng eo
thon, của thiếp rồi ban cho các vị Sát-đế-lỵ.” |
46. Với gươm này, chúa tể
Mạch-đa
Sẽ giết nàng công chúa nơn nà,
Rồi gửi tấm thân nàng, mỗi mảnh
Mỗi vua cừu địch để làm quà. |
|
3687. Na me akāsi vacanaṃ
atthakāmāya puttike,
sājja lohitasañchannā gañchisi yamasādhanaṃ.
|
3687. “Này con gái, con đă không
làm theo lời nói nhằm mong muốn điều lợi ích của mẹ. Hôm nay,
con đây, (toàn thân) bị bao trùm bởi máu, đi đến lănh địa của
Diêm Vương. |
47. Con chẳng nghe lời nói của ta
Đă khuyên con phận đẹp duyên ưa,
Nay thân con phải vương màu máu,
Con sẽ ch́m vào cơi Dạ-ma. |
|
3688. Evamāpajjatī poso pāpiyañca
nigacchati,
yo ve hitānaṃ vacanaṃ na karaṃ atthadassinaṃ.
|
3688. Thật vậy, người nào không
làm theo lời nói chỉ rơ sự lợi ích của các bậc hữu ân, người vi
phạm như vậy th́ đọa vào điều tệ hại hơn.
|
48. Số phận kia ta phải gánh mang
Hoặc chung cùng gặp lắm bi thương,
V́ làm ngơ trước lời khuyên tốt,
Bỏ các lời răn của bạn vàng. |
|
3689. Sace tvaṃ amma dhāresi
kumāraṃ cārudassanaṃ,
kusena jātaṃ khattiyaṃ suvaṇṇamaṇimekhalaṃ,
pūjitaṃ ñātisaṅghehi na gañchisi yamakkhayaṃ.
|
3689. Này con, nếu con chấp nhận
vị hoàng tử có vẻ đáng mến, vị Sát-đế-lỵ được sanh ra bởi ḍng
họ Kusa, có thắt lưng bằng vàng và ngọc ma-ni, được tôn vinh bởi
tập thể thân quyến, con sẽ không đi đến trú xứ của Diêm Vương.
|
49. Ví thử hôm nay con sánh vai
Cùng hoàng tử dũng cảm anh tài,
Đại vương trang điểm toàn vàng ngọc,
Sinh trưởng Ku-sa xứ sở ngài,
Th́ hẳn bạn bè không hộ tống
Con đành mau bước xuống tuyền đài. |
|
3690. Yatthassu bherī nadati
kuñjaro paṭikujjati,
khattiyānaṃ kule bhadde kinnu sukhataraṃ tato.
|
3690. Ở gia tộc của các vị
Sát-đế-lỵ, là nơi có trống đánh vang, có voi gầm rống, này con
gái ngoan, cái ǵ là hạnh phúc hơn điều ấy?
|
50. Khi trống đánh, vương tượng
thét vang,
Trong cung đ́nh, giữa chốn trần gian,
C̣n nơi nào nữa ta t́m thấy
Hạnh phúc cao hơn được hởi nàng? |
|
Trang 296: |
Trang 297:
|
|
3691. Asso hasisati dvāre kumāro
uparodati,
khattiyānaṃ kule bhadde kinnu sukhataraṃ tato.
|
3691. Ở gia tộc của các vị
Sát-đế-lỵ, có ngựa hí vang ở ngoài cửa, có nhạc công ca hát, này
con gái ngoan, cái ǵ là hạnh phúc hơn điều ấy? |
51. Khi bầy ngựa hí, các ca nhân
Rền rĩ điệu buồn với chúa công,
Lạc thú như vầy trong bảo điện
C̣n ǵ đâu để sánh ngang bằng? |
|
3692. Mayūrakoñcābhirude
kokilābhinikūjite,
khattiyānaṃ kule bhadde kinnu sukhataraṃ tato.
|
3692. Ở gia tộc của các vị
Sát-đế-lỵ, có tiếng kêu của chim công, chim c̣, được vang dội
với tiếng kêu của chim cu cu, này con gái ngoan, cái ǵ là hạnh
phúc hơn điều ấy? |
52. Khi tiếng sơn ca ḥa tiếng
công
C̣ kêu, hạc sếu gọi lừng vang,
Như vầy cực lạc sao t́m được
Nơi khác hay chăng, mẹ hỏi nàng? |
|
3693. Kahaṃ nukho sattumaddano
pararaṭṭhappamaddano,
kuso soḷārapaññāṇo so no dukkhā pamocaye.
|
3693. Vậy vị đánh bại kẻ thù, vị
phá tan đất nước của kẻ khác, vị Kusa có trí tuệ cao cả ở đâu?
Vị ấy có thể giúp cho chúng ta thoát khỏi khổ đau.”
|
53. Nay ở đâu người dẫm nát tan
Nước thù và chiến thắng cừu nhân?
Ku-sa cao thượng đầy mưu trí
Sẽ cứu nhà ta khỏi đoạn trường! |
|
3694. Idheva so sattumaddano
pararaṭṭhappamaddano,
kuso soḷārapaññāṇo yo no dukkhā pamocaye.
|
3694. “Vị đánh bại kẻ thù, vị phá
tan đất nước của kẻ khác, vị Kusa có trí tuệ cao cả ấy ở ngay
tại nơi này, là vị có thể giúp cho chúng ta thoát khỏi khổ đau.” |
54. Bậc chiến thắng tiêu diệt kẻ
thù,
Ḱa trông! Ngài đă đến bây giờ!
Ku-sa cao thượng đầy mưu trí
Sẽ giết cừu nhân cứu liễu bồ! |
|
3695. Ummattikā nu bhaṇasi ādu
bālāva bhāsasi,
kuso ce āgato assa kiṃ na jānemu taṃ mayaṃ.
|
3695. “Con điên rồ nên mới nói
vậy, hoặc con phát ngôn như là kẻ ngu si. Nếu vị Kusa đă đến,
tại sao chúng ta không hay biết điều ấy?”
|
55. Phải chăng con đă hóa điên
rồ,
Như kẻ si cuồng nói vẩn vơ?
Ví thử Ku-sa đà trở lại,
Th́ sao con chẳng nói cùng ta? |
|
3696. Eso āḷāriko poso
kumārīpuramantare,
daḷhaṃ katvāna saṃvelliṃ kumbhiṃ dhovati onato.
|
3696. “Người này là gă đàn ông
đầu bếp ở trong cung của các công nương, là kẻ đă vấn chặt y
phục và đang cuối xuống rửa cái chảo.” |
56. Mẹ trông! Kẻ nấu bếp đằng kia
Đai quấn ngang lưng thật chỉnh tề,
Đang cúi rửa nồi niêu, bát dĩa,
Nơi bầy công chúa ngự pḥng khuê. |
|
3697. Veṇī tvamasi caṇḍālī ādūsi
kulagandhinī,
kathaṃ maddakule jātā dāsaṃ kayirāsi kāmukaṃ.
|
3697. “Có phải con là cô gái thấp
hèn, là nữ nhân ḍng hạ tiện? Hay con là kẻ bôi nhọ gia đ́nh?
Sanh ra ở ḍng tộc Madda, tại sao con có thể bày tỏ dục vọng với
kẻ nô lệ?” |
57. Con hạ tiện ḍng dơi phải
chăng?
Đường đường là một vị công nương
Hạ ḿnh yêu lấy tên nô lệ
Điếm nhục Mạch-đa tận tủy xương! |
|
3698. Namhi veṇī na caṇḍālī na
camhi kulagandhinī,
okkākaputto bhaddante tvannu dāsoti maññasi.
|
3698. “Con không phải là cô gái
thấp hèn, không phải là nữ nhân ḍng hạ tiện, và không phải là
kẻ bôi nhọ gia đ́nh. Gă ấy là con trai của vua Okkāka. Mong rằng
điều tốt lành hăy có cho mẹ. Vậy mà mẹ lại nghĩ là ‘kẻ nô lệ’!
|
58. Hạ tiện, con đâu phải giống
ḍng!
Con thề chẳng điếm nhục hoàng tông,
May thay, ngài chẳng là nô lệ,
Ngài kế vị Ok-ka Đại vương. |
|
3699. Yo brāhmaṇasahassāni sadā
bhojeti vīsatiṃ,
okkākaputto bhaddante tvannu dāsoti maññasi.
|
3699. Người này luôn luôn dâng
vật thực đến hai mươi ngàn vị Bà-la-môn, là con trai của vua
Okkāka. Mong rằng điều tốt lành hăy có cho mẹ. Vậy mà mẹ lại
nghĩ là ‘kẻ nô lệ’! |
59. Hai vạn Sa-môn vẫn cúng
dường,
Chính là Thái tử Ok-kà vương,
Con thề, ngài chẳng là nô lệ,
Người mẹ thấy đang đứng dưới tường. |
|
3700. Yassa nāgasahassāni sadā
bhojenti vīsatiṃ,
okkākaputto bhaddante tvannu dāsoti maññasi.
|
3700. Người ta luôn luôn cung cấp
thức ăn cho hai mươi ngàn con voi của người này. Người này là
con trai của vua Okkāka. Mong rằng điều tốt lành hăy có cho mẹ.
Vậy mà mẹ lại nghĩ là ‘kẻ nô lệ’!
|
60. Ngài thắng cân đai hai vạn
voi,
Con thề, ngài chẳng phải nô tài,
Ngài là vương tử Ok-kà đế,
Người mẹ thấy đang đứng đó rồi! |
|
Trang 298: |
Trang 299:
|
|
3701. Yassa assasahassāni sadā
bhojenti vīsatiṃ,
okkākaputto bhaddante tvannu dāsoti maññasi.
|
3701. Người ta luôn luôn cung cấp
thức ăn cho hai mươi ngàn con ngựa của người này. Người này là
con trai của vua Okkāka. Mong rằng điều tốt lành hăy có cho mẹ.
Vậy mà mẹ lại nghĩ là ‘kẻ nô lệ’! |
61. Ngài thắng cương hai vạn ngựa
ṇi,
Con thề, ngài chẳng phải tôi đ̣i,
Ok-kà vương tử là ngài đó,
Người mẹ thấy đang đứng giữa trời! |
|
3702. Yassa rathasahassāni sadā
yojenti vīsatiṃ,
okkākaputto bhaddante tvannu dāsoti maññasi.
|
3702. Người ta luôn luôn thắng
ngựa vào hai mươi ngàn cỗ xe của người này. Người này là con
trai của vua Okkāka. Mong rằng điều tốt lành hăy có cho mẹ. Vậy
mà mẹ lại nghĩ là ‘kẻ nô lệ’! |
62. Ngài vẫn cầm cương hai vạn
xe,
Ngài không nô lệ, đấy con thề,
Ngài là vương tử Ok-kà đế,
Người mẹ thấy đang đứng dưới kia. |
|
3703. Yassa usabhasahassāni sadā
yojenti vīsatiṃ,
okkākaputto bhaddante tvannu dāsoti maññasi.
|
3703. Người ta luôn luôn nai nịt
cho hai mươi ngàn ḅ mộng của người này. Người này là con trai
của vua Okkāka. Mong rằng điều tốt lành hăy có cho mẹ. Vậy mà mẹ
lại nghĩ là ‘kẻ nô lệ’!
|
63. Hoàng ngưu hai vạn, vẫn cầm
cương,
Ngài chẳng là nô lệ, tiện dân,
Mà chính Ok-kà-ka Thái tử,
Là người mẹ thấy đứng bên đường. |
|
3704. Yassa dhenusahassāni sadā
duyhanti vīsatiṃ,
okkākaputto bhaddante tvannu dāsoti maññasi.
|
3704. Người ta luôn luôn vắt sữa
hai mươi ngàn ḅ cái của người này. Người này là con trai của
vua Okkāka. Mong rằng điều tốt lành hăy có cho mẹ. Vậy mà mẹ lại
nghĩ là ‘kẻ nô lệ’!” |
64. Ngài lấy sữa tươi hai vạn ḅ,
Con thề, ngài chẳng phải gia nô,
Mà là Thái tử Ok-kà đế,
Người mẹ thấy đang đứng dưới nhà. |
|
3705. Taggha te dukkaṭaṃ bāle yaṃ
khattiyaṃ mahabbalaṃ,
nāgaṃ maṇḍūkavaṇṇena na taṃ akkhāsi āgataṃ.
|
3705. “Này cô con gái khờ dại,
quả thật con đă có điều sái quấy! Con không nói (với trẫm) về
việc vị Sát-đế-lỵ có binh lực vĩ đại, bậc long tượng ấy đă đi
đến với bộ dạng của con ếch.”
|
65. Như thể voi kia giả ểnh ương,
Đến đây Thái tử đại hùng cường,
Con sai lầm quá và khờ dại,
Dấu chuyện, song thân chẳng tỏ tường. |
|
3706. Aparādhaṃ mahārāja tvaṃ no
khama rathesabha,
yaṃ taṃ aññātavesena naññāsimhā idhāgataṃ.
|
3706. “Ôi đại vương, xin con rể
hăy tha thứ cho lỗi lầm của chúng tôi, ôi đấng thủ lănh xa binh,
v́ chúng tôi đă không biết việc đi đến nơi này với bề ngoài đă
được cải trang ấy.” |
66. V́ trẫm không nh́n thấy được
ngay
Đại vương giả dạng đến như vầy,
Toàn gia trẫm trót làm sai phạm,
Đành phận xin tha thứ lỗi này! |
|
3707. Mādisassa na taṃ channaṃ
yohaṃ āḷāriko bhave,
tvaññeva me pasīdassu natthi te deva dukkaṭaṃ.
|
3707. “Việc con trở thành gă đầu
bếp là không thích hợp đối với kẻ như là con. Xin cha hăy tin
tưởng ở con. Tâu bệ hạ, bệ hạ không có điều ǵ sái quấy.”
|
67. Hỏa đầu quân, muốn đóng tṛn
vai,
Ḿnh chính đă làm việc trái sai,
Ví thử thân này, ngài chẳng biết,
Yên tâm, lỗi ấy chẳng do ngài! |
|
3708. Gaccha bāle khamāpehi
kusarājaṃ mahabbalaṃ,
khamāpito kusarājā so te dassati jīvitaṃ.
|
3708. “Này cô con gái khờ dại,
hăy đi đến. Con hăy xin đức vua Kusa, vị có binh lực vĩ đại, thứ
lỗi. Khi đă được đức vua Kusa thứ lỗi, vị ấy sẽ ban cho con mạng
sống.” |
68. Mau lên, cô bé quá khù khờ
Cầu khẩn Đại vương thứ tội cho,
Mong ước ngài nguôi cơn thịnh nộ,
Vui ḷng cứu lấy mạng đào tơ! |
|
3709. Pitussa vacanaṃ sutvā
devavaṇṇī pabhāvatī,
sirasā aggahī pāde kusarājaṃ mahabbalaṃ.
|
3709. Nghe theo lời nói của vua
cha, nàng Pabhāvatī, với vóc dáng Thiên thần, đă cúi đầu nắm lấy
bàn chân của đức vua Kusa, vị có binh lực vĩ đại. |
69. Pa-bhà trong dáng điệu Thiên
thần
Vâng lệnh truyền kia của phụ vương,
Đầu cúi xuống, tay ôm chặt lấy
Đôi chân của chúa tể hùng cường. |
|
3710. Yā imā ratyo atikkantā tā
imā deva tayā vinā,
vande te sirasā pāde mā me kujjha rathesabha.
|
3710. “Tâu bệ hạ, những đêm thiếu
vắng chàng đă trôi qua. Thiếp xin đê đầu đảnh lễ hai bàn chân
của chàng. Tâu đấng thủ lănh xa binh, xin chàng chớ giận dữ với
thiếp. |
70. Chuỗi ngày đêm thiếp sống xa
ngài,
Hoàng thượng, giờ đây đă hết rồi,
Nh́n thiếp cúi hôn chân Chúa thượng,
Xin đừng thịnh nộ nữa, ngài ôi! |
|
3711. Saccaṃ te paṭijānāmi
mahārāja suṇohi me,
na cāpi appiyaṃ tuyhaṃ kareyyāmi ahaṃ puna.
|
3711. Thiếp xin bày tỏ sự thật
với chàng, tâu đại vương, xin chàng hăy lắng nghe thiếp. Không
c̣n có việc thiếp có thể tỏ ra không yêu quư chàng.
|
71. Thần thiếp giờ xin hứa với
ngài,
Nếu ngài hạ cố để vào tai,
Chẳng bao giờ lại v́ sao nữa
Thiếp dám làm sai phạm đến trời! |
|
Trang 300: |
Trang 301:
|
|
3712. Evañce yācamānāya vacanaṃ
me na kāhasi,
idāni maṃ tāto hantvā khattiyānaṃ padassati.
|
3712. Nếu trong lúc thiếp cầu xin
như vậy, mà chàng sẽ không thực hiện lời nói của thiếp. Lúc này
đây, cha sẽ giết chết thiếp rồi ban cho các vị Sát-đế-lỵ.” |
72. Song nếu lời xin bị khước từ,
Phụ vương liền giết mạng con thơ,
Gửi đi từng mảnh thân tan tác
Khắp các địch vương để tặng quà! |
|
3713. Evante yācamānāya kiṃ na
kāhāmi te vaco,
vikuddho tyasmi kalyāṇi mā tvaṃ bhāyi pabhāvati.
|
3713. “Trong lúc nàng cầu xin như
vậy, tại sao ta sẽ không thực hiện lời nói của nàng? Này mỹ nữ,
ta không có giận nàng. Này Pabhāvatī, nàng chớ sợ hăi. |
73. Ta nguyền vâng lệnh của nàng
ban,
Đem hết tâm can để cứu nàng,
Ta chẳng thấy ḷng hờn giận nữa,
Quang Huy ngọc nữ, chớ kinh hoàng! |
|
3714. Saccante paṭijānāmi
rājaputti suṇohi me,
na cāpi appiyaṃ tuyhaṃ kareyyāmi ahaṃ puna.
|
3714. Ta xin bày tỏ sự thật với
nàng, hỡi nàng công chúa, xin nàng hăy lắng nghe ta. Không c̣n
có việc ta có thể tỏ ra không yêu quư nàng. |
74. Này nghe ta nói, hỡi công
nương,
Ta cũng trao lời hứa thật chơn:
Ta sẽ không làm ǵ xúc phạm
Chẳng bao giờ nữa, với nàng thương! |
|
3715. Tava kāmā hi sussoṇi bahuṃ
dukkhaṃ titikkhisaṃ,
pahu maddakulaṃ gantvā nayituṃ taṃ pabhāvati.
|
3715. Bởi v́ dục vọng đối với
nàng, hỡi cô nàng có eo thon, ta chịu đựng nhiều khổ sở. Này
Pabhāvatī, ta đă nhiều lần đi đến gia tộc Madda để rước nàng
đi.” |
75. Ta phải chịu bao nỗi muộn
phiền
V́ yêu nàng quá, hỡi người tiên!
Ta nguyền giết hết bầy vua chúa,
Cùng với nàng, ta lại đẹp duyên! |
|
3716. Yojayantu rathe asse
nānācitte samāhite,
atha dakkhatha me vegaṃ vidhamentassa sattavo.
|
3716. “Hăy thắng những con ngựa
đă được thuần thục vào cỗ xe có nhiều màu sắc. Rồi các người hăy
nh́n xem năng lực của ta trong khi ta tiêu diệt các kẻ thù.” |
76. Đi mau, thắng tuấn mă nhu
thuần
Vào các cỗ xe khéo điểm trang,
Rồi hăy nh́n ta anh dũng tiến
Đánh cho tan tác bọn cừu nhân. |
|
3717. Tañca tattha udikkhiṃsu
rañño maddassa thīpure,
vijambhamānaṃ sīhaṃva pothentaṃ diguṇaṃ bhujaṃ.
|
3717. Và tại nơi ấy, các nữ nhân
ở hậu cung của đức vua xứ Madda đă quan sát vị ấy đang vỗ vào
hai cánh tay, tựa như con sư tử đang vươn dậy. |
77. Công nương nội điện chúa
Mad-da,
Chiêm ngưỡng ngài đang đứng phía xa
Chẳng khác mănh sư chồm đứng dậy,
Đôi tay đấm giữa khoảng bao la. |
|
3718. Hatthikkhandhañca āruyha
āropetvā pabhāvatiṃ,
saṅgāmaṃ otaritvāna sīhanādaṃ nadī kuso.
|
3718. Sau khi cỡi lên ḿnh voi,
và đă đưa nàng Pabhāvatī lên (ngồi ở phía sau), đức vua Kusa đă
lao vào trận chiến và đă rống lên tiếng rống sư tử. |
78. Ngự ḿnh voi, bà hoàng ngồi
sau chúa,
Vua Ku-sa lâm trận, giọng vang rền, |
|
3719. Tassa taṃ nadato sutvā
sīhassevitare migā,
khattiyā vipalāyiṃsu kusasaddabhayaṭṭitā.
|
3719. Sau khi nghe tiếng rống của
vị ấy trong lúc vị ấy rống lên, các vị Sát-đế-lỵ, bị hành hạ do
sự sợ hăi tiếng rống của đức vua Kusa, đă tẩu tán, tựa như các
loài thú khác đă chạy trốn sau khi nghe tiếng rống của con sư
tử. |
79. Muôn loài nghe sư tử rống gầm
lên,
Địch vương thảy bàng hoàng, vùng tán loạn. |
|
3720. Hatthārohā anīkaṭṭhā
rathikā pattikārakā,
aññamaññassa chindanti kusasaddabhayaṭṭitā.
|
3720. Các viên quản tượng, các
ngự lâm quân, các xa binh, và các bộ binh, bị hành hạ do sự sợ
hăi tiếng rống của đức vua Kusa, đă dẫm đạp lẫn nhau.
|
80. Vệ sĩ, bộ binh, pháo, xa, mă,
tượng
Nghe tiếng Ku-sa, rủ liệt hăi hùng,
Chúng ră rời và tháo chạy đường cùng. |
|
3721. Tasmiṃ saṅghāma sīsasmiṃ
passitvā tuṭṭhamānaso,
kusassa rañño devindo adā verocanaṃ maṇiṃ.
|
3721. Sau khi nh́n thấy trận
chiến đấu ấy, vị Chúa của chư Thiên, với tâm ư hoan hỷ, đă ban
cho đức vua Kusa viên ngọc ma-ni tên Veracana. |
81. Đế Thích ngắm chiến trường,
ḷng hoan hỷ
Tặng hoàng đế Ku-sa viên ngọc quí
Ve-ro-can là mỹ hiệu bảo trân. |
|
3722. So taṃ vijitvā saṅgāmaṃ
laddhā verocanaṃ maṇiṃ,
hatthikkhandhagato rājā pāvekkhi nagaraṃ puraṃ.
|
3722. Sau khi chiến thắng trận
chiến ấy và đă nhận được viên ngọc Verocana, vị vua ấy, ngồi ở
ḿnh voi, đă đi vào thành phố Nagara. |
82. Chiến thắng rồi, vua nhận lấy
ngọc thần,
Ngất nghểu ngự ḿnh voi, về thị trấn
Của Mạch-đa, các địch vương bắt sống |
|
3723. Jīvagāhaṃ gahetvāna
bandhitvā satta khattiye,
sasurassupanāmesi ime te deva sattavo.
|
3723. Sau khi đă bắt sống và trói
lại bảy vị Sát-đế-lỵ, đức vua Kusa đă tŕnh họ lên cha vợ (nói
rằng): “Tâu bệ hạ, những người này là những kẻ đối địch với bệ
hạ.
|
83. Bị gông xiềng, đem đến trước
phụ vương:
-- "Xin Chúa công hăy ngắm các cừu nhân
Nay nằm đó, tùy nghi quyền sinh sát, |
|
Trang 302:
|
Trang 303:
|
|
3724. Sabbeva te vasaṅgatā amittā
vihatā tava,
kāmaṃ karohi te tayā muñca vā te hanassu vā.
|
3724. Tất cả bọn họ đều ở trong
quyền hạn của bệ hạ. Những kẻ thù của bệ hạ đă được loại trừ. Bệ
hạ hăy đối xử với chúng tùy theo ư thích của bệ hạ: Bệ hạ hăy
trả tự do cho chúng hoặc hăy giết chết chúng.” |
84. Chúng chiến bại đầy đắng cay
chua chát,
Nay Chúa công tàn sát cứ thỏa ḷng,
Hay thả ra lần nữa hưởng hồng ân". |
|
3725. Tumheva sattavo ete nahi te
mayha sattavo,
tvaññeva no mahārāja muñca vā te hanassu vā.
|
3725. “Những người này là những
kẻ đối địch của chính con, họ không phải là những kẻ đối địch
với trẫm. Này đại vương, chính con là chúa tể của chúng tôi. Con
hăy trả tự do cho bọn họ hoặc hăy giết chết bọn họ.” |
85. Các địch vương này thuộc về
Thiên tử,
Nào phải quyền ta; tùy ngài xử sự,
Chỉ ngài là Chúa tể của thần dân,
Xin giết đi hoặc thả chúng thoát thân |
|
3726. Imā te dhītaro satta
devakaññūpamā subhā,
dadāhi nesaṃ ekekaṃ hontu jāmātaro tava.
|
3726. “Bảy người con gái này của
bệ hạ xinh đẹp tương tự như các tiên nữ. Bệ hạ hăy ban cho chúng
mỗi người một cô. Hăy để chúng trở thành những người con rể của
bệ hạ.”
|
86. Bảy nàng công chúa tựa tiên
nga
Tuyệt thế giai nhân đẹp mắt ta,
Gả các nàng cho vua bảy nước
Để làm pḥ mă của vương gia. |
|
3727. Amhākañceva tāsañca tvaṃ no
sabbesamissaro,
tvaññeva no mahārāja dehi nesaṃ yadicchasi.
|
3727. “Không những đối với chúng
tôi mà c̣n đối với các nàng ấy nữa, con là chúa tể của tất cả
chúng tôi. Này đại vương, chính con là chúa tể của chúng tôi.
Con hăy ban cho bọn họ nếu con thích.” |
87. Ngự ngôi tối thượng, trước
toàn dân,
Quyết định ngài nay phải vẹn tṛn,
Xin gả công nương theo thánh ư,
Ngài là Chúa tể của quần thần. |
|
3728. Ekamekassa ekekaṃ adā
sīhassaro kuso,
khattiyānaṃ tadā nesaṃ rañño maddassa dhītaro.
|
3728. Khi ấy, đức vua Kusa có
giọng nói sư tử đă ban từng cô con gái một của đức vua xứ Madda
đến từng người một trong số các vị Sát-đế-lỵ ấy. |
88. Ku-sa sư tử hống vang rền
Đem Mạch-đa công chúa kết duyên
Cả bảy nàng ban phần bảy vị,
Anh hùng sánh với gái thuyền quyên. |
|
3729. Pīṇitā tena lābhena tuṭṭhā
sīhassare kuse,
sakaraṭṭhāni pāyiṃsu khattiyā satta tāvade.
|
3729. Được hài ḷng với việc đạt
được ấy, được vui vẻ với đức vua Kusa có giọng nói sư tử, bảy vị
Sát-đế-lỵ đă trở về đất nước của ḿnh liền khi ấy. |
89. Hoan hỷ đón bao nỗi ước mơ
Từ bàn tay Chúa tể Ku-sa,
Bảy vương tử nọ liền hồi giá
Trở lại triều vua mỗi nước nhà. |
|
3730. Pabhāvatiñca ādāya maṇiṃ
verocanaṃ subhaṃ,
kusāvatiṃ kuso rājā agamāsi mahabbalo.
|
3730. Sau khi mang theo nàng
Pabhāvatī và viên ngọc ma-ni Verocana xinh đẹp, đức vua Kusa, vị
có binh lực vĩ đại, đă đi đến thành Kusāvatī. |
90. Cầm lấy bảo châu tỏa sáng
bừng,
Xa giá Ku-sa trở lại cung
Rước về ngọc nữ Pa-bhà ấy,
Hoàng đế Ku-sa, bậc đại hùng. |
|
3731. Tyassu ekarathe yantā
pavisantā kusāvatiṃ,
samānā vaṇṇarūpena nāññamaññamatirocayuṃ.
|
3731. Trong lúc đi chung một cỗ
xe, trong lúc đi vào thành Kusāvatī, với sắc đẹp và dáng vóc
tương đương nhau, hai người đă không vượt trội lẫn nhau.
|
91. Cùng ngự vào trong một bảo
xa,
Sánh đôi vương giả trở về nhà,
Chẳng ai sáng chói hơn người khác,
V́ cả hai đồng đẹp tuyệt mà! |
|
3732. Mātā puttena saṅgañchi
ubhayo ca jayampatī,
samaggā te tadā āsuṃ phītaṃ dharaṇimāvasun ”ti.
|
3732. Người mẹ đă gặp lại đứa con
trai. Và cả hai vợ chồng ấy, từ đó, đă trở nên ḥa hợp, đă cư
ngụ ở trái đất hưng thịnh.” |
92. Mẹ hiền ra đón rước hoàng
nhi,
Từ đó quân vương với ái thê
Hạnh phúc lứa đôi cùng tận hưởng,
Nước nhà hưng thinh, lạc tràn trề.
Câu chuyện
531 |
|
Kusajātakaṃ.
*** |
Bổn sanh Đức Vua Kusa. [531]
*** |
|
Trang 304:
|
Trang 305:
|
|
▪ 2.
SOṆANANDAJĀTAKAṂ
|
▪ 2.
BỔN SANH SOṆANANDA
|
532. Chuyện hai
hiền giả Sona - Nanda
(Tiền thân Sona -
Nanda) |
|
3733. Devatānusi gandhabbo ādu
sakko purindado,
manussabhūto iddhimā kathaṃ jānemu taṃ mayaṃ. |
3733. “Phải chăng ngài là vị
Thiên nhân, là vị Càn-thát-bà, hay là Thiên Chủ Sakka, vị đă bố
thí trước đây, hay là người có thần thông? Làm thế nào chúng tôi
có thể biết về ngài?” |
1. Nhạc thần, Thiên tử, phải
ngài chăng,
Hay ngẫu nhiên ta gặp Ngọc hoàng,
Hoặc một người thần thông quảng đại,
Ngự bao thành trị thật vinh quang.
Nay ta ao ước ngài cho biết
Quư tánh phương danh thật rơ ràng. |
|
3734. Namhi devo na gandhabbo
namhi sakko purindado,
manussabhūto iddhimā evaṃ jānāhi bhārata.
|
3734. “Ta không phải là Thiên
nhân, không phải là Càn-thát-bà, cũng không phải là Thiên Chủ
Sakka, vị đă bố thí trước đây, ta là người có thần thông. Tâu vị
cai quản đất nước, xin bệ hạ hăy biết như vậy.”
|
2. Ta chẳng Thiên nhân, hoặc
Nhạc thần,
Cũng không Thiên chủ hoặc quân vương.
Ta là người đủ thần thông lực,
Sự thật nay ta đă tỏ tường. |
|
3735. Katarūpamidaṃ bhotā
veyyāvaccaṃ anappakaṃ,
devamhi vassamānamhi anovassaṃ bhavaṃ akā.
|
3735. “Công việc phục vụ với h́nh
thức này đă được ngài làm không phải là ít. Trong khi trời đang
mưa, ngài đă làm cho không có mưa. |
3. Công đức ngài ban bố chúng
tôi
Làm sao nói hết được nên lời,
Giữa ḍng mưa lũ tuôn ồ ạt,
Chẳng có trên đầu một giọt rơi. |
|
3736. Tato vātātape ghore
sītacchāyaṃ bhavaṃ akā,
tato amittamajjhe ca saratāṇaṃ bhavaṃ akā.
|
3736. Sau đó, khi có làn gió nóng
dữ dội, ngài đă tạo ra bóng râm mát mẻ. Kế đến, khi ở giữa quân
thù, ngài đă làm ra sự che chắn các mũi tên. |
4. Bóng mát ngài làm cho chúng
ta
Khi luồng gió đốt cháy bay qua;
Khỏi làn tên ác, ngài bao phủ
Giữa biết bao cừu địch quốc gia. |
|
3737. Tato phītāni raṭṭhāni
vasino te bhavaṃ akā,
tato ekasataṃ khatye anuyante bhavaṃ akā.
|
3737. Tiếp đó, ngài đă làm cho
các đất nước của vị quân vương chúng tôi trở nên phồn thịnh. Sau
đó, ngài đă khiến cho một trăm vị Sát-đế-lỵ quy thuận.
|
5. Thật nhiều quốc độ lạc an
tràn
Ngài bảo tôn ta Đại đế vương,
Hơn cả một trăm vị lănh chúa
Trở thành tuân phục lệnh ta ban. |
|
3738. Patītāssu mayaṃ bhoto vara
taṃ bhaññamicchasi,
hatthiyānaṃ assarathaṃ nāriyo ca alaṅkatā,
nivesanāni rammāni mayaṃ bhoto dadāmase.
|
3738. Chúng tôi thật sự hoan
nghênh ngài. Ngài hăy chọn điều quư giá mà ngài thích. Hăy để
chúng tôi ban cho ngài phương tiện di chuyển bằng voi, cỗ xe
ngựa kéo, các nữ nhân đă được trang điểm, và các chỗ trú ngụ
đáng yêu. |
6. Những ǵ ngài chọn giữa kho
tàng
Hoan hỷ ta trao nhượng sẵn sàng:
Xe thắng đàn voi hay tuấn mă,
Cung tần xiêm áo đẹp trang hoàng,
Vương cung mỹ lệ nào ngài thích
Đều sẽ trở thành của Đại nhân. |
|
3739. Atha vā aṅge vā magadhe
mayaṃ bhoto dadāmase,
atha vā assakāvantiṃ sumanā damma te mayaṃ.
|
3739. Hay là chúng tôi sẽ ban
tặng ngài xứ sở Aṅga hay Magadha. Hoặc là chúng tôi sẽ vui ḷng
ban tặng ngài xứ sở Assaka và Avanti. |
7. Nếu muốn ngự cung
Ma-kiệt-đà,
Hoặc là quốc độ xứ An-ga
A-van-ti, trẫm vui ḷng nhượng,
Hoặc đến trị dân As-sa-ka. |
|
3740. Upaḍḍhaṃ vāpi rajjassa
mayaṃ bhoto dadāmase,
sace te attho rajjena anusāsa yadicchasi.
|
3740. Thậm chí, hăy để chúng tôi
ban tặng ngài luôn cả một nửa đất nước. Nếu ngài có nhu cầu với
toàn thể vương quốc, xin ngài hăy lănh đạo nếu ngài muốn.”
|
8. Dẫu ngài muốn một nửa giang
sơn,
Trẫm nhượng với tâm hỷ lạc tràn,
Chỉ nói một lời điều ước muốn,
Tức th́ vật ấy của hiền nhơn. |
|
3741. Na me atthopi rajjena
nagarena dhanena vā,
athopi janapadena attho mayhaṃ na vijjati.
|
3741. “Ta không có nhu cầu với
vương quốc, với thành phố, hay với của cải, thậm chí nhu cầu với
xứ sở; nhu cầu của ta không có. |
9. Vương quốc ta nào có ước
ao,
Kinh thành, lănh dịa chẳng mong cầu,
Cũng không t́m kiếm nhiều tài sản
Từ chính bàn tay Đại đế đâu. |
|
3742. Bhotova raṭṭhe vijite
araññe atthi assamo,
pitā mayhaṃ janettī ca ubho sammanti assame.
|
3742. Ở đất nước đă được thâu
phục của chính bệ hạ, có một khu ẩn cư ở trong rừng. Người cha
và người mẹ ruột của ta, cả hai trú ở khu ẩn cư (ấy). |
10-11. Dưới quyền ngài, ngụ
lăo song thân
Hưởng cảnh am tranh ở núi rừng,
Ta chẳng được làm ǵ phước đức
Với song thân ấy lăo hiền nhân.
Nếu ngài nói hộ điều ta muốn,
Hiền giả So-na hết hận sân. |
|
3743. Tesāhaṃ pubbācariyesu
puññaṃ na labhāmi kātave,
bhavantaṃ ajjhācaraṃ katvā soṇaṃ yācāmu saṃvaraṃ.
|
3743. Ta không có được cơ hội để
làm phước đến hai vị thầy đầu tiên ấy. Sau khi có bệ hạ làm
người ủng hộ, chúng ta hăy yêu cầu Soṇa về việc ngăn cấm (làm
phước) ấy.”
|
|
Trang 306:
|
Trang 307:
|
|
3744. Karomi te taṃ vacanaṃ yaṃ
maṃ bhaṇasi brāhmaṇa,
etañca kho no akkhāhi kīvanto hontu yācakā.
|
3744. “Thưa vị Bà-la-môn, điều mà
ngài nói với trẫm, hăy để trẫm thực hiện lời nói ấy của ngài. Và
ngài hăy giải thích cho chúng tôi điều này: ‘Phải có bao nhiêu
người thỉnh cầu?’” |
12. Hoan hỷ, ta xin sẽ vẹn
tṛn
Lệnh ngài, hỡi vị Bà-la-môn,
Song ai là kẻ ta cần chọn
Để tiến hành ngay lệnh Đại nhơn? |
|
3745. Parosataṃ jānapadā mahāsālā
ca brāhmaṇā,
ime ca khattiyā sabbe abhijātā yasassino,
bhavañca rājā manojo alaṃ hessanti yācakā.
|
3745. “Hơn một trăm gia chủ, và
các Bà-la-môn có đại sảnh, cùng tất cả các vị Sát-đế-lỵ đă được
sanh ra cao quư, có danh tiếng này, và ngài là đức vua Manoja,
th́ sẽ đủ những người thỉnh cầu.”
|
13. Hơn trăm phú hộ,
Bà-la-môn,
Vơ tướng oai quyền, danh vọng vang,
Đại đế Ma-no-ja, đủ số
Làm ta thỏa nguyện ước hoàn toàn. |
|
3746. Hatthī asse ca yojentu
rathaṃ sannayha sārathi,
ābandhanāni gaṇhatha pādesussārayaṃ dhaje,
assamaṃ taṃ gamissāmi yattha sammati kosiyo.
|
3746. “Hăy chuẩn bị các con voi
và các con ngựa. Này người đánh xe, hăy sẵn sàng cỗ xe. Các
khanh hăy nắm lấy các dây cương, hăy giương lên các lá cờ ở
những trụ cắm. Trẫm sẽ đi đến khu ẩn cư ấy, nơi vị Kosiya trú
ngụ.” |
14. Thắng ngay tượng, mă vào
vương xa,
Từ trụ, càng xe, vẫy ngọn cờ
Theo gió, ta đi t́m ẩn sĩ
Trú nơi xa vắng, Ko-si-ya. |
|
3747. Tato ca rājā pāyāsi senāya
caturaṅginī,
agamāsi assamaṃ rammaṃ yattha sammati kosiyo.
|
3747. Và sau đó, đức vua đă khởi
hành cùng với bốn đội quân binh. Đức vua đă đi đến khu ẩn cư
đáng yêu, nơi vị Kosiya trú ngụ.
|
15. Hộ giá theo hầu, bốn đạo
binh,
Đại vương tiến bước để đăng tŕnh
Đi t́m chốn thảo am tươi đẹp
Ẩn sĩ trú an với hạnh lành. |
|
3748. Kassa kādambayo kājo
vehāsaṃ caturaṅgulaṃ,
aṃsaṃ asamphusaṃ eti udahārassa gacchato.
|
3748. “Cái giỏ làm bằng cây
kadamba của người nào đang đi
lấy nước mà di chuyển ở trên không với khoảng cách bốn ngón tay
và không chạm vào vai của người ấy?” |
16. Ai đi t́m nước giữa không
gian,
Với bước chân kia thật nhịp nhàng,
Đ̣n gánh cách xa chừng một tấc
Chẳng hề đụng chạm tới ḿnh vàng? |
|
3749. Ahaṃ soṇo mahārāja, tāpaso
sahitabbato,
bharāmi mātāpitaro rattindivamatandito.
|
3749. “Tâu đại vương, tôi là đạo
sĩ khổ hạnh Soṇa đang hành tŕ phận sự. Tôi chăm sóc mẹ và cha,
đêm ngày không biếng nhác. |
17. So-na đạo sĩ chẳng bao giờ
Đi lạc ra ngoài luật ẩn cư,
Phụng dưỡng song thân ta sớm tối,
Ngày đêm không mỏi mệt ưu tư. |
|
3750. Vane phalañca mūlañca
āharitvā disampati,
posemi mātāpitaro pubbekatamanussaraṃ.
|
3750. Tâu bậc chúa tể một phương,
sau khi mang lại trái cây và rễ củ ở trong rừng, tôi phụng dưỡng
mẹ và cha, trong khi tưởng nhớ đến ân đức đă làm trước đây (của
họ).”
|
18. Khoai sắn, chùm dâu, ấy
thức ăn
Trong rừng ta kiếm để đem dâng,
Đời đời ghi nhớ ơn hai vị
Xưa đă cho ta hưởng phước phần. |
|
3751. Icchāma assamaṃ gantuṃ
yattha sammati kosiyo,
maggaṃ no soṇa akkhāhi yena gacchemu assamaṃ.
|
3751. “Chúng tôi muốn đi đến khu
ẩn cư ấy, nơi vị Kosiya trú ngụ. Thưa ngài Soṇa, ngài hăy chỉ
dẫn cho chúng tôi con đường, nhờ nó chúng tôi có thể đi đến khu
ẩn cư.” |
19. Ta mong đến tận chốn am
tranh
Đạo sĩ Ko-si-ya ẩn ḿnh,
Hiền giả So-na xin chỉ lối
Đưa ta đến tịnh thất an lành. |
|
3752. Ayaṃ ekapadī rāja yenetaṃ
meghasannibhaṃ,
koviḷārehi sañchannaṃ ettha sammati kosiyo.
|
3752. “Tâu bệ hạ, đây là lối đi
bộ độc nhất, theo đó (bệ hạ sẽ nh́n thấy) nơi ấy giống như đám
mây, được bao phủ bởi những cây
koviḷāra; vị Kosiya trú ngụ ở nơi này.” |
20. Đây lối Đại vương hăy nhờ
rành:
Đằng xa khóm lá. đậm màu xanh
Giữa lùm mun mọc như rừng nhỏ,
Nơi ấy thảo am sẽ hiện h́nh. |
|
3753. Idaṃ vatvāna pakkāmi
taramāno mahāisi,
vehāse antalikkhasmiṃ anusāsitvāna khattiye.
|
3753. Sau khi nói điều này, sau
khi đă chỉ bảo cho các vị Sát-đế-lỵ, vị đại ẩn sĩ đă vội vă ra
đi bằng đường hư không ở trên bầu trời. |
21. Như vậy bậc Hiền trí đại
hùng,
Chỉ đường cho các vị vương quân,
Xong ngài vội vă về am thất,
Lần nữa du hành giữa cơi không. |
|
3754. Assamaṃ parimajjitvā
paññāpetvāna āsanaṃ,
paṇṇasālaṃ pavisitvā pitaraṃ paṭibodhayi.
|
3754. Sau khi quét dọn khu ẩn cư
và xếp đặt chỗ ngồi, vị ấy đă đi vào gian nhà lá thông báo cho
người cha:
|
22. Kế đó quét xong chốn thảo
am,
Đi t́m nơi ẩn dật nghiêm đường,
Ngài vừa thức lăo hiền nhân dậy,
Vừa tặng dâng cha một tọa sàng. |
|
Trang 308:
|
Trang 309:
|
|
3755. Ime āyanti rājāno abhijātā
yasassino,
assamā nikkhamitvāna nisīdāhi mahāisi.
|
3755. “Các vị vua đă được sanh ra
cao quư, có danh tiếng này đang đi đến, thưa bậc đại ẩn sĩ, cha
hăy rời khỏi nơi ẩn cư và ngồi xuống (ở đây).” |
23. Ngài nói: "Thánh nhân hăy
đến ngay,
Con xin cha tọa lạc nơi này,
Các vua quư tộc danh lừng lẫy
Sắp ngự giá qua giữa lối này. |
|
3756. Tassa taṃ vacanaṃ sutvā
taramāno mahāisi,
assamā nikkhamitvāna padvāramhi upāvisi.
|
3756. Sau khi lắng nghe lời nói
ấy của vị ấy, bậc đại ẩn sĩ đă vội vă rời khỏi nơi ẩn cư và đă
ngồi xuống ở phía trước cánh cửa ra vào. |
24. Như vậy sao khi vị lăo
niên
Nghe con đ̣i hiện diện cầu xin,
Vội vàng chân bước từ am thất
An tọa ở bên cạnh cửa tiền. |
|
3757. Tañca disvāna āyantaṃ
jalantariva tejasā,
khattasaṅghaparibbūḷhaṃ kosiyo etadabravi.
|
3757. Và sau khi nh́n thấy vị vua
ấy–tựa như đang chói sáng nhờ vào uy quyền–đang đi đến, được
tháp tùng bởi tập thể các vị Sát- đế- lỵ, bậc ẩn sĩ Kosiya đă
nói điều này:
|
25. Thấy vua đứng đó đại vinh
quang
Được hộ tống quanh bởi tiểu vương,
Bậc lăo hiền nhân liền cất tiếng
Hỏi thăm con trẻ chuyện trên đường: |
|
3758. Kassa bherī mudiṅgā ca
saṅkhā paṇavadeṇḍimā,
purato paṭipannāni hāsayantā rathesabhaṃ.
|
3758. “Người nào có các trống lớn
và các trống nhỏ, các tù và bằng vỏ ốc, các chập chơa và các
trống con di chuyển ở phía trước, đang làm vui ḷng đấng thủ
lănh xa binh? |
26. "Ai đến đây trong tiếng
rộn ràng
Tù và, trống lớn nhỏ lừng vang,
Âm thanh làm các vua hoan hỷ,
Ai đến đây ca khúc khải hoàn? |
|
3759. Kassa kañcanapaṭṭena
puthunā vijjuvaṇṇinā,
yuvā kalāpasannaddho ko eti siriyā jalaṃ.
|
3759. Người nào mang khăn quấn
đầu bằng vàng rộng lớn có màu sắc của tia chớp? Người nào, trẻ
tuổi, nai nịt với bó tên, đang đi đến, chói sáng với sự vinh
quang? |
27. Ai đây đang đến thật huy
hoàng,
Khăn quấn đầu cao dệt sợi vàng,
Như chớp sáng ngời, cung tiễn đủ,
Anh hùng trẻ tuổi thật can tràng? |
|
3760. Ukkā mukhe pahaṭṭhaṃva
khadiraṅgārasannibhaṃ,
mukhañca ruciraṃ bhāti ko eti siriyā jalaṃ.
|
3760. Người nào tỏa sáng gương
mặt vui tươi, giống như than hừng của cây
khadira cháy rực ở miệng ở bễ
ḷ rèn, đang đi đến, chói sáng với sự vinh quang?
|
28. Ai đây đang đến thật vinh
quang,
Nét mặt vui tươi tỏa ánh vàng
Như đám lửa tàn, cành phượng vĩ
Sáng ngời đang cháy ở ḷ than? |
|
3761. Tassa paggahitaṃ chattaṃ
sasalākaṃ manoramaṃ,
ādiccaraṃsāvaraṇaṃ ko eti siriyā jalaṃ.
|
3761. Cây lọng che của vị ấy, với
gọng sườn làm thích ư, được giương lên cản ngăn ánh nắng mặt
trời. Người nào đang đi đến, chói sáng với sự vinh quang? |
29. Ai đến đây cùng chiếc lọng
cao
Được giương lên thật khéo làm sao,
Lọng che với gọng sườn tô điểm
Xua ánh nắng gay gắt chói vào? |
|
3762. Kassa aṅgaṃ pariggayha
vālavījanimuttamā,
caranti varapaññassa hatthikkhandhena āyato.
|
3762. Người nào với chiếc quạt
đuôi ḅ tuyệt hảo che chở cơ thể trong khi đang di chuyển, có
trí tuệ cao quư, ở trên ḿnh voi đang tiến đến gần? |
30. Ai kia x̣e quạt để pḥng
thân,
Quạt kết lông đuôi trâu chúa rừng,
Như một vị hiền nhân trí giả
Cỡi lưng voi nọ dáng oai phong? |
|
3763. Kassa setāni chattāni
ājānīyā ca vammitā,
samantā parikīranti ko eti siriyā jalaṃ.
|
3763. Người nào có những chiếc
lọng màu trắng và những con ngựa thuần chủng đă được vũ trang
tản mác ở xung quanh, khắp mọi nơi? Người nào đang sáng ngời rực
rỡ đi đến?
|
31. Ai đang đến rực rỡ, huy
hoàng,
Các lọng giương cao trắng vẹn toàn,
Tuấn mă giáp bào ḍng quư tộc
Vây quanh phải trái thật hiên ngang? |
|
3764. Kassa ekasataṃ khatyā
anuyantā yasassino,
samantā anupariyanti ko eti siriyā jalaṃ.
|
3764. Người nào được một trăm vị
Sát-đế-lỵ có danh tiếng tháp tùng, di chuyển theo ở khắp mọi
nơi? Người nào đang đi đến, chói sáng với sự vinh quang? |
32. Ai kia đang đến tận nơi
đây,
Được cả hơn trăm lănh chúa này
Hộ tống một đoàn vua quư tộc,
Sau lưng và trước mặt như vầy? |
|
3765. Hatthi assā rathā patti
senāya caturaṅganī,
samantā anupariyanti ko eti siriyā jalaṃ.
|
3765. Bốn đội quân binh: tượng
binh, kỵ binh, xa binh, và bộ binh di chuyển theo ở khắp mọi
nơi. Người nào đang đi đến, chói sáng với sự vinh quang? |
33. Các vương xa với một đàn
voi
Đám bộ binh cùng với đám ngựa ṇi,
Ai đến với oai nghi chiến dấu,
Bốn đoàn quân bố trận kia rồi? |
|
3766. Kassesā mahatī senā
piṭṭhito
anuvattatī,
akkhobhanī apariyantā sāgarasseva ūmiyo.
|
3766. Người nào có đội quân vĩ
đại ấy tiếp nối ở phía sau, không bị rối loạn, không ước lượng
được, tựa như các làn sóng của biển cả là tuần tự, vô số?”
|
34. Ai đến cùng tất cả đạo
quân
Theo sau hộ giá rộng mênh mông
Không hề gián đoạn, dài vô tận,
Như sóng đại dương vỗ chập chùng? |
|
Trang 310:
|
Trang 311:
|
|
3767. Rājābhirājā manojo indova
jayataṃ pati,
nandassajjhāvaraṃ eti assamaṃ brahmacārinaṃ.
|
3767. “Dức vua Manoja, vua của
các vị vua, tựa như vị Thần Inda chúa tể của cơi Trời Đạo Lợi,
ủng hộ tôn giả Nanda, và đi đến khu ẩn cư gặp bậc Phạm hạnh.
|
35. "Ma-no đại đế, với Nan-da,
Ngự giá đến đây viếng, hỡi cha,
Như thể In-dra Thiên chủ ấy
Đến đây thăm chốn ẩn am ta. |
|
3768. Tassesā mahatī senā
piṭṭhito anuvattatī,
akkhobhanī apariyantā sāgarasseva ūmiyo.
|
3768. Vị ấy có đội quân vĩ đại ấy
tiếp nối ở phía sau, không bị rối loạn, không ước lượng được,
tựa như các làn sóng của biển cả là tuần tự, vô số.” |
36. Hộ tống ngài đang đến cả
đoàn
Sẵn sàng tuân lệnh, thật hùng cường,
Không hề gián đoạn, dài vô tận,
Như sóng chập chùng giữa đại dương". |
|
3769. Anulittā candanena
kāsikuttamadhārino,
sabbe pañjalikā hutvā isīnaṃ ajjhupāgamuṃ.
|
3769. Tất cả (đoàn người) đă được
thoa trầm hương, với trang phục hạng nhất của xứ Kāsi, đă chắp
tay lại và đi đến gần các vị ẩn sĩ.
|
37. Lụa tối cao sang, khoác
cẩm bào,
Dầu trầm hương ngát điểm tô vào,
Các vua này đến gần hai vị
Thánh giả, dáng cung kính khẩn cầu. |
|
3770. Kacci nu bhoto kusalaṃ
kacci bhoto anāmayaṃ,
kacci uñchena yāpetha kacci mūlaphalā bahū.
|
3770. “Chắc hẳn các ngài được tốt
lành? Chắc hẳn các ngài không bệnh hoạn? Chắc hẳn các ngài nuôi
sống bằng việc thu nhặt? Chắc hẳn có nhiều rễ củ và trái cây? |
38. Trẫm vẫn tin rằng các
Thánh nhân
Sống đời thịnh vượng lẫn an khang,
Kiếm nhiều mễ cốc cùng rau trái
Phong phú khắp nơi chốn trú an. |
|
3771. Kacci ḍaṃsā ca makasā
appameva siriṃsapā,
vane vālamigākiṇṇe kacci hiṃsā na vijjatī.
|
3771. Chắc hẳn có rất ít ruồi,
muỗi, và các loài ḅ sát? Chắc hẳn không có sự hăm hại ở khu
rừng có các loài thú dữ lai văng?” |
39. Hẳn các ngài không bị bọ
rầy,
Loài ḅ sát quấy nhiễu lâu nay,
Các ngài tránh được bao phiền lụy
Do thú săn mồi ở chốn đây? |
|
3772. Kusalañceva no rāja atho
rāja anāmayaṃ,
atho uñchena yāpema atho mūlaphalā bahū.
|
3772. “Tâu bệ hạ, chúng tôi có sự
tốt lành. Và tâu bệ hạ, không có bệnh hoạn. Chúng tôi nuôi sống
bằng việc thu nhặt. Rễ củ và trái cây có nhiều.
|
40. Xin cám ơn ngài, hỡi Đại
vương,
Chúng ta luôn thịnh vượng, an khương,
Kiếm nhiều mễ cốc cùng rau quả
Phong phú khắp nơi chốn náu nương. |
|
3773. Atho ḍaṃsā ca makasā
appameva siriṃsapā,
vane vālamigākiṇṇe hiṃsā amhaṃ na vijjati.
|
3773. Có rất ít ruồi, muỗi, và
các loài ḅ sát. Không có sự hăm hại đến với chúng tôi ở khu
rừng có các loài thú dữ lai văng. |
41. Bần đạo cũng không bị bọ
rầy,
Loài ḅ sát quấy nhiễu lâu nay,
Chúng ta tránh được bao phiền lụy
Do thú săn mồi đến chốn đây. |
|
3774. Bahūni vassa pūgāni assame
vasato idha,
nābhijānāmi uppannaṃ ābādhaṃ amanoramaṃ.
|
3774. Có nhiều cây cau lâu năm
cho những người sống ở khu ẩn cư tại nơi này. Bần đạo không biết
đến bệnh tật không thích ư đă được sanh khởi. |
42. Các loại cây cao vẫn mọc
đầy
Cho người ẩn sĩ sống như vầy,
Cũng không bệnh tật gây tai hại
Từng thấy xảy ra ở chốn này. |
|
3775. Svāgatante mahārāja atho te
adurāgataṃ,
issarosi anuppatto yaṃ idhatthi pavedaya.
|
3775. Tâu đại vương, chào mừng bệ
hạ đă đến và việc bệ hạ đă đi đến không gặp khó khăn. Bệ hạ là
đấng chúa tể đă ngự đến; có việc ǵ ở nơi này xin bệ hạ hăy
tuyên bố.
|
43. Bần đạo xin nghênh tiếp
Đại vương,
Dịp may nào chỉ lối đưa đường,
Trông ngài hùng hậu, vinh quang quá,
Sứ mệnh ǵ mang, hăy tỏ tường? |
|
3776. Tindukāni piyālāni madhuke
kāsamāriyo,
phalāni khuddakappāni bhuñja rāja varaṃ varaṃ.
|
3776. Có các loại trái cây
tinduka,
piyāla,
madhuka,
kāsamārī ngọt như mật ong, tâu
bệ hạ, xin bệ hạ hăy thưởng lăm các trái ngon nhất. |
44. Tin-dook, pi-yal, các lá
cây,
Ka-su-ma chín ngọt ngào thay
Như đường mật, kính dâng ngài ngự
Thứ tuyệt hảo nhà có sẵn đây. |
|
3777. Idampi pānīyaṃ sītaṃ
ābhataṃ girigabbharā,
tato piva mahārāja sace tvaṃ abhikaṅkhasi.
|
3777. Cũng có nước uống mát lạnh
này được mang lại từ hang núi, tâu đại vương, xin bệ hạ hăy uống
nước ấy nếu bệ hạ muốn.” |
45. Và nước mát này ở động sâu
Ẩn ḿnh trong một ngọn đồi cao,
Đại vương, xin kính dâng b́nh nước
Ngài ngự cho ḷng thỏa khát khao. |
|
3778. Paṭiggahītaṃ yaṃ dinnaṃ
sabbassa agghiyaṃ kataṃ,
nandassāpi nisāmetha vacanaṃ yaṃ pavakkhati.
|
3778. “Vật giá trị mà các vị đă
làm, đă bố thí cho tất cả chúng tôi, đă được thọ nhận. Xin các
vị hăy lắng tai nghe lời nói của ngài Nanda sẽ phát biểu.
|
46. Trẫm đây cùng tất cả vị
vua
Xin nhận quà ngài tặng chúng ta,
Song hăy lắng nghe lời sắp nói
Của hiền hữu, Trí giả Nan-da. |
|
Trang 312:
|
Trang 313:
|
|
3779. Ajjhāvaramhā nandassa bhoto
santikamāgatā,
suṇātu me bhavaṃ vacanaṃ nandassa parisāya ca.
|
3779. Chúng tôi đă đi đến nơi
này, là những người ủng hộ ngài Nanda. Thưa tôn đức, xin hăy
lắng nghe lời nói của ngài Nanda và của hội chúng.” |
47. Chúng ta tất cả bước theo
hầu
Hiền giả Nan-da đến khẩn cầu
Ngài chiếu cố nghe người khốn khổ
Van xin quy lụy đáp ơn sâu. |
|
3780. Parosataṃ jānapadā mahāsālā
ca brāhmaṇā,
ime ca khattiyā sabbe abhijātā yasassino,
bhavañca rājā manojo anumaññantu me vaco.
|
3780. “Thưa các gia chủ hơn một
trăm vị, và các Bà-la-môn có đại sảnh, cùng tất cả các vị
Sát-đế-lỵ đă được sanh ra cao quư, có danh tiếng này, và ngài là
đức vua Manoja, xin các vị hăy tán thành lời nói của bần đạo.
|
48. Xin cả toàn dân, lẻ một
trăm,
Những người danh vọng Bà-la-môn,
Các vua Sát-ly ḍng cao quư
Sáng chói với tên tuổi lẫy lừng,
Cùng với Ma-no-ja Đại đế,
Thảy đều công nhận việc cầu ân. |
|
3781. Ye vasanti samītāro
yakkhāni idha assame,
araññe bhūtabhavyāni suṇantu vacanaṃ mama.
|
3781. Thưa các vị Dạ-xoa sống ở
nơi này tại khu ẩn cư, các vị thần linh già trẻ ở khu rừng đă tụ
hội lại, xin các vị hăy lắng nghe lời nói của tôi.
|
49. Dạ-xoa Thần ở thảo am này,
Các vị đang quy tụ ở đây,
Lăo, ấu các sơn thần, thổ địa,
Lắng nghe ta nói chuyện như vầy. |
|
3782. Namo katvāna bhūtānaṃ isiṃ
vakkhāmi subbataṃ,
so tyāhaṃ dakkhiṇo bāhu tava kosiya sammato.
|
3782. Sau khi thực hiện việc kính
lễ đến các bậc thần linh, tôi sẽ nói với vị ẩn sĩ có sự hành tŕ
tốt đẹp. Thưa huynh Kosiya, đệ đây đă được huynh công nhận là
cánh tay mặt của huynh.
|
50. Tiểu nhi xin kính lễ song
thân,
Kế đến xin thưa bậc Thánh nhân,
Tiểu đệ là em đây thuở trước
Ngài xem có mặt tựa tay chân. |
|
3783. Pitaraṃ me janettiñca
bhattukāmassa me sato,
vīra puññamidaṃ ṭhānaṃ mā maṃ kosiya vāraya.
|
3783. Trong khi đệ có ước muốn là
người phụng dưỡng cha và mẹ ruột của đệ, thưa vị tinh tấn, việc
làm này là phước thiện của đệ. Thưa huynh Kosiya, xin huynh chớ
cấm cản đệ. |
51. Làm sao phụng dưỡng lăo
song thân
Ấy chính em cầu nguyện đặc ân,
Xin Thánh nhân thôi đừng cản trở
Cho em làm Thánh sự riêng phần. |
|
3784. Sabbhihetaṃ upaññātaṃ
mametaṃ apanissaja,
uṭṭhānapāricariyāya dīgharattaṃ tayā kataṃ,
mātāpitusu puññāni mama lokadado bhava.
|
3784. Việc này đă được các bậc
thiện nhân khích lệ. Huynh hăy trao lại việc này cho đệ. Về công
việc đỡ đần và hầu hạ, huynh đă làm một thời gian dài. Các việc
phước thiện ở cha và mẹ là thuộc về đệ, xin huynh hăy là người
bố thí cơi Trời cho đệ. |
52. Ân cần phụng dưỡng cả song
thân
Trước đă được làm bởi Thánh nhân,
Người thiện tán đồng bao thiện sự,
Sao phiên tiểu đệ chẳng nhường phần?
Do vầy em đạt nhiều công đức,
Đạo lộ lên thiên giới sẵn sàng. |
|
3785. Tatheva santi manujā dhamme
dhammapadaṃ vidū,
maggo saggassa lokassa yathā jānāsi tvaṃ ise.
|
3785. Tương tự y như vậy, có
những người hiểu biết về pháp căn bản thuộc về đạo đức là đạo lộ
đưa đến thế giới thuộc cơi Trời, giống như huynh biết vậy, thưa
vị ẩn sĩ.
|
53. Nhiều người khác biết rơ
nơi đây
Đạo lộ dành cho phận sự này,
Ấy chính con đường lên thượng giới,
Xin Hiền nhân nhận thức như vầy. |
|
3786. Uṭṭhānapāricariyāya
mātāpitusukhāvahaṃ,
taṃ maṃ puññābhivāreti ariyamaggāvaro naro.
|
3786. Về việc đem lại sự an lạc
cho mẹ và cha bằng công việc đỡ đần và hầu hạ, người cấm đoán đệ
về việc phước thiện ấy là người ngăn cản đạo lộ cao thượng của
đệ.” |
54. Song bậc Thánh nhân đă cản
ngăn
Em làm thiện sự thế này chăng?
Khi em mong muốn nhờ công đức
Đem lại song thân trọn lạc an. |
|
3787. Suṇantu bhonto vacanaṃ
bhātu rajjhāvarā mama,
kulavaṃsaṃ mahārāja porāṇaṃ parihāpayaṃ,
adhammacārī yo jeṭṭho nirayaṃ so upapajjati.
|
3787. “Thưa các vị ủng hộ người
em trai của tôi, xin các ngài hăy lắng nghe lời nói của tôi. Tâu
đại vương, người huynh trưởng nào, trong khi bỏ bê truyền thống
gia đ́nh đă có trước đây, rồi có sự hành tŕ sai pháp, kẻ ấy sẽ
tái sanh vào địa ngục.
|
55. Các vị theo hầu tiểu đệ ta
Hăy nghe ta nói lượt bây giờ:
Kẻ nào đối xử đầy khinh bỉ
Nhũng bậc tiền nhân của mẹ cha,
Phạm tội ác cùng chư trưởng lăo,
Tái sinh địa ngục đốt tiêu ma. |
|
Trang 314:
|
Trang 315:
|
|
3788. Ye ca dhammassa kusalā
porāṇassa disampati,
cārittena ca sampannā na te gacchanti duggatiṃ.
|
3788. Tâu vị chúa tể một phương,
những người nào thông thạo về đạo lư của tiền nhân, và được
thành tựu về tánh hạnh, những người ấy không đi đến khổ cảnh.
|
56. Song kẻ tinh thông đạo
Thánh nhân,
Con dường chân lư hiểu tinh tường,
Giữ ǵn giới luật và công hạnh,
Quyết sẽ chẳng sa cảnh khổ buồn. |
|
3789. Mātāpitā ca bhātā ca
bhagini ñātibandhavā,
sabbe jeṭṭhassa te bhārā evaṃ jānāhi bhārata.
|
3789. Mẹ, cha, anh em trai, chị
em gái, thân bằng quyến thuộc, tất cả các trách nhiệm ấy là
thuộc về huynh trưởng. Tâu vị cai quản đất nước, xin bệ hạ hăy
biết như vậy. |
57. Anh em cùng các bậc thân
sinh,
Tất cả do dây kết hợp thành,
Nhiệm vụ suốt đời luôn đặt nặng
Trên vai của vị trưởng hiền huynh. |
|
3790. Ādiyitvā garuṃ bhāraṃ
nāviko viya ussahe,
dhammañca nappamajjāmi jeṭṭho casmi rathesabha.
|
3790. Tâu đấng thủ lănh xa binh,
tôi là huynh trưởng. Sau khi nhận lănh trách nhiệm nặng nề, ví
như người thủy thủ có thể ra sức, tôi không xao lăng bổn phận.”
|
58. Làm trưởng huynh, thiên
chức nặng sao
Hân hoan ta gánh vác đi đầu
Như thuyền trưởng hộ pḥng thuyền nọ,
Chân lư ta không hề lăng xao. |
|
3791. Adhigatamhā tame ñāṇaṃ
jālaṃva jātavedato,
evameva no bhavaṃ dhammaṃ kosiyo pavidaṃsayi.
|
3791. “Chúng tôi đă đạt được sự
hiểu biết, tựa như ngọn lửa đang cháy sáng trong bóng tối, tương
tự y như vậy, ngài Kosiya đă cho chúng tôi thấy rơ đạo lư. |
59. Tri kiến t́m ra tựa lửa
bừng
Sáng ngời chiếu rọi giữa đêm trường,
Cũng như Thánh giả Ko-si ấy
Hiển lộ cho ta lư chánh chân. |
|
3792. Yathā udayam ādicco
vāsudevo pabhaṅkaro,
pāṇinaṃ pavidaṃseti rūpaṃ kalyāṇapāpakaṃ,
evameva no bhavaṃ dhammaṃ kosiyo pavidaṃsayi.
|
3792. Giống như mặt trời, vị Thần
của cải, bậc tạo ra ánh sáng, đang mọc lên cho các chúng sanh
thấy rơ h́nh thể tốt đẹp hay xấu xa, tương tự y như vậy, ngài
Kosiya đă cho chúng tôi thấy rơ đạo lư.”
|
60. Như nhật thần kia chiếu
ánh quang
Sáng ngời khắp mặt biển mênh mang
Phố bày h́nh thể bao sinh vật,
Dù chúng xấu xa hoặc thiện lương,
Cũng vậy Ko-si-ya Thánh giả
Hiển bày chân lư với quân vương. |
|
3793. Evaṃ me yācamānassa añjaliṃ
nāvabujjhatha,
tava baddhacaro hessaṃ vuṭṭhito paricārako.
|
3793. “Trong khi đệ đang cầu xin
như vậy, huynh chẳng nhận biết sự chắp tay của đệ. Đệ sẽ là
người hầu hạ, là người phục vụ đắc lực của huynh.” |
61. Huynh chẳng lưu tâm dáng
khẩn cầu,
Cũng không dang rộng cánh tay đâu,
Em mong làm kẻ hèn nô lệ
Đợi lệnh huynh ban, vội đến chầu. |
|
3794. Addhā nanda pajānāsi
saddhammaṃ sabbhi desitaṃ,
ariyo ariyasamācāro bāḷhaṃ tvaṃ mama ruccasi.
|
3794. “Này Nanda, đương nhiên đệ
nhận biết chánh pháp đă được bậc thiện nhân thuyết giảng. Là
người cao thượng, có sự hành xử cao thượng, đệ khiến huynh rất
hài ḷng. |
62. Em thông Chính pháp, hỡi
Nan-da,
Nhu các Thánh nhân đă dạy mà:
Duy nhất quư cao là thiện sự,
Em làm đẹp ư thỏa ḷng ta. |
|
3795. Bhavantaṃ vadāmi bhotiñca
suṇātha vacanaṃ mama,
nāyaṃ bhāro bhāramatto ahu mayhaṃ kudācanaṃ.
|
3795. Con xin tŕnh bày với cha
và mẹ. Mẹ và cha hăy lắng nghe lời nói của con. Trách nhiệm này
không phải là gánh nặng và đă thuộc về con vào mọi lúc. |
63. Mẹ cha xứng đáng được tôn
thờ,
Em hăy nghe điều ta nói ra:
Nhiệm vụ phần em lo gánh vác
Mà không cảm thấy nặng bao giờ. |
|
Trang 316:
|
Trang 317:
|
|
3796. Taṃ maṃ upaṭṭhitaṃ santaṃ
mātāpitusukhāvahaṃ,
nando ajjhācaraṃ katvā upaṭṭhānāya yācati. |
3796. Trong khi con đang quan tâm
phận sự ấy, là việc đem lại sự an lạc cho mẹ và cha, th́ Nanda,
sau khi tạo sự ủng hộ, thỉnh cầu con về việc hầu hạ (mẹ và cha).
|
64. Mẹ cha ta bảo dưỡng lâu nay
Cũng để cầu mong hạnh phúc vầy,
Đến lượt Nan-da nay đă tới
Cầu xin khúm núm phụng thờ đây. |
|
3797. Yo ve icchati kāmena
santānaṃ brahmacārinaṃ,
nandaṃ vo caratha eko kaṃ nando upatiṭṭhatu. |
3797. Thật sự vị nào trong hai vị
hành Phạm hạnh có đức độ mong muốn một cách tự nguyện, th́ một
vị trong hai vị hăy chọn Nanda. Vậy hăy để cho Nanda hầu hạ
người nào đây?” |
65. Vị nào trong nhị Thánh nhân
hiền
Mong muốn Nan-da phụng dưỡng riêng,
Xin nói một lời, và tiểu đệ
Phải theo hầu vị ấy ưu tiên. |
|
3798. Tayā tāta anuññātā soṇa taṃ
nissitā mayaṃ,
upaghāyituṃ labhe nandaṃ muddhani brahmacārinaṃ. |
3798. “Con yêu, mẹ đă được con
đồng ư. Này Soṇa, mẹ và cha nương tựa vào con. Vậy mẹ có thể
chạm vào Nanda, vị hành Phạm hạnh, ở đỉnh đầu.
|
66. So-na, cha mẹ dựa con đây,
Nếu được con cho phép việc này,
Mẹ sẽ ôm vào ḷng của mẹ
Nan-da thánh thiện quư cao vầy. |
|
3799. Assatthasseva taruṇaṃ
pavāḷaṃ māḷuteritaṃ,
cirassaṃ nandaṃ disvāna hadayaṃ me pavedhati. |
3799. Giống như chồi non của cây
assattha bị lay động bởi gió,
trái tim của mẹ rung động khi nh́n thấy lại Nanda sau một thời
gian dài. |
67. Giống như cây yếu ớt bồ-đề
Rung động v́ cơn gió nặng bề,
Cũng vậy, tim ta vui rộn ră
Thấy Nan-da đă được quay về. |
|
3800. Yadā suttāpi supine nandaṃ
passāmi āgataṃ,
udaggā sumanā homi nando no āgato ayaṃ.
|
3800. Thậm chí lúc đang ngủ,
trong giấc mơ, mẹ nh́n thấy Nanda đi đến. Mẹ trở nên phấn khởi,
thích ư, (nói rằng): ‘Nanda này đi đến với chúng ta.’ |
68 . Dường như ta thấy lại Nan-da
Cũng chẳng khác nào một giấc mơ,
Hóa dại, vui mừng ta hét lớn:
"Nan-da nay trở lại cùng ta!" |
|
3801. Yadā ca paṭibujjhitvā
nandaṃ passāmi nāgataṃ,
bhīyo āvisatī soko domanassañcanappakaṃ.
|
3801. Và đến khi thức giấc, mẹ
nh́n thấy Nanda đă không đi đến. Nỗi sầu muộn xâm nhập nhiều
hơn, và nỗi ưu phiền không phải là ít.
|
69. Song nếu khi tàn giấc ngủ mê,
Thấy Nan-da ấy đă ra đi,
Tâm ta sẽ chịu bao giày xéo
Do nỗi buồn đau quá năo nề. |
|
3802. Sāhaṃ ajja cirassampi
nandaṃ passāmi āgataṃ,
bhattu ca mayhañca piyo nando no pāvisī gharaṃ.
|
3802. Hôm nay, mẹ đây nh́n thấy
Nanda đă đi đến sau một thời gian dài. Hăy để Nanda yêu mến của
cha và mẹ đi vào nhà của chúng ta. |
70. Trở lại hôm nay với mẹ cha,
Nan-da rốt cuộc đă về nhà,
Thân yêu với mẹ cha đồng đẳng,
Nó tạo ngôi nhà với chúng ta. |
|
3803. Pitu ca nando suppiyo yaṃ
nando nappavase gharā,
labhatu tāta nando taṃ maṃ nando upatiṭṭhatu.
|
3803. Và đối với cha, Nanda là vô
cùng đáng yêu. Này con, hăy để cho Nanda chọn lấy việc Nanda sẽ
không sống xa nhà. Hăy để Nanda hầu hạ mẹ.” |
71. Dù nghiêm đường quư mến
Nan-da,
Hăy để em con ở tự do,
Con phục vụ nhu cầu lăo phụ,
Nan-da cần trọn nghĩa cùng ta. |
|
3804. Anukampikā patiṭṭhā ca
pubbe rasadadī ca no,
maggo saggassa lokassa mātā taṃ varate ise.
|
3804. “Mẹ là người có ḷng bi
mẫn, là bến bờ nương tựa, là người ban cho chúng ta hương vị đầu
tiên, là đạo lộ đưa đến thế giới thuộc cơi Trời. Này ẩn sĩ, mẹ
chọn đệ.
|
72. Là nơi nương tựa thật ân cần,
Mẹ đă nuôi ta với sữa nguồn,
Mẹ chính là đường lên thượng giới,
Mẹ thương hiền đệ nhất trên trần. |
|
3805. Pubbe rasadadī gottī mātā
puññūpasañhitā,
maggo saggassa lokassa mātā taṃ varate ise.
|
3805. Mẹ là người ban cho hương
vị đầu tiên, là người bảo bọc, được gắn liền với phước báu, là
đạo lộ đưa đến thế giới thuộc cơi Trời. Này ẩn sĩ, mẹ chọn đệ.” |
73. Mẹ đă chăm lo bảo dưỡng ta,
Mẹ nhiều ân huệ phát ban ra,
Mẹ là đường dẫn lên thiên giới,
Và mẹ yêu hiền đệ nhất nhà. |
|
3806. Ākaṅkhamānā puttaphalaṃ
devatāya namassati,
nakkhattāni ca pucchati utusaṃvaccharāni ca.
|
3806. “Trong lúc mong mỏi sự
thành tựu đứa con trai, mẹ lễ bái Thần linh và t́m hiểu về các
v́ sao, về mùa tiết và năm tháng. |
74. Cầu nguyện khát khao một đứa
con,
Mẹ quỳ trước mỗi một đền thần,
Bốn mùa thay đổi thường quan sát,
Khảo cứu thiên văn thật tận tường. |
|
3807. Tassā utusinātāya hoti
gabbhassavakkamo,
tena dohaḷinī hoti suhadā tena vuccati.
|
3807. Vào thời kỳ tắm rửa lúc có
tháng của mẹ, là thời điểm có sự đậu thai. Do việc đó, mẹ có sự
ốm nghén. Do việc đó, mẹ được gọi là thai phụ.
|
75. Hoài thai theo với khoảng
thời gian,
Mẹ thấy ḷng mong đợi dịu dàng,
Thoáng chốc hài nhi vô ư thức
Bắt đầu quen biết một thân bằng. |
|
Trang 318:
|
Trang 319:
|
|
3808. Saṃvaccharaṃ vā ūnaṃ vā
pariharitvā vijāyati,
tena sā janayantīti janettī tena vuccati.
|
3808. Sau khi cưu mang một năm
hoặc ít hơn th́ lâm bồn. Do việc đó, mẹ là sản phụ. Do việc đó,
mẹ được gọi là người mẹ. |
76. Suốt khoảng thai kỳ ngót một
năm,
Mẹ chăm chút kỹ một kho tàng,
Rồi sau sinh hạ con yêu quư,
Ngày ấy vui ḷng tiếng "mẹ" mang. |
|
3809. Thanakkhīrena gītena
aṅgapāpuraṇena ca,
rodantaṃ puttaṃ toseti tosentī tena vuccati.
|
3809. Với sữa ở bầu vú, với lời
ca, với việc ấp ủ vào giữa ngực, mẹ dỗ dành đứa con trai đang
khóc. Do việc đó, mẹ được gọi là người dỗ dành. |
77. Với bầu sữa, mẹ hát ru con,
Xoa dịu hài nhi khóc nỉ non,
Ấp ủ trong ṿng tay ấm áp,
Nỗi đau của trẻ được xua tan. |
|
3810. Tato vātātape ghore mamaṃ
katvā udikkhati,
dārakaṃ appajānantaṃ posentī tena vuccati.
|
3810. Sau đó, khi có gió và nóng
dữ dội, mẹ tận tụy trông nom đứa bé trai c̣n thơ dại. Do việc
đó, mẹ được gọi là người nuôi dưỡng.
|
78. Trông nom trẻ tội nghiệp thơ
ngây,
Sợ nắng gió làm hại trẻ đây,
Được gọi vú nuôi, thôi cũng được,
Nâng niu con trẻ cứ như vầy. |
|
3811. Yañca mātu dhanaṃ hoti
yañca hoti pituddhanaṃ,
ubhayampetassa gopeti api puttassa no siyā,
evaṃ putta aduṃ putta iti mātā vihaññati.
|
3811. Tài sản nào là thuộc về mẹ
và tài sản nào là thuộc về cha, mẹ bảo vệ cả hai cho đứa con
trai, cho dù tài sản ấy có thể không thuộc về cậu ấy. Người mẹ
khổ tâm (nhắc nhở rằng): ‘Này con trai, hăy làm như vầy. Này con
trai, chớ làm điều ấy.’ |
79. Tài vật nào cha mẹ có đây,
Mẹ dành cho trẻ để sau này,
Bà suy: "Cũng có ngày con hỡi,
Gia sản may ra đến tận tay".
80. "Hăy làm này nọ, bé yêu ơi",
Bà mẹ lo âu gọi thế hoài, |
|
3812. Pamattaṃ paradāresu nisīthe
pattayobbane,
sāyaṃ puttaṃ anāyantaṃ iti
mātā
vihaññati.
|
3812. Người mẹ khổ tâm về đứa con
trai khi đạt đến tuổi thanh niên bị đắm say những người vợ của
kẻ khác vào lúc nửa đêm, và không đi đến (thăm mẹ) vào lúc xế
chiều.’ |
Khi trẻ thành người trai lực lưỡng,
Mẹ c̣n kêu khóc, thở than dài.
Nó liều lĩnh dám đi t́m gặp
Vợ láng giềng nhân lúc tối trời.
Mẹ giận dữ la rầy cáu kỉnh:
"Sao không trở lại lúc ban mai?" |
|
3813. Evaṃ kicchā bhato poso mātu
aparivārako,
mātarī micchā caritvāna nirayaṃ so upapajjati.
|
3813. Như vậy, kẻ nào phụng dưỡng
mẹ một cách bực bội, không hầu hạ mẹ, sau khi hành xử sái quấy
với mẹ, kẻ ấy sẽ sanh vào địa ngục.
|
81. Nếu được nuôi đầy khổ nhọc
vầy,
Mà người xao lăng mẹ hiền này,
Chơi tṛ gian dối, th́ ta hỏi,
C̣n đợi ǵ ngoài ngục đọa đày? |
|
3814. Evaṃ kicchā bhato poso pitu
aparivārako,
mātaraṃ aparicaritvāna kicchaṃ vā so upapajjati.
|
3814. Như vậy, kẻ nào phụng dưỡng
cha một cách bực bội, không hầu hạ cha, sau khi hành xử sái quấy
với cha, kẻ ấy sẽ sanh vào địa ngục. |
82. Nếu được nuôi đầy khổ nhọc
vầy,
Mà người xao lăng phụ thân này,
Chơi tṛ gian dối, th́ ta hỏi,
C̣n đợi ǵ ngoài ngục đọa đày? |
|
3815. Dhanāpi dhanakāmānaṃ
nassati iti me sutaṃ,
mātaraṃ aparicaritvāna kicchaṃ vā so nigacchati.
|
3815. Tôi đă được nghe rằng: ‘Sau
khi không chăm sóc mẹ, tài sản của những kẻ ham muốn tài sản
cũng bị mất đi, hoặc kẻ ấy lâm cảnh khó khăn.’ |
83. Kẻ nào tài sản quá mê say,
Tài sản mất đi cũng có ngày,
C̣n kẻ thờ ơ xao lăng mẹ,
Hối hận v́ tai hại đắng cay. |
|
3816. Dhanāpi dhanakāmānaṃ
nassati iti me sutaṃ,
pitaraṃ aparicaritvāna kicchaṃ vā so nigacchati.
|
3816. Tôi đă được nghe rằng: ‘Sau
khi không chăm sóc cha, tài sản của những kẻ ham muốn tài sản
cũng bị mất đi, hoặc kẻ ấy lâm cảnh khó khăn.’
|
84. Kẻ nào tài sản quá mê say,
Tài sản mất đi cũng có ngày,
C̣n kẻ thờ ơ thân phụ nó,
Hối hận v́ tai hại đắng cay. |
|
3817. Ānando ca pamādo ca sadā
hasitakīḷitaṃ,
mātaraṃ paricaritvāna labbhametaṃ vijānato.
|
3817. Sau khi chăm sóc mẹ, điều
này được thành tựu đến người có nhận thức: Sự vui vẻ, sự hân
hoan, và luôn luôn được cười đùa, chơi giỡn. |
85. An vui nhàn nhă, với cười
đùa,
Giải trí, là tài sản tại gia
Của kẻ chăm lo đầy tận tụy
Mẫu thân khi tuổi tác già nua. |
|
Trang 320:
|
Trang 321:
|
|
3818.Ānando ca pamādo ca sadā
hasitakīḷitaṃ,
pitaraṃ paricaritvāna labbhametaṃ vijānato. |
3818. Sau khi chăm sóc cha, điều
này được thành tựu đến người có nhận thức: Sự vui vẻ, sự hân
hoan, và luôn luôn được cười đùa, chơi giỡn. |
86. An vui nhàn nhă, với cười đùa,
Giải trí, là tài sản tại gia
Của kẻ chăm lo đầy tận tụy
Phụ thân khi tuổi tác già nua. |
|
3819. Dānañca piyavācā ca
atthacariyā ca yā idha,
samānattatā ca dhammesu tattha tattha yathārahaṃ.
|
3819. Ở đây, việc biếu tặng, lời
nói tŕu mến, việc làm hữu ích, và tính chất b́nh đẳng trong các
việc chăm sóc một cách xứng đáng ở nơi này (có người chứng kiến)
hoặc nơi khác (không người chứng kiến). |
87. Quà tặng cùng lời nói dễ thương,
Ân cần phục vụ cạnh song đường,
Nhiệt t́nh tâm trí luôn b́nh đẳng
Bày tỏ đúng thời, đúng chốn luôn. |
|
3820. Ete kho saṅgahā loke
rathassāṇīva yāyato,
ete ca saṅgahā nāssu na mātā puttakāraṇā,
labhetha mānaṃ pūjaṃ vā pitā vā puttakāraṇā.
|
3820. Các pháp đối xử này ở thế
gian tựa như cái chốt đinh ở trục bánh xe của cỗ xe đang di
chuyển. Và nếu các pháp đối xử này không tồn tại th́ người mẹ
hay là người cha sẽ không nhận được sự kính trọng hay cúng dường
phát xuất từ người con. |
88. Những đức tính này đối thế nhân,
Giống như mấu trục bánh xe lăn,
Nếu không có chúng, th́ tên mẹ
Sẽ phải cầu xin với các con.
89. Từ mẫu cũng như nghiêm phụ ta
Phải đều được kính trọng tôn thờ, |
|
3821. Yasmā ca saṅgahā ete
samavekkhanti paṇḍitā,
tasmā mahattaṃ papponti pāsaṃsā ca bhavanti te.
|
3821. Bởi v́ các bậc sáng suốt
trân trọng các pháp đối xử này, v́ thế các vị đạt đến bản thể
cao thượng, và có được sự khen ngợi. |
Hiền nhân tán thán người nào có
Những đức tính này tỏ lộ ra.
90. Song thân như vậy đáng tuyên dương,
Giữ địa vị cao cả khác thường, |
|
3822. Brahmāti mātāpitaro
pubbācariyāti vuccare,
āhuneyyā ca puttānaṃ pajāya anukampakā.
|
3822. Mẹ và cha được gọi là ‘Phạm
Thiên,’ ‘các vị thầy đầu tiên,’ ‘những bậc xứng đáng sự cống
hiến’ của các con, là những người có ḷng thương tưởng đến hàng
con cháu. |
Được gọi "Phạm thiên" do cổ đức,
Uy danh hai vị lớn khôn lường.
91. Song thân hiền phải được tôn vinh
Xứng đáng từ con cái của ḿnh, |
|
3823. Tasmā hi te namasseyya
sakkareyyātha paṇḍito,
annena atho pānena vatthena sayanena ca.
ucchādanena nahāpanena pādānaṃ dhovanena ca.
|
3823. Chính v́ thế, đối với mẹ và
cha, bậc sáng suốt nên kính lễ và tôn vinh với cơm ăn, nước
uống, vải vóc, và giường nằm, với sự xoa bóp, với việc tắm, và
với việc rửa sạch các bàn chân. |
Người dưỡng mẹ cha theo chánh hạnh
Là người có trí tuệ thông minh.
92. Đem dâng thức uống với đồ ăn
Sàng tọa và y phục xứng phần,
Phải tắm mẹ cha, dầu tẩm ướt,
Rửa cho sạch sẽ cả đôi chân. |
|
3824. Tāya naṃ pāricariyāya
mātāpitusu paṇḍitā,
idheva naṃ pasaṃsanti pecca sagge pamodatī ”ti.
|
3824. Với việc phục vụ ấy đến mẹ
và cha, ngay ở kiếp này các bậc sáng suốt ca ngợi người ấy, sau
khi chết người ấy vui hưởng ở cơi Trời.” |
93. Bậc trí tán dương các việc trên,
Làm con phụng sự mẹ cha hiền,
Hân hoan tràn ngập trên trần thế,
Thân hoại, an vui hưởng cơi thiên.
Câu chuyện
532 |
|
Soṇanandajātakaṃ.
*****
|
Bổn sanh
Soṇa và Nanda. [352]
***** |
TASSUDDĀNAṂ
Atha sattatimamhi nipātavare
sa bhavaṃ tu kusāvati rājavaro,
atha soṇanandavaro ca puna
abhivāsita sattatimamhi sute ”ti.
|
TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
Giờ ở nhóm Bảy Mươi Kệ Ngôn này
là chuyện vị vua có phẩm chất ở Kusāvatī,
rồi lại thêm chuyện Soṇa và Nanda nữa
ở nhóm Bảy Mươi Kệ Ngôn đă được sắp xếp này.
|
|
Sattatinipāto niṭṭhito.
--ooOoo--
|
Nhóm Bảy
Mươi Kệ Ngôn được chấm dứt.
--ooOoo--
|
| <Trang trước> |
<Trang Kế> |