|
XXII.
MAHĀNIPĀTO - NHÓM LỚN
|
|
Nguồn: Tam Tạng
Pāli - Sinhala thuộc Buddha Jayanti Tripitaka Series (BJTS) |
Lời tiếng Việt:
Tỳ khưu Indacanda |
|
Trang 116: |
Trang 117:
|
|
▪ 5.
KHAṆḌAHĀLAJĀTAKAṂ
|
▪ 5. BỔN SANH
QUAN TẾ TỰ KHAṆḌAHĀLA |
542. CHUYỆN TẾ SƯ
KHANDAHÀLA
(Tiền thân Khandahàla) |
|
4914. Rājāsi luddakammo ekarājāti
pupphavatiyā,
so pucchi brahmabandhuṃ khaṇḍahālaṃ purohitaṃ mūḷhaṃ.
|
4914.
Xưa, ở thành Pupphavatī có vị vua hung bạo tên là Ekarāja. Vị
vua ấy đã hỏi viên quan tế tự mê muội dòng Bà-la-môn tên là
Khaṇḍahāla (rằng): |
1. Ngày xưa có một vị hôn quân,
Ở xứ Pup-pha, gặp lúc cần,
Liền hỏi tế sư hèn hạ ấy,
Nghiệp tà, danh chánh Bà-la-môn: |
|
4915. Saggānamaggamācikkha tvaṃsi brāhmaṇa
dhammavinayakusalo,
yathā ito vajanti sugatiṃ narā puññāni katvāna.
|
4915.
“Này Bà-la-môn, khanh thiện xảo về giáo lý và nghi thức, khanh
hãy chỉ dạy con đường đi đến các cõi Trời mà những người, sau
khi làm các phước thiện, từ nơi này đi đến nhàn cảnh.” |
2.- Ngài là bậc trí, mọi người đồn,
Thánh điển am tường đủ mọi môn,
Hãy nói công năng gì dẫn lối,
Đưa đường hành giả đến thiên cung? |
|
4916. Atidānaṃ daditvāna avajjhe deva
ghātetvā,
evaṃ vajanti sugatiṃ narā puññāni katvāna.
|
4916.
“Tâu bệ hạ, những người, sau khi làm các phước thiện, từ nơi này
đi đến nhàn cảnh là những người đã bố thí vật thí tối thắng, đã
giết chết những kẻ không đáng giết.” |
3. Hãy dâng nhiều lễ vật đầy tràn,
Giết những ai không đáng chết oan,
Nhờ vậy đạt công đức vĩ đại,
Người ta sẽ hưởng lạc thiên đàng. |
|
4917. Kiṃ pana taṃ atidānaṃ ke ca avajjhā
imasmiṃ lokasmiṃ,
etañca kho no akkhāhi yajissāma dadāma dānāni.
|
4917.
“Thế vật thí tối thắng ấy là gì? Và những ai là những kẻ không
đáng giết ở thế gian này? Khanh hãy giải thích về điều này cho
chúng tôi, rồi chúng tôi sẽ hiến dâng, hãy để chúng tôi bố thí
các vật thí.” |
4. Những gì là lễ vật đầy tràn,
Những kẻ nào không đáng chết oan?
Ta sẽ giết người, dâng tế lễ,
Nếu ngài nói ý nghĩa cho tường. |
|
4918. Puttehi deva yajitabbaṃ mahesīhi
negamehi ca usabhehi,
ājāniyehi catūhi sabbacatukkena deva yajitabbaṃ.
|
4918.
“Tâu bệ hạ, cần phải hiến dâng với bốn người con, với bốn vương
phi, với bốn thị dân (giàu có), với bốn con bò mộng, với bốn con
ngựa. Tâu bệ hạ, cần phải hiến dâng với nhóm bốn của tất cả các
thứ.” |
5. Đem vợ con làm vật tế thần,
Phú thương quý tộc cũng tiêu vong.
Ngựa trâu tuyệt hảo, nòi cao quí,
Bốn loại tội đồ phải cúng dâng. |
|
4919. Taṃ sutvā antepure kumārā ca
mahesiyo ca haññantu,
eko ahosi nigghoso bhesmā accuggato saddo.
|
4919. Nghe được tin ấy: “Các hoàng tử, các
quý phi ở nội cung hãy bị giết chết,” đã có một tiếng gào thét
do sự kinh hoàng; âm thanh đã vươn lên rất cao. |
6. Cung phi mỹ nữ biết tin này:
"Vương tử, vương phi phải đọa đày",
Khóc thét bỗng nhiên vì sợ hãi,
Vang rền mọi phía tận trời mây. |
|
4920. Gacchatha vadetha kumāre candaṃ
suriyaṃ ca bhaddasenañca,
sūrañca vāmagottaṃ pasurā kira hotha yaññatthāya.
|
4920.
“Các khanh hãy đi và hãy báo cho các vị hoàng tử Canda, Suriya,
Bhaddasena, Sūra, và Vāmagotta rằng: ‘Nghe nói các vị hãy tập
trung lại vì mục đích của lễ hiến dâng.’ |
7. Báo Can-da, kế Su-ri-ya,
Lần lượt Bhad-da, biết ý ta,
Rồi đến Sù-ra, Và-ma nữa,
Chúng đều phải chết: ý vua cha. |
|
4921. Kumāriyopi vadetha upaseniṃ
kokilañca muditañca,
nandañcāpi kumāriṃ pasurā kira hotha yaññatthāya.
|
4921.
Các khanh hãy báo cho cả các công chúa Upasenī, Kokilā, Muditā,
và luôn cả Nandā rằng: ‘Nghe nói các vị hãy tập trung lại vì
mục đích của lễ hiến dâng.’ |
8. Up-pa-se-ni, Ko-li-ta,
Lần lượt Mu-di-ta, Nan-da,
Bảo các công nương đều phải chết,
Thật là kiên định, ý vua cha! |
|
4922. Vijayampi mayhaṃ mahesiṃ erāvatiṃ
kesiniṃ sunandañca,
lakkhaṇavarūpapannā pasurā kira hotha yaññatthāya.
|
4922.
(Các khanh hãy báo cho cả) hoàng hậu Vijayā của trẫm, các phi
tần Erāvatī, Kesinī, và Sunandā rằng: ‘Các vị có được những
tướng mạo cao quý. Nghe nói các vị hãy tập trung lại vì mục đích
của lễ hiến dâng.’ |
9. Trước tiên vương hậu Vi-ja- yà,
Kế tiếp Ke-si-ni, Nan-dà,
Với mọi sắc hương đầy diễm lệ,
Chúng đều phải chết: ý nguyện ta. |
|
4923. Gahapatayopi vadetha puṇṇamukhaṃ
bhaddiyaṃ sigālañca,
vaḍḍhañcāpi gahapatiṃ pasurā kira hotha yaññatthāya.
|
4923.
Các khanh hãy nói luôn cả các gia chủ Puṇṇamukha, Bhaddiya,
Sigāla, và gia chủ Vaḍḍha rằng: ‘Nghe nói các vị hãy tập trung
lại vì mục đích của lễ hiến dâng.’” |
10. Pun-na-muk-kha, Bhad-di-ya,
Lần lượt Sin-ga-la, Vad-dha,
Bảo các phú thương nghe thượng lệnh:
Chúng đều phải chết: ý nguyện ta! |
|
Trang 118: |
Trang 119:
|
|
4924. Te tattha gahapatayo avociṃsu
samāgatā puttadāraparikiṇṇā,
sabbasikhino deva karohi athavā no dāse sāvehi.
|
4924.
Các gia chủ ấy, được vợ con vây quanh, đã tụ hội lại tại nơi ấy
và đã nói rằng: “Tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy cho tất cả chúng tôi
làm người hầu hạ, hoặc bệ hạ hãy tuyên bố chúng tôi là những kẻ
nô lệ.” |
11. Các phú thương kêu khóc não nùng,
Được vây quanh bởi các thân nhân :
Đầu này xin cạo làm nô lệ,
Nhưng hãy tha cho mạng chúng thần! |
|
4925. Abhayaṅkarampi me hatthiṃ nālāgiriṃ
accutaṃ varuṇadantaṃ,
ānetha kho ne khippaṃ yaññatthāya bhavissanti.
|
4925.
“Luôn cả con voi Abhayaṅkara của trẫm, con voi Nālāgiri, con voi
Accuta, và con voi Varuṇadanta, các khanh hãy tức tốc đem chúng
lại; chúng sẽ được sử dụng vì mục đích của lễ hiến dâng. |
12. Đem cả đàn vương tượng đến đây,
Sức voi vô địch, quý cao thay, |
|
4926. Assaratanampi kesiṃ surāmukhaṃ
puṇṇakaṃ vinatakañca,
ānetha kho ne khippaṃ yaññatthāya bhavissanti.
|
4926.
Luôn cả con ngựa báu Kesi, con ngựa Surāmukha, con ngựa Puṇṇaka,
và con ngựa Vinataka, các khanh hãy tức tốc đem chúng lại; chúng
sẽ được sử dụng vì mục đích của lễ hiến dâng. |
Ngựa, lừa chọn giống nòi ưu thắng,
Tất cả cùng dâng tế lễ này. |
|
4927. Usabhampi yūthapatiṃ anojaṃ nisabhaṃ
gavampatiṃ tepi mayhaṃ ānetha,
samupākarontu sabbaṃ yajissāma dadāma dānāni.
|
4927.
Luôn cả con bò đực Yūthapati, Anoja, Nisabha, và Gavampati, các
khanh cũng hãy đem chúng lại cho trẫm. Hãy gom tất cả lại thành
từng nhóm. Chúng ta sẽ hiến dâng. Chúng ta hãy bố thí các vật
thí. |
13. Hãy chọn ngưu vương loại đứng đầu,
Chúng là tặng vật quý dường bao,
Các thầy tế tự sắp hành lễ,
Sẽ có vật dâng cúng tối cao. |
|
4928. Sabbaṃ paṭiyādetha yaññaṃ pana
uggatamhi suriyamhi,
āṇāpetha ca kumāre abhiramantu imaṃ rattiṃ.
|
4928.
Các khanh hãy sẵn sàng mọi thứ cho lễ hiến dâng vào (ngày mai)
lúc mặt trời mọc lên. Và các khanh hãy báo tin cho các hoàng tử,
hãy để cho các hoàng tử vui sướng đêm nay. |
14. Hãy chuẩn bị cho tế lễ này,
Sẵn sàng ngay trước lễ ngày mai;
Bảo vương nhi đãi đằng như ý,
Thọ hưởng cuộc đời buổi tối nay. |
|
4929. Sabbaṃ upaṭṭhapetha yaññaṃ pana
uggatamhi suriyamhi,
vadethadāni kumāre ajja vo pacchimā ratti.
|
4929.
Các khanh hãy sắp đặt mọi thứ cho lễ hiến dâng vào (ngày mai)
lúc mặt trời mọc lên. Giờ đây, các khanh hãy báo cho các hoàng
tử rằng: ‘Hôm nay là đêm cuối cùng của các vị.’” |
|
|
4930. Taṃ taṃ mātā avacā rodantī āgatā
vimānato,
yañño kira te putta bhavissati catūhi puttehi.
|
4930.
Mẫu hậu từ hoàng cung đi đến, trong khi khóc lóc, đã nói với vị
vua ấy về việc này rằng: “Này con, nghe nói lễ hiến dâng của con
sẽ được thực hiện với bốn hoàng tử?” |
15. Mẫu hậu vội rời khỏi nội cung:
Việc kỳ quái vậy nghĩa gì chăng?
Bốn vương tôn thảy đều đem giết,
Cho đủ lễ dâng hiến bạo tàn? |
|
4931. Sabbepi mayhaṃ puttā cattā candasmiṃ
haññamānasmiṃ,
puttehi yaññaṃ yajitvāna sugatiṃ saggaṃ gamissāmi.
|
4931. “Trong khi hoàng tử Canda bị giết
chết, tất cả những người con trai của trẫm cũng bị từ bỏ. Sau
khi cúng tế cuộc lễ hiến dâng với bốn người con trai, trẫm sẽ đi
đến nhàn cảnh, cõi Trời.” |
16. Khi mất Can-da, mất hết rồi,
Nhưng con chịu mất chúng mà thôi,
Vì nhờ tế lễ này cao trọng,
Con sẽ được an trú cõi trời. |
|
4932. Mā putta saddahesi sugati kira hoti
puttayaññena,
nirayāneso maggo neso maggo hi saggānaṃ.
|
4932. “Này con, con chớ tin rằng: ‘Nghe
nói có được nhàn cảnh là do việc hiến dâng những người con
trai.’ Đạo lộ ấy đưa đến các địa ngục, đạo lộ ấy thật sự không
đưa đến các cõi Trời. |
17. Đem cúng tế vương tử, hỡi con,
Chẳng bao giờ hưởng lạc thiên đường,
Đừng nghe lời dối dang như vậy,
Đây chính đường vào địa ngục môn. |
|
4933. Dānāni dehi koṇḍañña ahiṃsā
sabbabhūtabhavyānaṃ,
esa maggo sugatiyā na ca maggo puttayaññena.
|
4933. Này Koṇḍañña, con hãy ban phát các
vật thí và sự không hãm hại đến tất cả sinh linh và các loài
đang hiện hữu. Đạo lộ ấy đưa đến nhàn cảnh, không phải đạo lộ
với việc hiến dâng những người con trai” |
18. Con nên chọn đúng đạo minh quân,
Đem bố thí tất cả bạc vàng,
Đừng giết chúng sinh trên hạ giới,
Đây đường chắc chắn đến thiên đàng. |
|
4934. Ācariyānaṃ vacanā ghātessaṃ candañca
suriyañca,
puttehi yajitvāna duccajehi sugatiṃ saggaṃ gamissāmi.
|
4934. “Theo lời nói của các vị giáo thọ,
trẫm sẽ giết chết (hai hoàng tử) Canda và Suriya. Sau khi hiến
dâng những người con trai khó có thể từ bỏ, trẫm sẽ đi đến nhàn
cảnh, cõi Trời.” |
19. Con phải vâng lời vị tế sư,
Than ôi, đành phải giết con thơ,
Chia lìa chúng thật đầy đau đớn,
Song được cõi trời lợi lạc to! |
|
Trang 120: |
Trang 121:
|
|
4935. Taṃ taṃ pitāpi avaca vasavattī orasaṃ sakaṃ puttaṃ,
yañño kira te putta bhavissati catūhi puttehi.
|
4935. Phụ hoàng Vasavatti cũng đã nói với
vị vua ấy, đứa con trai ruột của mình, về việc này rằng: “Này
con, nghe nói lễ hiến dâng của con sẽ được thực hiện với bốn
hoàng tử?” |
20. Đến lượt Va-sa-va phụ vương:
- Hung tin làm hoảng hốt tâm can!
Bốn vương tôn thảy đều đem giết,
Cho đủ lễ dâng hiến bạo tàn? |
|
4936. Sabbepi mayhaṃ puttā cattā candasmiṃ haññamānasmiṃ,
puttehi yaññaṃ yajitvāna sugatiṃ saggaṃ gamissāmi.
|
4936. “Trong khi hoàng tử Canda bị giết chết, tất cả
những người con trai của trẫm cũng bị từ bỏ. Sau khi cúng tế
cuộc lễ hiến dâng với bốn người con trai, trẫm sẽ đi đến nhàn
cảnh, cõi Trời.” |
|
|
4937. Mā putta saddahesi sugatiṃ kira hoti puttayaññena,
nirayāneso maggo neso maggo saggānaṃ.
|
4937. “Này con, con chớ tin rằng: ‘Nghe nói có được nhàn
cảnh là do việc hiến dâng những người con trai.’ Đạo lộ ấy đưa
đến các địa ngục, đạo lộ ấy thật sự không đưa đến các cõi Trời. |
|
|
4938. Dānāni dehi koṇḍañña ahiṃsā sabbabhūtabhavyānaṃ,
esa maggo sugatiyā na ca maggo puttayaññena.
|
4938. Này Koṇḍañña, con hãy ban phát các vật thí và sự
không hãm hại đến tất cả sinh linh và các loài đang hiện hữu.
Đạo lộ ấy đưa đến nhàn cảnh, không phải đạo lộ với việc hiến
dâng những người con trai.” |
|
|
4939. Ācariyānaṃ vacanā ghātessaṃ candañca suriyañca,
puttehi yajitvā duccajehi sugatiṃ saggaṃ gamissāmi.
|
4939. “Theo lời nói của các vị giáo thọ, trẫm sẽ giết
chết (hai hoàng tử) Canda và Suriya. Sau khi hiến dâng những
người con trai khó có thể từ bỏ, trẫm sẽ đi đến nhàn cảnh, cõi
Trời.” |
|
|
4940. Dānāni dehi koṇḍañña ahiṃsā sabbabhūtabhavyānaṃ,
puttaparivuto tuvaṃ raṭṭhaṃ janapadañca pālehi.
|
4940.
“Này Koṇḍañña, con hãy ban phát các vật thí và sự không hãm hại
đến tất cả sinh linh và các loài đang hiện hữu. Được tùy tùng
bởi các hoàng tử, con hãy hộ trì đất nước và dân chúng.” |
21. Nên đem cho hết khả năng mình,
Đừng cố ý tàn hại hữu tình,
Để các vương tôn làm bảo vệ,
Hộ phòng đất nước khỏi điêu linh. |
|
4941. Mā no deva avadhi dāse no dehi khaṇḍahālassa,
api nigaḷabandhakāpi hatthī asse ca pāpema.
|
(Lời hoàng tử Canda)
4941. “Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con.
Bệ hãy hãy ban chúng con làm những nô lệ cho quan tế tự
Khaṇḍahāla, thậm chí là bị trói buộc bằng xích ở chân. Hãy để
chúng con trông nom các con voi và các con ngựa. |
22. Xin làm nô lệ của Khan-da,
Nhưng mạng chúng con, xin hãy tha,
Con sẽ canh bầy voi, lũ ngựa,
Mang xiềng làm việc, thỏa lòng sư. |
|
4942. Mā no deva avadhi dāse no dehi khaṇḍahālassa,
api nigaḷabandhakāpi hatthicchakaṇāni ujjhema.
|
4942. Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con.
Bệ hãy hãy ban chúng con làm nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla,
thậm chí là bị trói buộc bằng xích ở chân. Hãy để chúng con hốt
dọn các bãi phân voi. |
23. Xin làm nô lệ của Khan-da,
Nhưng mạng chúng con, xin hãy tha,
Con sẽ quét sân, chuồng của lão,
Mang xiềng làm việc thỏa lòng sư. |
|
4943. Mā no deva avadhi dāse no dehi khaṇḍahālassa,
api nigaḷabandhakāpi assacchakaṇāni ujjhema.
|
4943. Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban
chúng con làm nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, thậm chí là bị
trói buộc bằng xích ở chân. Hãy để chúng con hốt dọn các bãi
phân ngựa. |
|
|
4944. Mā no deva avadhi dāse no dehi khaṇḍahālassa,
yassa honti tava kāmā api raṭṭhā pabbajitā bhikkhācariyaṃ
carissāma.
|
4944. Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con.
Bệ hãy hãy ban chúng con làm nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, là
người mà bệ hạ có nhiều yêu thích. Thậm chí, nếu bị trục xuất
khỏi đất nước, chúng con sẽ đi xin ăn.” |
24. Hoặc bắt làm nô lệ tặng ai,
Chúng con tùy thánh ý an bài,
Hoặc đày tất cả ra ngoài nước,
Cầu thực tha phương ở xứ người. |
|
4945. Dukkhaṃ kho me janayatha vilapantā jīvitassa kāmā hi,
muñcathadāni kumāre alampi me hotu puttayaññena.
|
(Lời đức vua Ekarāja)
4945. “Sự khổ đau quả thật đã sanh lên ở
trẫm, trong khi chúng than van bởi vì mong muốn sự sống. Giờ
đây, các khanh hãy phóng thích các hoàng tử. Cũng đã đủ cho trẫm
với việc hiến dâng các người con.” |
25. Những lời này tội nghiệp xin tha,
Làm trái tim ta tan nát ra,
Thả các vương nhi, cho chúng thoát,
Thôi đừng tế lễ nữa vì ta! |
|
Trang 122:
|
Trang 123:
|
|
4946. Pubbeva khosi
me vutto dukkaraṃ durabhisambhavaṃ cetaṃ,
atha no upakkhaṭassa yaññassa kasmā karosi vikkhepaṃ. |
(Lời quan tế tự Khaṇḍahāla)
4946.
“Thật sự trước đây, thần đã nói với bệ hạ rằng: Cuộc lễ này khó
thực hiện và khó hoàn thành. Giờ tại sao bệ hạ lại làm xáo trộn
lễ hiến dâng đã được chuẩn bị của chúng ta? |
26. Ta đã bảo ngài tế lễ này,
Thật là vất vả khó khăn thay,
Sao ngài can thiệp đòi đình chỉ,
Khi khởi đầu đang tốt đẹp vầy? |
|
4947. Sabbe vajanti
sugatiṃ ye yajanti yepi ceva yājenti,
ye cāpi anumodanti yajantānaṃ edisaṃ mahāyaññaṃ. |
4947.
Những người nào hiến dâng, và ngay cả những người nào bảo hiến
dâng, rồi luôn cả những người nào tùy hỷ cuộc đại lễ hiến dâng
như thế này của những người đang hiến dâng, tất cả đều đi đến
nhàn cảnh.” |
27. Những kẻ nào dâng lễ sát sinh,
Đi đường chắc chắn đến thiên đình,
Hoặc người ủng hộ đầy nồng nhiệt,
Khi thấy việc kia được thực hành. |
|
4948. Atha kissa ca
no pubbe sotthānaṃ brāhmaṇo avācesi,
atha no akāraṇasmā yaññatthāya deva ghātesi. |
(Lời hoàng tử Canda)
4948.
“Tâu bệ hạ, tại sao trước đây vị Bà-la-môn đã đọc tụng sự an
lành cho chúng con, giờ không có nguyên do, bệ hạ lại ra lệnh
giết chúng con vì mục đích của lễ hiến dâng? |
28. Sao lúc sinh ra lũ chúng con,
Hão huyền chúc tụng Bà-la-môn,
Khi phần con trẻ là đành chết,
Vô tội nạn nhân của oán hờn? |
|
4949. Pubbeva no
daharake samāne na hanesi na ghātayesi,
daharamhā yobbanaṃ pattā adūsakā tāta haññāma.
|
4949.
Cũng vào trước đây, bệ hạ đã không giết chết, đã không ra lệnh
giết chết chúng con trong khi chúng con còn nhỏ tuổi. Giờ chúng
con là thanh niên, đã đạt đến tuổi trưởng thành, thưa cha, chúng
con không phải là những kẻ tồi bại, tại sao chúng con lại bị
giết chết? |
29. Sao cha tha mạng thuở thơ ngây,
Nhỏ dại biết đâu bất hạnh này?
Con trẻ hôm nay đành phải chết,
Giờ đang vui hưởng tuổi xuân đầy? |
|
4950. Hatthigate
assagate sannaddhe passa no mahārāja,
yuddheva yujjhamāne na hi mādisā sūrā honti yaññatthāya.
|
4950.
Tâu đại vương, xin cha hãy nhìn chúng con đã được vũ trang, cỡi
voi, cỡi ngựa, đang chiến đấu ngay ở trận tiền, những dũng sĩ
như chúng con không phải thật sự đang vì mục đích của sự hiến
dâng hay sao? |
30. Nghĩ lúc chúng con mặc giáp bào,
Trên voi ngựa, chiến trận xông vào,
Nay làm lễ vật dâng đàn tế,
Chẳng lẽ việc này hợp lý sao? |
|
4951. Paccante vāpi
kupite aṭavīsu vā mādise niyojenti,
atha no akāraṇasmā abhūmiyaṃ tāta haññāma.
|
4951. Những dũng sĩ như chúng con xông pha
ở biên giới khi có nổi loạn hoặc ở những cánh rừng, để rồi, thưa
cha, chúng con bị giết chết không đúng nơi chốn, không có nguyên
do. |
31. Ở trong chiến địa hoặc rừng hoang,
Chống lại loạn thần, lũ chúng con,
Phục vụ thường xuyên, nay bảo giết,
Mà không lý lẽ hoặc nguyên nhân. |
|
4952. Yāpi hi tā
sakuṇiyo vasanti tiṇagharāni katvāna,
tāsampi piyā puttā atha no tvaṃ deva ghātesi.
|
4952.
Ngay cả những con chim mái cũng đã thực hiện những tổ ấm bằng cỏ
rồi sinh sống; những chú chim con được chúng yêu quý. Còn chúng
con, tâu bệ hạ, ngài lại bảo giết chết chúng con. |
32. Nhìn chim xây tổ ấm trên cây,
Ca hót líu lo suốt cả ngày,
Yêu dấu chim non chăm sóc kỹ,
Còn cha đem giết lũ con vầy? |
|
4953. Mā tassa
saddahesi na maṃ khaṇḍahālo ghātaye,
mamaṃ hi so ghātetvā anantaraṃ tampi deva ghāteyya.
|
4953.
Cha chớ tin tưởng gã ấy; lão Khaṇḍahāla không thể giết chết con.
Bởi vì, tâu bệ hạ, sau khi giết chết con, không lâu sau, gã ấy
cũng có thể giết chết cha. |
33.Cha đừng tưởng lão Bà-la-môn,
Phản bạn tha cha lúc vắng con,
Đến lượt cha theo con kế tiếp,
Chúng con không chỉ chết cô đơn! |
|
4954. Gāmavaraṃ
nigamavaraṃ dadanti bhogaṃ pissa mahārāja,
atha aggapiṇḍikāpi kule kulehete bhuñjanti.
|
4954.
Tâu đại vương, các vua chúa ban thưởng ân huệ là ngôi làng, ân
huệ là thị trấn, thậm chí của cải cho gã này. Sau đó, thậm chí
chúng trở thành những kẻ có thức ăn cao quý, bởi vì những gã này
thọ hưởng ở gia tộc này gia tộc khác. |
34. Vua thường ban đạo sĩ thôn làng,
Thành thị tối ưu chính đặc ân,
Trên mọi gia đình đều hưởng lợi,
Tạo nên tài sản thật cao sang. |
|
4955. Tesampi
tādisānaṃ icchanti dubbhituṃ mahārāja,
yebhuyyena ete akataññuno brāhmaṇā deva.
|
4955.
Tâu đại vương, chúng còn muốn phản bội thậm chí đối với những
gia tộc như thế ấy. Tâu bệ hạ, còn hơn thế nữa, những gã
Bà-la-môn này là những kẻ vô ơn. |
35. Chính bọn này đây, tâu phụ thân,
Sẵn sàng phản bội các ân nhân,
Bà-la-môn tộc, cha nên nhớ,
Là giống bất trung, lũ bội ân. |
|
4956. Mā no deva
avadhi dāse no dehi khaṇḍahālassa,
api nigaḷabandhakāpi hatthī asse ca pālema.
|
4956. Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban
chúng con làm những nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, thậm chí là
bị trói buộc bằng xích ở chân. Hãy để chúng con trông nom các
con voi và các con ngựa. |
|
|
Trang 124:
|
Trang 125:
|
|
4957. Mā no deva avadhi dāse no dehi khaṇḍahālassa,
api nigaḷabandhakāpi hatthicchakaṇāni ujjhema.
|
4957. Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban
chúng con làm nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, thậm chí là bị
trói buộc bằng xích ở chân. Hãy để chúng con hốt dọn các bãi
phân voi. |
|
|
4958. Mā no deva avadhi dāse no dehi khaṇḍahālassa,
api nigaḷabandhakāpi assacchakaṇāni ujjhema.
|
4958. Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban
chúng con làm nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, thậm chí là bị
trói buộc bằng xích ở chân. Hãy để chúng con hốt dọn các bãi
phân ngựa. |
|
|
4959. Mā no deva avadhi dāse no dehi khaṇḍahālassa,
yassa honti tava kāmā api raṭṭhā pabbajitā bhikkhācariyaṃ
carissāma.
|
4959. Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban
chúng con làm nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, là người mà bệ hạ
có nhiều yêu thích. Thậm chí, nếu bị trục xuất khỏi đất nước,
chúng con sẽ đi xin ăn.” |
|
|
4960. Dukkhaṃ kho me janayatha vilapantā jīvitassa kāmā hi,
muñcathadāni kumāre alampi me hotu puttayaññena.
|
(Lời đức vua Ekarāja)
4960. “Sự khổ đau quả thật đã sanh lên ở
trẫm, trong khi chúng than van bởi vì mong muốn sự sống. Giờ
đây, các khanh hãy phóng thích các hoàng tử. Cũng đã đủ cho trẫm
với việc hiến dâng các người con.” |
36. Những lời này tội nghiệp xin tha,
Làm trái tim ta tan nát ra,
Thả các vương nhi, cho chúng thoát,
Thôi đừng tế lễ nữa vì ta! |
|
4961. Pubbeva khosi me vutto dukkaraṃ durabhisambhavaṃ cetaṃ,
atha no upakkhaṭassa yaññassa kasmā karosi vikkhepaṃ.
|
(Lời quan tế tự Khaṇḍahāla)
4961.
“Thật sự trước đây, thần đã nói với bệ hạ rằng: Cuộc lễ này khó
thực hiện và khó hoàn thành. Giờ tại sao bệ hạ lại làm xáo trộn
lễ hiến dâng đã được chuẩn bị của chúng ta? |
|
|
4962. Sabbe vajanti sugatiṃ ye yajanti yepi ceva yājenti,
ye cāpi anumodanti yajantānaṃ edisaṃ mahāyaññaṃ.
|
4962.
Những người nào hiến dâng, và ngay cả những người nào bảo hiến
dâng, rồi luôn cả những người nào tùy hỷ cuộc đại lễ hiến dâng
như thế này của những người đang hiến dâng, tất cả đều đi đến
nhàn cảnh.” |
|
|
4963. Yadi kira yajitvā puttehi devalokaṃ ito cutā yanti,
brāhmaṇo tāva yajatu pacchāpi yajasi tuvaṃ rāja.
|
(Lời hoàng tử Canda)
4963. “Nếu thật sự những người, sau khi
hiến dâng những đứa con trai, lìa đời từ nơi này rồi đi đến
Thiên giới, vậy thì gã Bà-la-môn hãy hiến dâng trước, rồi ngài
hiến dâng sau, tâu bệ hạ. |
37. Nếu kẻ đem con trẻ tế đàn,
Đến khi chết, thảy được vinh quang,
Bà-la-môn hãy dâng con trước,
Vua chúa noi gương kẻ dẫn đường. |
|
4964. Yadi kira yajitvā puttehi devalokaṃ ito cutā yanti,
eso ca khaṇḍahālo yajatu sakehi puttehi.
|
4964.
Nếu thật sự những người, sau khi hiến dâng những đứa con trai,
lìa đời từ nơi này rồi đi đến Thiên giới, vậy thì gã Khaṇḍahāla
này hãy hiến dâng những đứa con trai của mình đi. |
38. Nếu kẻ đem con trẻ tế thần,
Thẳng lên thiên giới lúc lìa trần, |
|
4965. Evaṃ jānaṃ vo khaṇḍahālo kiṃ puttake na ghātesi,
sabbañca ñātijanaṃ attānañca na ghātesi.
|
4965.
Trong khi biết như vậy, tại sao gã Khaṇḍahāla của bệ hạ không
giết chết những đứa con trai, không giết chết toàn bộ thân quyến
và bản thân?” |
Tế sư sao chẳng hy sinh trước,
Và cả toàn gia tộc lão luôn? |
|
4966. Sabbe vajanti nirayaṃ ye yajanti yepi ceva yājenti,
ye cāpi anumodanti yajantānaṃ edisaṃ mahāyaññaṃ.
|
4966.
Những kẻ nào hiến dâng, và ngay cả những kẻ nào bảo hiến dâng,
rồi luôn cả những kẻ nào tùy hỷ cuộc đại lễ hiến dâng như thế
này của những kẻ đang hiến dâng, tất cả đều đi đến địa ngục.”
|
39. Đúng hơn, kẻ cúng tế như vầy,
Sẽ thẳng đường vào địa ngục ngay,
Những kẻ dám đồng tình ủng hộ,
Hành vi ấy, cũng đọa sau này. |
|
4967. Kathañca kira puttakāmāyo gahapatayo gharaṇiyo ca,
nagaramhi na uparavanti rājānaṃ mā ghātayi orasaṃ puttaṃ.
|
(Lời hoàng tử Canda nói với dân chúng)
4967.
“Nghe nói các gia chủ và các nữ gia chủ ở kinh thành là những
người có lòng yêu thương con cái, tại sao các người không quở
trách đức vua rằng: ‘Xin bệ hạ chớ giết chết đứa con trai ruột
thịt.’ |
40. Làm sao các bậc mẹ cha này,
Đứng lặng yên nhìn, chẳng có ai,
Dù quý yêu con mình đến thế,
Cả ngăn vua giết các con ngài. |
|
Trang 126:
|
Trang 127:
|
|
4968. Kathañca kira puttakāmāyo gahapatayo
gharaṇiyo ca,
nagaramhi na uparavanti rājānaṃ mā ghātayi atrajaṃ puttaṃ.
|
4968.
Và nghe nói các gia chủ và các nữ gia chủ ở kinh thành là những
người có lòng yêu thương con cái, tại sao các người không quở
trách đức vua rằng: ‘Xin bệ hạ chớ giết chết đứa con trai của
mình.’ |
|
|
4969. Raññomhi atthakāmo hito ca sabbadā
janapadassa,
na koci assa paṭighaṃ mayā janapado na pavedeti.
|
4969. Ta luôn luôn là người có lòng mong
mỏi sự tấn hóa và lợi ích cho đức vua, cho xứ sở. Không có bất
cứ người dân nào cùng với ta nói lên sự bất bình về việc này.”
|
41. Ta ao ước vương phụ vạn an,
Ta mong tâm các bạn hân hoan,
Nhưng không tìm được người nào để
Phản đối nên lời trước phụ vương? |
|
4970. Gacchatha vo gharaṇiyo tātañca
vadetha khaṇḍahālañca,
mā ghātetha kumāre adūsake sīhasaṅkāse.
|
(Lời hoàng tử Canda nói với các vương phi)
4970.
“Này các nương nương, các nàng hãy đi đến nói với phụ vương và
quan tế tự Khaṇḍahāla rằng: ‘Các ngài chớ giết chết các hoàng tử
là những người không tồi bại, giống như loài sư tử.’ |
42. Này các vương phi hãy nguyện cầu,
Van xin Sư trưởng, phụ vương mau,
Để tha vương tử này vô tội,
Khéo trổ tài chinh chiến biết bao. |
|
4971. Gacchatha vo gharaṇiyo tātañca
vadetha khaṇḍahālañca,
mā ghātetha kumāre apekkhite sabbalokassa.
|
4971.
Này các nương nương, các nàng hãy đi đến nói với phụ vương và
quan tế tự Khaṇḍahāla rằng: ‘Các ngài chớ giết chết các hoàng tử
là những người được toàn bộ thế gian mong mỏi.’ |
43. Hãy xin sư trưởng với Minh quân,
Tha mạng vương nhi chẳng lỗi lầm,
Danh tánh đã vang lừng thế giới,
Là niềm vinh dự của non sông. |
|
4972. Yannūnāhaṃ jāyeyyaṃ rathakārakule vā
pukkusakule vā,
veṇesu vā jāyeyyaṃ na hajja maṃ rājā yaññatthāya ghāteyya.
|
4972.
Nếu ta được sanh ra ở gia đình người thợ làm xe, hoặc ở gia đình
người hốt rác, nếu ta được sanh ra giữa những người đan tre, thì
quả thật hôm nay, đức vua không thể nào giết chết ta vì mục đích
của lễ hiến dâng. |
44. Nếu không sinh trưởng chốn triều
đường,
Ở dưới mái tranh kẻ khốn cùng,
Hoặc thợ giầy hay người quét rác,
Thì ta sẽ sống thật an toàn,
Đến tròn tuổi thọ, không vong mạng,
Làm nạn nhân vua chúa bất thường! |
|
4973. Sabbā sīmantiniyo gacchatha ayyassa
khaṇḍahālassa,
pādesu nipatatha aparādhāhaṃ na passāmi.
|
4973. Hỡi tất cả các người phụ nữ, các nàng hãy đi đến
quỳ mọp xuống ở hai bàn chân của ngài Khaṇḍahāla. Ta không nhìn
thấy lỗi lầm (nào của ta đối với ông ấy). |
|
|
4974. Sabbā sīmantiniyo gacchatha ayyassa
khaṇḍahālassa,
pādesu nipatatha kiṃ te bhante mayaṃ adūsema.
|
4974. Hỡi tất cả các người phụ nữ, các
nàng hãy đi đến quỳ xuống ở hai bàn chân của ngài Khaṇḍahāla
(nói rằng): ‘Thưa ngài, chúng tôi đã đối đãi xấu xa điều gì với
ngài?’” |
45. Đi mau tất cả các vương phi,
Đến trước Khan-da, hãy lạy quỳ,
Bảo các nàng không làm hại lão,
Các nàng chẳng có tội tình gì! |
|
4975. Kapaṇaṃ vilapati selā disvāna
bhātaro upanītatte,
yañño kira me ukkhipito tātena saggakāmena.
|
4975. Sau khi nhìn thấy các anh trai bị
dẫn đi hành quyết, (công chúa út) Selā đã than van một cách thảm
thương rằng: “Nghe nói lễ hiến dâng đã được cha của con lập ra
vì lòng ham muốn cõi Trời.” |
46. Se-la khóc, thấy các anh nàng,
Bị kết tội oan bởi phụ vương:
- Người bảo đây là đàn tế lễ,
Vì cha ta muốn đến thiên đường. |
|
4976. Āvattī ca parivattī ca vāsulo
sammukhā rañño,
mā no pitaraṃ avadhi daharamhā ayobbanaṃ pattā.
|
4976.
Vāsula (con trai hoàng tử Canda) đi tới, đi lui, và đi vòng
quanh, rồi đối diện với đức vua (nói rằng): “Chớ giết chết cha
của chúng con. Chúng con còn trẻ thơ, chưa đạt đến tuổi trưởng
thành.” |
47. Chập chững Va-su-la bước chân,
Trên đường đi đến chiếc ngai vàng,
Xin tha mạng của cha con trẻ,
Đừng để chúng con mất phụ thân. |
|
4977. Eso te vāsula pitā samehi pitaraṃ,
dukkhaṃ kho me janayasi vilapanto antarapurasmiṃ,
muñcatha dāni kumāre alampi me hotu puttayaññena.
|
(Lời đức vua Ekarāja)
4977. “Này Vāsula, người cha này thuộc về
cháu. Cháu hãy đi đến gặp cha cháu đi. Sự khổ đau quả thật đã
sanh lên ở trẫm, trong khi cháu nó than van ở nội cung. Giờ đây,
các khanh hãy phóng thích các hoàng tử. Cũng đã đủ cho trẫm với
việc hiến dâng các người con.” |
48. Này cha con đó, Và-su-la,
Lời của trẻ thơ cảm hóa ta,
Tha các vương nhi, cho chúng thoát,
Thôi đừng tế lễ nữa vì cha! |
|
4978. Pubbeva khosi vutto dukkaraṃ
durabhisambhavaṃ cetaṃ,
atha no upakkhaṭassa yaññassa karosi vikkhepaṃ.
|
(Lời quan tế tự Khaṇḍahāla)
4978.
“Thật sự trước đây, thần đã nói với bệ hạ rằng: Cuộc lễ này khó
thực hiện và khó hoàn thành. Giờ tại sao bệ hạ lại làm xáo trộn
lễ hiến dâng đã được chuẩn bị của chúng ta? |
|
|
Trang 128:
|
Trang 129:
|
|
4979. Sabbe vajanti sugatiṃ ye yajanti
yepi ceva yājenti,
ye cāpi anumodanti yajantānaṃ edisaṃ mahāyaññaṃ.
|
4979. Những người nào hiến dâng, và ngay cả những người
nào bảo hiến dâng, rồi luôn cả những người nào tùy hỷ cuộc đại
lễ hiến dâng như thế này của những người đang hiến dâng, tất cả
đều đi đến nhàn cảnh. |
|
|
4980. Sabbaratanassa yañño upakkhaṭo
ekarāja tava paṭiyatto,
abhinikkhamassu deva saggaṃ gato tvaṃ pamodissasi.
|
4980. Tâu đức vua Ekarāja, lễ hiến dâng đã
được chuẩn bị với mọi thứ bảo vật, đã được sẵn sàng cho ngài.
Tâu bệ hạ, xin bệ hạ hãy tiến hành. Khi đi đến cõi Trời, bệ hạ
sẽ vui vướng.” |
49. Đàn tế lễ nay đã sẵn sàng,
Kho tàng lễ vật tuyệt cao sang,
Đại vương, mau hãy đi dâng lễ,
Rồi hưởng thiên cung cực lạc tràn. |
|
4981. Daharā sattasatā etā pana candakassa
bhariyāyo,
kese parikiritvāna rodantiyo maggamanuyanti.
|
4981.
Bảy trăm nàng trẻ tuổi này, chính là những người vợ của hoàng tử
Candaka, buông xõa mái tóc, khóc lóc, đi dọc theo con đường.
|
50. Bảy trăm cung nữ của Can-da,
Rực rỡ yêu kiều giữa tuổi hoa,
Tóc xõa tơi bời, mắt đẫm lệ,
Theo anh hùng tận số đi xa. |
|
4982. Aparā pana sokena nikkhantā nandane
viya devā,
kese parikiritvāna rodantiyo maggamanuyanti.
|
4982. Lại còn một số nàng khác, tựa như
chư Thiên ở vườn Nandana vừa giáng trần, vì sầu muộn, buông xõa
mái tóc, khóc lóc, đi dọc theo con đường. |
51. Nhiều phu nhân nhập bọn tùy tùng
Trông dáng như tiên nữ giáng trần,
Với tóc tơi bời, mắt đẫm lệ,
Đi theo nối gót vị anh hùng. |
|
4983. Kāsikasucivatthadharā kuṇḍalino
agalu candanavilittā,
nīyanti candasuriyā yaññatthāya ekarājassa.
|
4983. Hai hoàng tử Canda và Suriya, mặc
vải lụa sạch sẽ của xứ Kāsi, có đeo bông tai, được thoa kỳ nam
và trầm hương, bị dẫn đi vì mục đích hiến dâng của đức vua
Ekarāja. |
52. Lô hội, hoa tai với giáng hương,
Lụa Kà-si khoác tuyệt cao sang,
Nhìn Can-da với S u-ri ấy,
Làm nạn nhân đưa đến tế đàn. |
|
4984. Kāsikasucivatthadharā kuṇḍalino
agalucandanavilittā,
nīyanti candasuriyā mātu katvā hadayasokaṃ.
|
4984. Hai hoàng tử Canda và Suriya, mặc
vải lụa sạch sẽ của xứ Kāsi, có đeo bông tai, được thoa kỳ nam
và trầm hương, bị dẫn đi, đã gây ra cho mẫu hậu nỗi sầu muộn
trong trái tim. |
53. Lòng mẹ dường như bị cắt dao,
Lòng dân tràn ngập nỗi u sầu,
Nhìn Can-da với Su-ri ấy,
Làm nạn nhân đày đọa khổ đau. |
|
4985. Kāsikasucivatthadharā kuṇḍalino
agalucandanavilittā,
nīyanti candasuriyā janassa katvā hadayasokaṃ.
|
4985. Hai hoàng tử Canda và Suriya, mặc
vải lụa sạch sẽ của xứ Kāsi, có đeo bông tai, được thoa kỳ nam
và trầm hương, bị dẫn đi, đã gây ra cho mọi người nỗi sầu muộn
trong trái tim. |
|
4986. Maṃsarasabhojino nahāpakasunahāpitā,
kuṇḍalino agalucandanavilittā,
nīyanti candasuriyā yaññatthāya ekarājassa.
|
4986.
Hai hoàng tử Canda và Suriya, đã thọ dụng hương vị của món thịt,
đã được tắm rửa kỹ lưỡng bởi người hầu tắm, có đeo bông tai,
được thoa kỳ nam và trầm hương, bị dẫn đi vì mục đích hiến dâng
của đức vua Ekarāja. |
54. Được tẩm đầy huơng các loại hoa,
Lụa Kà-si khoác trắng như ngà,
Nhìn Can-da với Su-ri ấy,
Làm nạn nhân theo lệnh của cha. |
|
4987. Maṃsarasabhojino nahāpakasunahāpitā,
kuṇḍalino agalucandanavilittā,
nīyanti candasuriyā mātu katvā hadayasokaṃ.
|
4987. Hai hoàng tử Canda và Suriya, đã thọ dụng hương vị
của món thịt, đã được tắm rửa kỹ lưỡng bởi người hầu tắm, có đeo
bông tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, bị dẫn đi, đã gây ra
cho mẫu hậu nỗi sầu muộn trong trái tim. |
|
|
4988. Maṃsarasabhojino nahāpakasunahāpitā,
kuṇḍalino agalucandanavilittā,
nīyanti candasuriyā janassa katvā hadayasokaṃ.
|
4988. Hai hoàng tử Canda và Suriya, đã thọ dụng hương vị
của món thịt, đã được tắm rửa kỹ lưỡng bởi người hầu tắm, có đeo
bông tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, bị dẫn đi, đã gây ra
cho mọi người nỗi sầu muộn trong trái tim. |
|
|
4989. Yassu pubbe hatthivaradhuragate
hatthīhi anuvajanti,
tyajja candasuriyā ubhova pattikā yanti.
|
4989.
Trước đây, hai vị hoàng tử Canda và Suriya cỡi trên những con
voi cao quý di chuyển cùng với bầy voi; hôm nay, chính cả hai vị
ấy phải đi bộ. |
55. Xưa ngự trên mình các thớt voi,
Oai phong lẫm liệt trước muôn người,
Nhìn Can-da-với Su-ri ấy,
Đang bước lê chân cõi chết rồi. |
|
Trang 130:
|
Trang 131:
|
|
4990. Yassu pubbe assavaradhuragate assehi
anuvajanti,
tyajja candasuriyā ubhova pattikā yanti.
|
4990.
Trước đây, hai vị hoàng tử Canda và Suriya cỡi trên những con
ngựa cao quý di chuyển cùng với bầy ngựa; hôm nay, chính cả hai
vị ấy phải đi bộ. |
|
|
4991. Yassu pubbe rathavaradhuragate
rathehi anuvajanti,
tyajja candasuriyā ubhova pattikā yanti.
|
4991.
Trước đây, hai vị hoàng tử Canda và Suriya cỡi trên những cỗ xe
cao quý di chuyển cùng với đoàn xe; hôm nay, chính cả hai vị ấy
phải đi bộ. |
|
|
4992. Ye hissu pubbe niyyaṃsu
tapanīyakappanehi turaṅgehi,
tyajja candasuriyā ubhova pattikā yanti.
|
4992.
Trước đây, quả thật hai vị hoàng tử Canda và Suriya xuất hành
với những con ngựa nai nịt bằng vàng; hôm nay, chính cả hai vị
ấy phải đi bộ. |
56. Xưa ngự xe vua, cởi ngựa, la,
Điểm trang vàng ngọc, với cài hoa,
Nhìn Can-da-với Su-ri ấy,
Lê chân chờ chết buổi chiều tà. |
|
4993. Yadi sakuṇi maṃsamicchasi dayāssu
pubbena pupphavatiyā,
yajatettha ekarājā sammūḷho catūhi puttehi.
|
(Lời dân chúng ta thán)
4993. “Nếu chim muốn có thịt, chim hãy bay
về hướng đông của thành Pupphavatī. Tại đây, đức vua Ekarāja, bị
mê muội, cúng tế cuộc lễ hiến dâng với bốn hoàng tử. |
57. Chim hỡi, chim ăn thịt sống chăng?
Hãy bay đi đến phía đông môn,
Hôn quân đang lập đàn dâng lễ,
Cả bốn vương nhi bởi hận sân. |
|
4994. Yadi sakuṇi maṃsamicchasi dayāssu
pubbena pupphavatiyā,
yajatettha ekarājā sammūḷho catūhi kaññāhi.
|
4994. Nếu chim muốn có thịt, chim hãy bay
về hướng đông của thành Pupphavatī. Tại đây, đức vua Ekarāja, bị
mê muội, cúng tế cuộc lễ hiến dâng với bốn công chúa. |
58. Chim hỡi, chim ăn thịt sống chăng?
Hãy bay đi đến phía đông môn,
Hôn quân đang lập đàn dâng lễ,
Cả bốn công nương bởi hận sân. |
|
4995. Yadi sakuṇi maṃsamicchasi dayāssu
pubbena pupphavatiyā,
yajatettha ekarājā sammūḷho catūhi mahesīhi.
|
4995.
Nếu chim muốn có thịt, chim hãy bay về hướng đông của thành
Pupphavatī. Tại đây, đức vua Ekarāja, bị mê muội, cúng tế cuộc
lễ hiến dâng với bốn hoàng hậu |
|
|
4996. Yadi sakuṇi maṃsamicchasi dayāssu
pubbena pupphavatiyā,
yajatettha ekarājā sammūḷho catūhi gahapatīhi.
|
4996.
Nếu chim muốn có thịt, chim hãy bay về hướng đông của thành
Pupphavatī. Tại đây, đức vua Ekarāja, bị mê muội, cúng tế cuộc
lễ hiến dâng với bốn gia chủ. |
|
|
4997. Yadi sakuṇi maṃsamicchasi dayāssu
pubbena pupphavatiyā,
yajatettha ekarājā sammūḷho catūhi hatthīhi.
|
4997.
Nếu chim muốn có thịt, chim hãy bay về hướng đông của thành
Pupphavatī. Tại đây, đức vua Ekarāja, bị mê muội, cúng tế cuộc
lễ hiến dâng với bốn con voi. |
|
|
4998. Yadi sakuṇi maṃsamicchasi dayāssu
pubbena pupphavatiyā,
yajatettha ekarājā sammūḷho catūhi assehi.
|
4998.
Nếu chim muốn có thịt, chim hãy bay về hướng đông của thành
Pupphavatī. Tại đây, đức vua Ekarāja, bị mê muội, cúng tế cuộc
lễ hiến dâng với bốn con ngựa. |
|
|
4999. Yadi sakuṇi maṃsamicchasi dayāssu
pubbena pupphavatiyā,
yajatettha ekarājā sammūḷho catūhi usabhehi.
|
4999.
Nếu chim muốn có thịt, chim hãy bay về hướng đông của thành
Pupphavatī. Tại đây, đức vua Ekarāja, bị mê muội, cúng tế cuộc
lễ hiến dâng với bốn con bò đực. |
|
|
Trang 132:
|
Trang 133:
|
|
5000. Yadi sakuṇi maṃsamicchasi dayāssu
pubbena pupphavatiyā,
yajatettha ekarājā sammūḷho sabbacatukkena.
|
5000.
Nếu chim muốn có thịt, chim hãy bay về hướng đông của thành
Pupphavatī. Tại đây, đức vua Ekarāja, bị mê muội, cúng tế cuộc
lễ hiến dâng với nhóm bốn của tất cả các thứ. |
|
|
5001. Ayamassa pāsādo idaṃ antepuraṃ
suramaṇīyaṃ,
tedāni ayyaputtā cattāro vadhāya ninnītā.
|
5001.
Tòa lâu đài này, nội cung này của hoàng tử là vô cùng đáng yêu.
Bốn vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành quyết. |
|
|
5002. Idamassa kūṭāgāraṃ sovaṇṇaṃ
pupphamalyavitiṇṇaṃ,
tedāni ayyaputtā cattāro vadhāya ninnītā.
|
5002.
Ngôi nhà mái nhọn này của hoàng tử làm bằng vàng, được chưng bày
với những bông hoa và tràng hoa. Bốn vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị
đưa đi hành quyết. |
|
|
5003. Idamassa uyyānaṃ supupphitaṃ
sabbakālikaṃ rammaṃ,
tedāni ayyaputtā cattāro vadhāya ninnītā.
|
5003.
Vườn thượng uyển này của hoàng tử là đáng yêu, khéo được nở rộ
hoa vào mọi thời điểm. Bốn vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi
hành quyết. |
|
|
5004. Idamassa asokavanaṃ supupphitaṃ
sabbakālikaṃ rammaṃ,
tedāni ayyaputtā cattāro vadhāya ninnītā.
|
5004.
Khu rừng cây asoka này của
hoàng tử là đáng yêu, khéo được nở rộ hoa vào mọi thời điểm. Bốn
vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành quyết. |
|
|
5005. Idamassa kaṇikāravanaṃ supupphitaṃ
sabbakālikaṃ rammaṃ,
tedāni ayyaputtā cattāro vadhāya ninnītā.
|
5005.
Khu rừng cây kaṇikāra này của
hoàng tử là đáng yêu, khéo được nở rộ hoa vào mọi thời điểm. Bốn
vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành quyết. |
|
|
5006. Idamassa pāṭalīvanaṃ supupphitaṃ
sabbakālikaṃ rammaṃ,
tedāni ayyaputtā cattāro vadhāya ninnītā.
|
5006.
Khu rừng cây pāṭali này của
hoàng tử là đáng yêu, khéo được nở rộ hoa vào mọi thời điểm. Bốn
vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành quyết. |
|
|
5007. Idamassa ambavanaṃ supupphitaṃ
sabbakālikaṃ rammaṃ,
tedāni ayyaputtā cattāro vadhāya ninnītā.
|
5007.
Khu rừng xoài này của hoàng tử là đáng yêu, khéo được nở rộ hoa
vào mọi thời điểm. Bốn vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành
quyết. |
|
|
5008. Ayamassa pokkharaṇī sañchannā
padumapuṇḍarīkehi,
nāvā ca sovaṇṇavikatā pupphāvaliyā vicittā suramaṇiyā,
tedāni ayyaputtā cattāro vadhāya ninnītā.
|
5008.
Hồ nước này của hoàng tử được bao phủ bởi các đóa sen hồng, sen
trắng. Và những chiếc thuyền được khảm vàng, được tô điểm với
những chuỗi bông hoa, là vô cùng đáng yêu. Bốn vị hoàng tử ấy,
giờ đây, bị đưa đi hành quyết. |
|
|
5009. Idamassa hatthiratanaṃ erāvaṇo gajo
varuṇadantī,
tedāni ayyaputtā cattāro vadhāya ninnītā.
|
5009.
Con voi báu này của hoàng tử là con voi Erāvaṇa có cặp ngà lực
lưỡng. Bốn vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành quyết. |
|
|
5010. Idamassa assaratanaṃ ekakhuro asso,
tedāni ayyaputtā cattāro vadhāya ninnītā.
|
5010.
Con ngựa báu này của hoàng tử là con ngựa có móng liền lặn
(không bị nứt nẻ). Bốn vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành
quyết. |
|
|
Trang 134:
|
Trang 135:
|
|
5011. Ayamassa assaratho sāliyanigghoso
subho ratanacitto,
yatthassu ayyaputtā sobhiṃsu nandane viya devā,
tedāni ayyaputtā cattāro vadhāya ninnītā.
|
5011.
Cỗ xe ngựa này của hoàng tử là xinh xắn, được tô điểm với châu
ngọc, có âm thanh như tiếng kêu của loài chim thần
sāliya khi di chuyển; các vị
hoàng tử, ngự ở nơi ấy, đã chói sáng tựa như chư Thiên ở khu
vườn Nandana. Bốn vị hoàng tử ấy, giờ đây, bị đưa đi hành quyết. |
|
|
5012. Kathaṃ nāma sāmasamasundarehi
candanamarakata gattehi,
rājā yajissate yaññaṃ sammūḷho catūhi puttehi.
|
5012. Vì sao đức vua lại bị mê muội rồi sẽ cúng tế cuộc
lễ hiến dâng với bốn hoàng tử xinh đẹp tựa như vàng, có thân thể
đã được bôi trầm hương? |
|
|
5013. Kathaṃ nāma sāmasamasundarāhi
candanamarakatagattāhi,
rājā yajissate yaññaṃ sammūḷho catūhi kaññāhi.
|
5013. Vì sao đức vua lại bị mê muội rồi sẽ cúng tế cuộc
lễ hiến dâng với bốn công chúa xinh đẹp tựa như vàng, có thân
thể đã được bôi trầm hương? |
|
|
5014. Kathaṃ nāma sāmasamasundarāhi
candanamarakatagattāhi,
rājā yajissate yaññaṃ sammūḷho catūhi mahesīhi.
|
5014. Vì sao đức vua lại bị mê muội rồi sẽ cúng tế cuộc
lễ hiến dâng với bốn hoàng hậu xinh đẹp tựa như vàng, có thân
thể đã được bôi trầm hương? |
|
|
5015. Kathaṃ nāma sāmasamasundarehi
candanamarakatagattehi,
rājā yajissate yaññaṃ sammūḷho catūhi gahapatīhi.
|
5015. Vì sao đức vua lại bị mê muội rồi sẽ cúng tế cuộc
lễ hiến dâng với bốn gia chủ xinh đẹp tựa như vàng, có thân thể
đã được bôi trầm hương? |
|
|
5016. Yathā honti gāmanigamā suññā
amanussakā brahāraññā,
tathā hessati pupphavatiyā yiṭṭhesu candasuriyesu.
|
5016. Giống như thôn làng và thị trấn trở
thành khu rừng rộng lớn, vắng vẻ, không bóng người, kinh thành
Pupphavatī sẽ là tương tự như thế, khi hai vị hoàng tử Canda và
Suriya bị hiến dâng.” |
59. Làng xóm từ nay chẳng bóng người,
Trở thành rừng vắng vẻ xa xôi,
Kinh thành ta sẽ nằm hoang lạnh,
Khi các vương nhi đổ máu rồi! |
|
5017. Ummattikā bhavissāmi bhūnahatā
paṃsunā ca parikiṇṇā,
sace candavaraṃ hanti pāṇā me deva nirujjhanti.
|
(Lời mẫu hậu Gotamī)
5017.
“Thiếp sẽ trở nên điên cuồng, bị tiêu hoại sức sống, và bị phủ
đầy bụi đất, nếu các người giết chết Canda cao quý, tâu bệ hạ,
các hơi thở của thiếp bị tắc nghẹn. |
60. Thiếp sẽ khổ đau hóa dại khờ,
Đầy mình phủ bụi lấm bơ phờ,
Nếu Can-da bị dâng thần chết,
Thiếp thở nghẹn ngào khóc trẻ thơ. |
|
5018. Ummattikā bhavissāmi bhūnahatā
paṃsunā ca parikiṇṇā,
sace suriyavaraṃ hanti pāṇā me deva nirujjhanti.
|
5018. Thiếp sẽ trở nên điên cuồng, bị tiêu hoại sức sống,
và bị phủ đầy bụi đất, nếu các người giết chết Canda cao quý,
tâu bệ hạ, các hơi thở của thiếp bị tắc nghẹn. |
|
|
5019. Kinnumā na ramayeyyuṃ aññamaññaṃ
piyaṃvadā,
ghaṭṭiyā oparakkhī ca pokkharakkhī ca nāyikā,
candasuriyesu naccantiyo samo tāsaṃ na vijjati.
|
5019.
Tại sao các nàng dâu có lời nói trìu mến với nhau này, Ghaṭṭiyā,
Oparakkhī, Pokkharakkhī, Nāyikā, trong khi nhảy múa trước Canda
và Suriya, không có thể làm cho các con trai của ta vui thích?
Người sánh bằng các nàng ấy không tìm thấy. |
61. Sao chẳng nói năng hỡi các nàng,
Đứng đây, bày tỏ mến yêu chàng,
Quanh chàng, ca múa đầy vui thú,
Vừa nắm tay nhau vỗ nhịp nhàng.
62. Cho đến khi chàng hết muộn phiền,
An vui theo lệnh các nàng tiên,
Vì ai có đủ tài ca múa,
Như vậy dù tìm khắp mọi miền? |
|
5020. Imaṃ mayhaṃ hadayasokaṃ paṭimuccatu
khaṇḍahāla tava mātā,
yo mayhaṃ hadayasoko candasmiṃ vadhāya ninnīte.
|
5020.
Này Khaṇḍahāla, cầu cho mẹ của ngươi phải gánh chịu nỗi sầu muộn
trong trái tim này của ta, là nỗi sầu muộn trong trái tim của ta
khi hoàng tử Canda bị đưa đi hành quyết. |
63. Ta mong mẹ ác tế sư này,
Phải chịu bao đau khổ đắng cay,
Đang xé tim ta khi thấy cảnh,
Can-da yêu quí chết hôm nay. |
|
5021. Imaṃ mayhaṃ hadayasokaṃ paṭimuccatu
khaṇḍahāla tava mātā,
yo mayhaṃ hadayasoko suriyasmiṃ vadhāya ninnīte.
|
5021.
Này Khaṇḍahāla, cầu cho mẹ của ngươi phải gánh chịu nỗi sầu muộn
trong trái tim này của ta, là nỗi sầu muộn trong trái tim của ta
khi hoàng tử Suriya bị đưa đi hành quyết. |
|
|
Trang 136:
|
Trang 137:
|
|
5022. Imaṃ mayhaṃ hadayasokaṃ paṭimuccatu
khaṇḍahāla tava jāyā,
yo mayhaṃ hadayasoko candasmiṃ vadhāya ninnīte.
|
5022.
Này Khaṇḍahāla, cầu cho vợ của ngươi phải gánh chịu nỗi sầu muộn
trong trái tim này của ta, là nỗi sầu muộn trong trái tim của ta
khi hoàng tử Canda bị đưa đi hành quyết. |
64. Ta mong vợ ác tế sư này,
Phải chịu bao đau khổ đắng cay,
Đang xé hồn ta khi thấy cảnh,
Can-da yêu quý chết hôm nay. |
|
5023. Imaṃ mayhaṃ hadayasokaṃ paṭimuccatu
khaṇḍahāla tava jāyā,
yo mayhaṃ hadayasoko suriyasmiṃ vadhāya ninnīte.
|
5023.
Này Khaṇḍahāla, cầu cho vợ của ngươi phải gánh chịu nỗi sầu muộn
trong trái tim này của ta, là nỗi sầu muộn trong trái tim của ta
khi hoàng tử Suriya bị đưa đi hành quyết. |
|
|
5024. Mā putte mā ca patiṃ addakkhi
khaṇḍahāla tava mātā,
yo ghātesi kumāre adūsake sīhasaṅkāse.
|
5024.
Này Khaṇḍahāla, (cầu cho) mẹ của ngươi không thể gặp lại những
đứa con trai và không thể gặp lại người chồng, là kẻ đã giết
chết các hoàng tử, những người không tồi bại, giống như loài sư
tử. |
|
|
5025. Mā putte mā ca patiṃ addakkhi
khaṇḍahāla tava mātā,
yo ghātesi kumāre apekkhite sabbalokassa.
|
5025.
Này Khaṇḍahāla, (cầu cho) mẹ của ngươi không thể gặp lại những
đứa con trai và không thể gặp lại người chồng, là kẻ đã giết
chết các hoàng tử, những người được toàn bộ thế gian mong mỏi.
|
65. Ta mong nó thấy cả chồng con,
Bị giết, vì nguơi, ác đạo nhân,
Muốn giết người vô can dũng cảm,
Là niềm vinh dự của phàm trần. |
|
5026. Mā putte mā ca patiṃ addakkhi
khaṇḍahāla tava jāyā,
yo ghātesi kumāre adūsake sīhasaṅkāse.
|
5026.
Này Khaṇḍahāla, (cầu cho) vợ của ngươi không thể gặp lại những
đứa con trai và không thể gặp lại người chồng, là kẻ đã giết
chết các hoàng tử, những người không tồi bại, giống như loài sư
tử. |
|
|
5027. Mā putte mā ca patiṃ addakkhi
khaṇḍahāla tava jāyā,
yo ghātesi kumāre apekkhite sabbalokassa.
|
5027.
Này Khaṇḍahāla, (cầu cho) vợ của ngươi không thể gặp lại những
đứa con trai và không thể gặp lại người chồng, là kẻ đã giết
chết các hoàng tử, những người được toàn bộ thế gian mong mỏi.”
|
|
|
5028. Mā no deva avadhi dāse no dehi
khaṇḍahālassa,
api nigaḷabandhakāpi hatthī asse ca pālema.
|
(Lời hoàng tử Canda nói với phụ vương)
5028. “Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban
chúng con làm những nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, thậm chí là
bị trói buộc bằng xích ở chân. Hãy để chúng con trông nom các
con voi và các con ngựa. |
|
|
5029. Mā no deva avadhi dāse no dehi
khaṇḍahālassa,
api nigaḷabandhakāpi hatthicchakaṇāni ujjhema.
|
5029. Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban
chúng con làm nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, thậm chí là bị
trói buộc bằng xích ở chân. Hãy để chúng con hốt dọn các bãi
phân voi. |
|
|
5030. Mā no deva avadhi dāse no dehi
khaṇḍahālassa,
api nigaḷabandhakāpi assacchakaṇāni ujjhema.
|
5030. Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban
chúng con làm nô lệ cho quan tế tự Khaṇḍahāla, thậm chí là bị
trói buộc bằng xích ở chân. Hãy để chúng con hốt dọn các bãi
phân ngựa. |
|
|
5031. Mā no deva avadhi dāse no dehi yassa
honti tava kāmā,
api raṭṭhā pabbajitā bhikkhācariyaṃ carissāma.
|
5031. Tâu bệ hạ, chớ giết chết chúng con. Bệ hãy hãy ban
chúng con làm nô lệ cho người mà bệ hạ có nhiều yêu thích. Thậm
chí, nếu bị trục xuất khỏi đất nước, chúng con sẽ đi xin ăn. |
|
|
5032. Divyaṃ upayācanti puttatthikā
daḷiddāpi nāriyo,
paṭibhāṇānipi hitvā putte na hi labhanti ekaccā.
|
5032.
Những người phụ nữ đi đến cầu xin ơn trên, mỏi mong có được con
trai, mặc dầu nghèo khó. Một số từ bỏ các niềm khao khát bởi vì
họ không đạt được những người con trai. |
66. Một số nữ nhân vẫn ước mong,
Cầu xin để có thật nhiều con,
Họ thường phát nguyện và dâng lễ,
Trời đất, mong con cháu nội đông,
Nhưng không được một con nào cả,
Để cả nhà vui sướng thỏa lòng. |
|
Trang 138:
|
Trang 139:
|
|
5033. Assāsakāni karonti puttā no jāyantu
tato paputtā,
atha no akāraṇasmā yaññatthāya deva ghātesi.
|
5033.
Các phụ nữ tạo ra các niềm an ủi rằng: ‘Mong rằng những đứa con
trai được sanh ra cho chúng tôi, từ đó tạo ra những đứa cháu
trai.’ Giờ không có nguyên do, bệ hạ lại ra lệnh giết chúng con
vì mục đích của lễ hiến dâng. |
|
|
5034. Upayācitakena puttaṃ labhanti mā
tāta no aghātesi,
mā kicchā laddhakehi puttehi yajittho imaṃ yaññaṃ.
|
5034.
Các phụ nữ đạt được đứa con trai do sự cầu xin. Xin cha chớ giết
chết chúng con. Xin cha chớ cúng tế cuộc lễ hiến dâng này với
những người con trai đã đạt được một cách khó khăn. |
|
|
5035. Upayācitakena puttaṃ labhanti mā
tāta no aghātesi,
mā kapaṇaladdhakehi puttehi ammāya no vippavāsehi.
|
5035. Các phụ nữ đạt được đứa con trai do
sự cầu xin. Xin cha chớ giết chết chúng con. Xin cha chớ cách ly
mẹ của chúng con với những người con trai đã đạt được một cách
khốn khổ.” |
67. Đừng giết chúng con quá bạo tàn,
Dầu con cầu tự được trời ban,
Đừng đem bầy trẻ dâng đàn tế,
Bất kể công lao của mẫu thân. |
|
5036. Bahudukkhaposiyā candaṃ amma tuvaṃ
jiyyase puttaṃ,
vandāmi kho te pāde labhataṃ tāto paralokaṃ.
|
(Lời hoàng tử Canda nói với mẫu hậu)
5036. “Thưa mẹ, mẹ đã nuôi dưỡng Canda với
nhiều khó khăn, giờ mẹ bị mất đứa con trai. Con xin đảnh lễ hai
bàn chân của mẹ. Mong rằng cha con đạt được đời sau. |
68. Số phận mẹ nay quá hẩm hiu,
Nuôi con, cho bú mớm nâng niu,
Con quỳ xuống dưới chân thiêng mẹ,
Mong ước cha ân phước thật nhiều. |
|
5037. Handa ca maṃ upagūha pāde te amma
vandituṃ dehi,
gacchāmidāni pavāsaṃ yaññatthāya ekarājassa.
|
5037.
Thưa mẹ, giờ xin mẹ hãy ôm lấy con. Xin mẹ hãy cho con đảnh lễ
hai bàn chân của mẹ. Giờ đây, con ra đi đến nơi vô cùng xa xăm
vì mục đích hiến dâng của đức vua Ekarāja. |
|
|
5038. Handa ca maṃ upagūha pāde te amma
vandituṃ dehi,
gacchāmidāni pavāsaṃ mātu katvā hadayasokaṃ.
|
5038. Thưa mẹ, giờ xin mẹ hãy ôm lấy con.
Xin mẹ hãy cho con đảnh lễ hai bàn chân của mẹ. Giờ đây, con ra
đi đến nơi vô cùng xa xăm sau khi đã gây ra cho mẹ nỗi sầu muộn
trong trái tim. |
69. Cho con ôm mẹ để hôn chân,
Lần nữa ôm con thật thiết thân,
Trước lúc phân ly, giờ tử biệt,
Mẹ đau thống thiết cả tâm hồn. |
|
5039. Handa ca maṃ upagūha pāde te amma
vandituṃ dehi,
gacchāmidāni pavāsaṃ janassa hadayasokaṃ.
|
5039. Thưa mẹ, giờ xin mẹ hãy ôm lấy con. Xin mẹ hãy cho
con đảnh lễ hai bàn chân của mẹ. Giờ đây, con ra đi đến nơi vô
cùng xa xăm sau khi đã gây ra cho mọi người nỗi sầu muộn trong
trái tim.” |
|
|
5040. Handa ca padumapattānaṃ moḷiṃ
bandhassu gotamiputta,
campakadalavītimissāyo esā te porāṇiyā pakati.
|
(Lời mẫu hậu Gotamī)
5040.
“Này người con trai của Gotamī (hoàng tử Canda), giờ con hãy
buộc vòng đội đầu gồm các lá sen, có sự trộn lẫn với các đài hoa
campaka; việc này là tập quán
cổ truyền của con. |
70. Quý tử trên đầu hãy buộc lên,
Vòng vương miện kết lá hoa sen,
Và hoa cam-pak này tương xứng,
Vẻ đẹp oai hùng tuổi tráng niên. |
|
5041. Handa ca vilepanante pacchimakaṃ
candanaṃ vilimpassu,
yehi ca suvilitto sobhasi rājaparisāya.
|
5041.
Nào, con hãy thoa dầu thoa trầm hương của con lần cuối cùng;
khéo được thoa với chúng, con sẽ chói sáng ở tập thể các vị vua.
|
71. Lần cuối cùng con hãy tẩm hương,
Loại dầu thơm ngát thật cao sang,
Ngày xưa những lúc chầu vương phụ,
Yến tiệc cung đình con điểm trang. |
|
5042. Handa ca mudukāni vatthāni
pacchimakaṃ kāsikaṃ vāsehi,
yehi ca sunivattho sobhasi rājaparisāya.
|
5042.
Nào, con hãy mặc vào các tấm vải mềm mại xứ Kāsi lần cuối cùng;
khéo được trang phục với chúng, con sẽ chói sáng ở tập thể các
vị vua. |
72. Lần cuồi cùng con khoác cẩm bào,
Lụa Kà-si rực rỡ dường nào, |
|
Trang 140:
|
Trang 141:
|
|
5043. Muttāmaṇikanakavibhūtāni gaṇhassu
hatthābharaṇāni,
yehi ca hatthābharaṇehi sobhasi rājaparisāya.
|
5043. Con hãy mang các vật trang sức ở
cánh tay đã được tô điểm với ngọc trai, ngọc ma-ni, và vàng; với
các vật trang sức ở cánh tay, con sẽ chói sáng ở tập thể các vị
vua.” |
Hãy mang vàng ngọc và trân bảo,
Con vẫn mang ngày lễ hội sao. |
|
5044. Nahanūnāyaṃ raṭṭhapālo bhūmipati
janapadassa dāyādo,
lokissaro mahantā puttesu sinehaṃ janayati.
|
(Lời của nàng Candā, chánh phi của hoàng
tử Canda)
5044. “Có lẽ bậc hộ quốc này, vị chúa tể
trái đất, người thừa kế xứ sở, vị chúa tể vĩ đại của thế gian,
không khởi lên lòng yêu mến đối với những người con trai.”
|
73. Đại vương, chúa tể của giang sơn,
Ý của ngài ban khắp nước non,
Ngài chẳng còn tình yêu phụ tử,
Với người duy nhất kế ngai vàng. |
|
5045. Mayhaṃ piyā puttā attāpi piyo tumhe
ca bhariyāyo,
saggañca patthayāno tenāhaṃ ghātayissāmi.
|
(Lời của đức vua Ekarāja)
5045. “Những người con trai là đáng yêu
đối với trẫm, bản thân trẫm cũng đáng yêu, và các nàng là những
cô con dâu (cũng đáng yêu). Và trong khi ước nguyện cõi Trời, vì
lý do ấy, trẫm sẽ giết chết (những người ấy).” |
74. Ta thương mến tất cả ông hoàng,
Ta cũng quý yêu chính bản thân,
Vương hậu các nàng thân thiết cả,
Ta đem con tế lễ đăng đàn,
Bởi vì ta muốn lên thiên giới,
Chẳng muốn đi vào địa ngục môn! |
|
5046. Maṃ paṭhamaṃ ghātehi mā me hadayaṃ
dukkhaṃ aphālesi,
alaṅkato sundarako putto tava deva sukhumālo.
|
(Lời của nàng Candā, chánh phi của hoàng
tử Canda)
5046.
“Xin bệ hạ hãy giết con trước. Xin bệ hạ chớ làm vỡ tan trái tim
đau khổ của con. Tâu bệ hạ, người con trai của ngài đã được
trang điểm, xinh đẹp, thanh nhã. |
75. Chúa thượng giết con trước, đoái thương,
Kẻo niềm thống khổ xé tâm can,
Vương nhi được kết vòng hoa ấy,
Mọi vẻ chàng nay thật vẹn toàn. |
|
5047. Handayya maṃ hanassu salokā
candiyena hessāmi,
puññaṃ karassu vipulaṃ vicarāma ubhova paraloke.
|
5047.
Giờ xin bệ hạ hãy giết chết con. Con sẽ có chung thế giới cùng
với Canda. Xin bệ hạ hãy tạo phước báu lớn lao. Hãy để cả hai
chúng con tiêu dao ở thế giới bên kia.” |
76. Giết chúng con trong hố tế đàn,
Nơi Can-da đến, thiếp theo chàng,
Đại vương sẽ được công vô lượng,
Hồn trẻ lên thiên giới trú an. |
|
5048. Mā tvaṃ cande rucci bahukā tava
devarā visālakkhi,
te taṃ ramayissanti yiṭṭhasmiṃ gotamiputte.
|
(Lời của đức vua Ekarāja)
5048. “Này Candā, con chớ có ưa thích (cái
chết). Này cô gái có cặp mắt to, các em chồng của con có nhiều;
họ sẽ khiến con vui thích khi người con trai của Gotamī (hoàng
tử Canda) đã được hiến dâng.” |
77. Nàng chớ ước mong chết trước thời,
Các vương đệ dũng cảm bao người,
Sẽ an ủi đấy, hồng nhan hỡi,
Khi mất chồng yêu quý ấy rồi! |
|
5049. Evaṃ vutte cande attānaṃ hanti
hatthatalakehi,
alamatthu jīvitena pāyāmi visaṃ marissāmi.
|
5049.
Khi được nói như vậy, nàng Candā đã hành hạ bản thân bằng các
lòng bàn tay nhỏ nhắn (nói rằng): “Đã quá đủ với cuộc sống! Con
sẽ uống thuốc độc, con sẽ tự vẫn. |
|
|
5050. Nahanūnimassa rañño mittāmaccā ca
vijjare suhadā,
ye na vadanti rājānaṃ mā ghātayi orase putte.
|
5050.
Có lẽ các bạn bè, các quan cố vấn, và các thân hữu của đức vua
này không có mặt nên họ không tâu với ngài rằng: ‘Xin bệ hạ chớ
giết chết đứa con trai ruột thịt.’ |
78-79. Cố vấn, thân bằng cạnh quốc vương,
Không ai dám nói để can ngăn,
Triều thần trung tín không ai cả,
Dám thuyết phục vua chớ giết con. |
|
5051. Nahanunimassa rañño ñātimittā ca
vijjare suhadā,
ye na vadanti rājānaṃ mā ghātayi atraje putte.
|
5051.
Có lẽ các bạn bè, các bà con, và các thân hữu của đức vua này
không có mặt nên họ không tâu với ngài rằng: ‘Xin bệ hạ chớ giết
chết đứa con trai của mình.’ |
|
5052. Ime tepi mayhaṃ puttā guṇino
kāyūradhārino rāja,
tehipi yajassu yaññaṃ atha muñcatu gotamiputte.
|
5052.
Tâu bệ hạ, những người con trai này của con cũng có những đức
tính tốt, có mang vòng ở bắp tay. Bệ hạ hãy cúng tế cuộc lễ hiến
dâng với chúng rồi hãy phóng thích người con trai của Gotamī
(hoàng tử Canda). |
80. Còn có các vương tử khác kia,
Thảy đều đầy đủ mọi oai nghi,
Hãy đem các vị lên đàn tế,
Và để Can-da được thoát đi |
|
5053. Bilasatampi maṃ katvā yajassu
sattadhā mahārāja,
mā jeṭṭhaputtamavadhi adūsakaṃ sīhasaṅkāsaṃ.
|
5053. Tâu đại vương, ngài hãy băm con thành trăm mảnh và
hãy dâng hiến theo bảy cách (ở bảy nơi). Chớ giết chết người con
trai cả, là người không tồi bại, giống như loài sư tử. |
|
|
Trang 142:
|
Trang 143:
|
|
5054. Bilasatampi maṃ katvā yajassu
sattadhā mahārāja,
mā jeṭṭhaputtamavadhi apekkhitaṃ sabbalokassa.
|
5054. Tâu đại vương, ngài hãy băm con
thành trăm mảnh và hãy dâng hiến theo bảy cách (ở bảy nơi). Chớ
giết chết người con trai cả, là người được toàn bộ thế gian mong
mỏi.” |
81. Hãy xẻ thịt con để cúng dâng,
Nhưng tha thái tử, bậc anh hùng,
Người trên thế giới đồng cung kính,
Chàng dũng sĩ giao chiến tuyệt luân. |
|
5055. Bahukā tava dinnā ābharaṇā uccāvacā
subhaṇitamhi,
muttāmaṇiveḷuriyā idaṃ te pacchimakaṃ dānaṃ.
|
(Lời hoàng tử Canda)
5055. “Có nhiều đồ trang sức bằng ngọc trai, ngọc ma-ni,
và ngọc bích giá trị cao thấp khác nhau đã được ban tặng cho
nàng vào lúc chuyện trò vui vẻ; vật này là quà tặng cuối cùng
cho nàng.” |
|
|
5056. Yesaṃ pubbe khandhessu phullā
mālāguṇā vivattiṃsu,
tesajja pītanisito nettiṃso vivattissati khandhesu.
|
(Lời của nàng Candā, chánh phi của hoàng
tử Canda)
5056. “Các chuỗi bông hoa nở rộ đã quàng
vào ở vai của những vị nào, hôm nay thanh gươm sắc bén màu vàng
sẽ rơi xuống ở vai của những vị ấy. |
82. Ngày xưa vai ấy rực hoa tươi,
Lủng lẳng treo như mũ miện cài,
Thanh kiếm sắt nay tàn ác quá,
Bao trùm bóng tối cả đôi vai. |
|
5057. Yesaṃ pubbe khandhessu citrā
mālāguṇā vivattiṃsu,
tesajja pītanisito nettiṃso vivattissati khandhesu.
|
5057. Các chuỗi bông hoa sặc sỡ đã quàng vào ở vai của
những vị nào, hôm nay thanh gươm sắc bén màu vàng sẽ rơi xuống ở
vai của những vị ấy. |
|
|
5058. Acirā vata nettiṃso vivattissati
rājaputtānaṃ khandhesu,
atha mama hadayaṃ na phalati tāva daḷhabandhanañca me āsi.
|
5058.
Thật vậy, chẳng bao lâu nữa thanh gươm sẽ rơi xuống ở vai của
các vị hoàng tử, và trái tim của thiếp không vỡ tan chừng nào
còn có sự trói buộc vững bền của thiếp. |
83. Phút chốc kiếm kia đến tận nơi,
Cổ chàng vô tội lướt qua rồi,
Ôi, đem dây sắt mau ràng buộc
Kẻo trái tim ta sắp vỡ đôi! |
|
5059. Kāsikasucivatthadharā kuṇḍalino
agaḷu candanavilittā,
niyyātha candasuriyā yaññatthāya ekarājassa.
|
5059.
Thưa Canda và Suriya, hai chàng mặc vải lụa sạch sẽ của xứ Kāsi,
có đeo bông tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, hai chàng hãy
ra đi vì mục đích hiến dâng của đức vua Ekarāja. |
84. Lô hội điểm tô với giáng hương,
Lụa là rực rỡ, lắm vòng vàng,
Kìa Can-da, bước lên đàn tế,
Lễ vật xứng danh với quốc vương. |
|
5060. Kāsikasucivatthadharā kuṇḍalino
agaḷucandanavilittā,
niyyātha candasuriyā mātu katvā hadayasokaṃ.
|
5060.
Thưa Canda và Suriya, hai chàng mặc vải lụa sạch sẽ của xứ Kāsi,
có đeo bông tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, hai chàng hãy
ra đi, sau khi đã gây ra cho mẫu hậu nỗi sầu muộn trong trái
tim. |
85. Lô hội điểm tô với giáng hương,
Và nhiều áo lụa, ngọc cao sang,
Kìa Can-da bước lên đàn tế,
Lễ vật xứng danh của đại vương. |
|
5061. Kāsikasucivatthadharā kuṇḍalino
agaḷucandanavilittā,
niyyātha candasuriyā janassa katvā hadayasokaṃ.
|
5061.
Thưa Canda và Suriya, hai chàng mặc vải lụa sạch sẽ của xứ Kāsi,
có đeo bông tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, hai chàng hãy
ra đi, sau khi đã gây ra cho mọi người nỗi sầu muộn trong trái
tim. |
86. Được tẩm hương dâng lễ tế thần,
Đợi chờ thảm họa đến dần dần,
Kìa Can-da bước lên đàn tế,
Tràn ngập lòng dân nỗi khổ buồn. |
|
5062. Maṃsarasabhojino nahāpakasunahātā
kuṇḍalino agaḷucandanavilittā,
niyyātha candasuriyā yaññatthāya ekarājassa.
|
5062.
Thưa Canda và Suriya, hai chàng đã thọ dụng hương vị của món
thịt, đã được tắm rửa kỹ lưỡng bởi người hầu tắm, có đeo bông
tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, hai chàng hãy ra đi vì mục
đích hiến dâng của đức vua Ekarāja. |
|
|
5063. Maṃsarasabhojino nahāpakasunahātā
kuṇḍalino agaḷucandanavilittā,
niyyātha candasuriyā mātu katvā hadayasokaṃ.
|
5063.
Thưa Canda và Suriya, hai chàng đã thọ dụng hương vị của món
thịt, đã được tắm rửa kỹ lưỡng bởi người hầu tắm, có đeo bông
tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, hai chàng hãy ra đi, sau
khi đã gây ra cho mẫu hậu nỗi sầu muộn trong trái tim. |
|
|
Trang 144:
|
Trang 145:
|
|
5064. Maṃsarasabhojino nahāpakasunahātā
kuṇḍalino agaḷucandanavilittā,
niyyātha candasuriyā janassa katvā hadayasokaṃ.
|
5064.
Thưa Canda và Suriya, hai chàng đã thọ dụng hương vị của món
thịt, đã được tắm rửa kỹ lưỡng bởi người hầu tắm, có đeo bông
tai, được thoa kỳ nam và trầm hương, hai chàng hãy ra đi, sau
khi đã gây ra cho mọi người nỗi sầu muộn trong trái tim.” |
|
|
5065. Sabbasmiṃ upakkhaṭasmiṃ nisīdite
candiyasmiṃ yaññatthāya,
pañcālarājadhītā pañjalikā sabbaparisamanupariyāyi.
|
5065. Khi tất cả đã được chuẩn bị, khi
hoàng tử Canda đã ngồi xuống vì mục đích của lễ hiến dâng, người
con gái của đức vua Pañcāla đã đi vòng quanh tất cả hội chúng,
tay chắp lại (khấn nguyện rằng): |
87. Khi sửa soạn xong lễ tế đàn,
Can-da ngồi đó đợi tai nàn,
Pañca công chúa đi vào giữa,
Quần chúng khắp nơi, phát nguyện vang: |
|
5066. Yena saccena khaṇḍahālo pāpakammaṃ
karoti dummedho,
etena saccavajjena samaṅginī sāmikena homi.
|
5066.
“Kẻ ngu muội Khaṇḍahāla làm hành động độc ác là sự thật. Do lời
nói chân thật này, hãy cho thiếp được chung sống với chồng.
|
88.- Quả nhiên đây vị Bà-la-môn,
Làm độc kế do tính dối dang,
Mong ước phu quân yêu dấu ấy,
Chẳng bao lâu nữa được an toàn. |
|
5067. Yedhatthi amanussā yāni ca
yakkhabhūtabhavyāni,
karontu me veyyāvaṭikaṃ samaṅginī sāmikena homi.
|
5067.
Các hàng phi nhân nào, cùng chư Dạ-xoa, chư sinh linh, và các
loài đang hiện hữu nào có mặt ở nơi này, xin các ngài hãy thực
hiện bổn phận đối với thiếp, hãy cho thiếp được chung sống với
chồng. |
89. Mong các thần, tiên, quỷ chốn đây,
Hãy nghe lời nói của con vầy,
Thực hành nhiệm vụ con giao phó,
Tái hợp con cùng thái tử này. |
|
5068. Yā devatā idhāgatā yāni ca
yakkhabhūtabhavyāni,
saraṇesiniṃ anāthaṃ tāyatha maṃ yācāmahaṃ patimāhaṃ ajiyyaṃ.
|
5068.
Chư Thiên nào, cùng chư Dạ-xoa, chư sinh linh, và các loài đang
hiện hữu nào đã đi đến nơi này, xin các ngài hãy hộ trì thiếp,
là kẻ tầm cầu sự nương nhờ, kẻ không có người bảo hộ,. Thiếp cầu
xin các ngài, xin chớ để thiếp phải bị mất chồng.” |
90. Tất cả thần tiên ở chốn này,
Con xin quỳ xuống dưới chân ngài,
Hộ phù con trẻ không người giúp,
Thương xót nghe con cầu cứu đây. |
|
5069. Taṃ sutvā amanusso ayokūṭaṃ
paribbhametvāna,
bhayamassa janayanto rājānaṃ idamavoca.
|
5069. Nghe được điều ấy, Thiên Vương Sakka
đã vung cây búa sắt lên làm cho đức vua sợ hãi, rồi đã nói với
đức vua điều này: |
91. Thiên thần nghe tiếng nọ kêu than,
Muốn giúp chánh nhân, vội giáng phàm,
Vung khối sắt lên, lòe ánh sáng,
Làm tâm bạo chúa phải kinh hoàng. |
|
5070. Bujjhassu kho rājakali mātāhaṃ
matthakaṃ nitāḷemi,
mā jeṭṭhaputtamavadhi adūsakaṃ sīhasaṅkāsaṃ.
|
5070.
“Này nhà vua tội lỗi, ngươi hãy thức tỉnh. Chớ để ta giáng xuống
đầu ngươi. Chớ giết chết người con trai cả, là người không tồi
bại, giống như loài sư tử. |
92. - Bạo chúa biết ta, Thiên đế chăng?
Hãy nhìn xem vũ khí ta mang,
Đừng làm hại trưởng nam vô tội,
Sư tử chúa trong bãi chiến trường. |
|
5071. Ko te diṭṭhā rājakalī puttabhariyāyo
haññamānā,
seṭṭhī ca gahapatayo adūsakā saggakāmā hi.
|
5071.
Này nhà vua tội lỗi, ngươi đã nhìn thấy những kẻ nào có sự mong
muốn cõi Trời để rồi các con trai và các người vợ, cùng các gia
chủ triệu phú lại bị giết chết?” |
93. Tội ác này ai thấy chốn nào,
Vợ con bị giết cả nhà sao,
Cùng thần dân quý nhất thiên hạ,
Xứng đáng lên thiên giới tối cao? |
|
5072. Taṃ sutvā khaṇḍahālo rājā ca
abbhutamidaṃ disvāna,
sabbesaṃ bandhanāni mocesuṃ yathā taṃ apāpānaṃ.
|
5072.
Nghe được điều ấy, quan tế tự Khaṇḍahāla và đức vua, sau khi
nhìn thấy việc này là không có thật, đã giải thoát các sự trói
buộc cho tất cả, giống như việc ấy được dành cho những kẻ không
có tội ác. |
94. Bạo chúa vội cùng vị tế sư,
Thả người vô tội, nạn nhân ra, |
|
5073. Sabbesu vippamuttesu ye ca tattha
samāgatā tadā āsuṃ,
sabbe ekekaleḍḍukamadaṃsu esa vadho khaṇḍahālassa.
|
5073.
Khi tất cả đã được thả ra, những người nào đã tụ họp tại nơi ấy
vào lúc ấy, tất cả bọn họ, mỗi người một cục đá đã ném vào lão
Khaṇḍahāla; việc ấy là cái chết dành cho lão. |
Đám đông lấy đá và cây gậy,
Cuồng nhiệt say sưa, họ hét la,
Đánh chết Khan-da ngay tại chỗ,
Đền bù bao tội ác gian tà. |
|
Trang 146:
|
Trang 147:
|
|
5074. Sabbe patiṃsu nirayaṃ yathā taṃ
pāpakaṃ karitvāna,
na hi pāpakammaṃ katvā labbhā sugatiṃ ito gantuṃ.
|
5074.
Tất cả những kẻ sau khi đã làm việc độc ác ấy như thế đã rơi vào
địa ngục; bởi vì sau khi đã làm nghiệp ác, không thể nào từ nơi
này đi đến nhàn cảnh. |
95. Ai đã tạo nên tội ác vầy,
Thẳng đường vào địa ngục kia ngay,
Không ai được tái sinh Thiên giới,
Khi đã mang lầm lỗi thế này. |
|
5075. Sabbesu vippamuttesu ye ca tattha
samāgatā tadā āsuṃ,
candaṃ abhisiñciṃsu samāgatā rājaparisā ca.
|
5075.
Khi tất cả đã được thả ra, những người đã tụ họp tại nơi ấy vào
lúc ấy và tập thể các vị vua đã tụ họp lại, họ đã phong vương
cho Canda. |
96. Khi các tù nhân đã được tha,
Đám đông quần chúng đổ xô ra,
Cử hành đại lễ đầy vinh hiển,
Quán đảnh Can-da kế vị vua. |
|
5076. Sabbesu vippamuttesu ye ca tattha
samāgatā tadā āsuṃ,
candaṃ abhisiñciṃsu samāgatā rājakaññāyo.
|
5076.
Khi tất cả đã được thả ra, những người đã tụ họp tại nơi ấy vào
lúc ấy và các công chúa đã tụ họp lại, họ đã phong vương cho
Canda. |
|
|
5077. Sabbesu vippamuttesu ye ca tattha
samāgatā tadā āsuṃ,
candaṃ abhisiñciṃsu samāgatā devaparisā ca.
|
5077.
Khi tất cả đã được thả ra, những người đã tụ họp tại nơi ấy vào
lúc ấy và tập thể chư Thiên đã tụ họp lại, họ đã phong vương cho
Canda. |
|
|
5078. Sabbesu vippamuttesu ye ca tattha
samāgatā tadā āsuṃ,
candaṃ abhisiñciṃsu samāgatā devakaññāyo.
|
5078.
Khi tất cả đã được thả ra, những người đã tụ họp tại nơi ấy vào
lúc ấy và các Thiên nữ đã tụ họp lại, họ đã phong vương cho
Canda. |
|
|
5079. Sabbesu vippamuttesu ye ca tattha
samāgatā tadā āsuṃ,
celukkhepamakaruṃ samāgatā rājaparisā ca.
|
5079.
Khi tất cả đã được thả ra, những người đã tụ họp tại nơi ấy vào
lúc ấy và tập thể các vị vua đã tụ họp lại, họ đã vẫy khăn chúc
mừng. |
97. Đông đảo chư thần với thế nhân,
Vẫy khăn, cờ xí, hát chào mừng,
Khởi đầu triều mới đầy hoan lạc,
Hạnh phúc, bình an với thịnh hưng. |
|
5080. Sabbesu vippamuttesu ye ca tattha
samāgatā tadā āsuṃ,
celukkhepamakaruṃ samāgatā rājakaññāyo.
|
5080.
Khi tất cả đã được thả ra, những người đã tụ họp tại nơi ấy vào
lúc ấy và các công chúa đã tụ họp lại, họ đã vẫy khăn chúc mừng. |
|
|
5081. Sabbesu vippamuttesu ye ca tattha
samāgatā tadā āsuṃ,
celukkhepamakaruṃ samāgatā devaparisā ca.
|
5081.
Khi tất cả đã được thả ra, những người đã tụ họp tại nơi ấy vào
lúc ấy và tập thể chư Thiên đã tụ họp lại, họ đã vẫy khăn chúc
mừng. |
|
|
5082. Sabbesu vippamuttesu ye ca tattha
samāgatā tadā āsuṃ,
celukkhepamakaruṃ samāgatā devakaññāyo.
|
5082.
Khi tất cả đã được thả ra, những người đã tụ họp tại nơi ấy vào
lúc ấy và các Thiên nữ đã tụ họp lại, họ đã vẫy khăn chúc mừng. |
|
|
5083. Sabbesu vippamuttesu bahū ānandano
ahu vaṃso,
nandippavesi nagaraṃ bandhanā mokkho aghositthā ”ti.
|
5083.
Khi tất cả đã được thả ra, hoàng tộc đã có nhiều sự vui mừng, đã
reo vang: ‘Tự do khỏi sự trói buộc, giam cầm,’ đã làm cho thành
phố tràn ngập niềm hoan hỷ.” |
98. Thiên thần, phụ nữ cạnh nam nhi,
Gia nhập cùng nhau mở hội hè,
An lạc đầy nhà niềm hạnh phúc.
Khi tù nhân thảy được tha về.
Câu chuyện
542 |
|
Khaṇḍahālajātakaṃ pañcamaṃ.
*** |
Bổn Sanh Quan Tế Tự Khaṇḍahāla là
thứ năm.
[542]
*** |
| <Trang trước> |
<Trang Kế> |