|
01.
BRĀMAJĀLASUTTAṂ
(tiếp theo)
|
|
01. BRAHMAJĀLASUTTAṂ
- Buddha
Jayanti Tripitaka Series - Volume VII |
1. KINH PHẠM VƠNG - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07 |
|
TTPV tập 10, trang 22 |
|
|
36. Santi bhikkhave eke
samaṇabrāhmaṇā sassatavādā sassataṃ attānañca lokañca paññāpenti
catūhi vatthūhi. Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma
kimārabbha sassatavādā sassataṃ attānañca lokañca paññāpenti
catūhi vatthūhi? |
30. Này các Tỷ-kheo, có một số
Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, chấp rằng: "Bản
ngă về thế giới là thường c̣n" với bốn luận chấp. Và những Sa-môn,
Bà-la-môn này, y chỉ ǵ, căn cứ ǵ, chủ trương Thường trú luận,
và chấp bản ngă và thế giới là thường c̣n với bốn luận chấp?
|
|
37. Idha bhikkhave ekacco samaṇo
vā brāhmaṇo vā ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya
appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṃ cetosamādhiṃ
phusati yathāsamāhite citte anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati,
seyyathīdaṃ: “Ekampi jātiṃ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi
jātiyo pañcapi jātiyo dasapi jātiyo vīsatimpi jātiyo tiṃsampi
jātiyo cattārīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi
jātisahassampi jātisatasahassampi anekānipi jātisatāni anekānipi
jātisahassāni anekānipi jātisatasahassāni amutrāsiṃ evannāmo
evaṅgotto evaṃvaṇṇo evamāhāro evaṃsukhadukkhapaṭisaṃvedi
evamāyupariyanto. So tato cuto amutra upapādiṃ[1]
tatrāpāsiṃ evannāmo
evaṅgotto evaṃvaṇṇo evamāhāro evaṃsukhadukkhapaṭisaṃvedī
evamāyupariyanto. So tato cuto idhūpapanno ’ti.”
--------------
[1]
udapādiṃ - Sīmu.
|
31. Này các Tỷ-kheo, nhờ nhiệt
tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh
ức niệm, nên tâm nhập định; khi tâm nhập định, vị ấy nhớ được
nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời,
năm đời, mười đời, trăm đời, ngàn đời, trăm ngàn đời, vô số trăm
đời, vô số ngàn đời, vô số trăm ngàn đời, nhớ rằng: Khi được
sanh tại chỗ ấy, tôi đă sống với tên như thế này, gịng họ như
thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ
thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy chết đi, tôi
lại được sanh đến chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đă sống tên như thế
này, gịng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế
này, lạc thọ, khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ
kia chết đi tôi được sanh tại chỗ này". |
|
Iti sākāraṃ sa-uddesaṃ
anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati. So evamāha: ‘sassato attā
ca loko ca vañjho kūṭaṭṭho esikaṭṭhāyiṭṭhito. Teva sattā
sandhāvanti saṃsaranti cavanti upapajjanti, atthitveva
sassatisamaṃ. Taṃ kissa hetu? Ahaṃ hi ātappamanvāya
anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṃ
cetosamādhiṃ phusāmi yathāsamāhite citte anekavihitaṃ
pubbenivāsaṃ anussarāmi, seyyathīdaṃ: “Ekampi jātiṃ dvepi jātiyo
―pe― idhūpapanno ’ti. Iti sākāraṃ sa-uddesaṃ anekavihitaṃ
pubbenivāsaṃ anussarāmi. Imināmahaṃ etaṃ jānāmi: yathā sassato
attā ca loko ca vañjho kūṭaṭṭho esikaṭṭhāyiṭṭhito. Teva sattā
sandhāvanti saṃsaranti cavanti upapajjanti atthitveva
sassatisaman ”ti.
|
Như vậy người ấy nhớ nhiều đời
quá khứ, với những đặc điểm và những chi tiết. Người ấy nói rằng:
"Bản ngă và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đảnh
núi, như trụ đá; c̣n những loại hữu t́nh kia thời lưu chuyển
luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú. Tại
sao vậy? V́ rằng tôi do nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn,
nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm... c̣n những loại hữu
t́nh kia th́ lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy
chúng vẫn thường trú". |
|
Idaṃ bhikkhave paṭhamaṃ ṭhānaṃ
yaṃ āgamma yaṃ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā sassatavādā sassataṃ
attānañca lokañca paññāpenti. |
Này các Tỷ-kheo đó là lập trường
thứ nhất, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số những vị Sa-môn,
Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận, và chấp rằng bản ngă và
thế giới là thường c̣n.
|
|
TTPV tập 10, trang 24 |
|
|
38. Dutiye ca bhonto
samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha sassatavādā sassataṃ
attānañca lokañca paññāpenti? |
32. Trường hợp thứ hai, có những
Sa-môn, Bà-la-môn y chỉ ǵ, căn cứ ǵ, chủ trương Thường trú
luận, và chấp rằng bản ngă và thế giới là thường c̣n?
|
|
Idha
bhikkhave ekacco samaṇo vā brāhmaṇo vā ātappamanvāya
padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya
sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṃ cetosamādhiṃ phusati
yathāsamāhite
citte anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati ― seyyathīdaṃ: ekampi
saṃvaṭṭavivaṭṭaṃ dvepi saṃvaṭṭavivaṭṭāni tīṇipi
saṃvaṭṭavivaṭṭāni cattāripi saṃvaṭṭavivaṭṭāni pañcapi
saṃvaṭṭavivaṭṭāni’ dasapi saṃvaṭṭavivaṭṭāni ‘amutrāsiṃ evannāmo
evaṅgotto evaṃvaṇṇo evamāhāro evaṃsukhadukkhapaṭisaṃvedī
evamāyupariyanto. So tato cuto amutra upapādiṃ. Tatrāpāsiṃ
evannāmo evaṅgotto evaṃvaṇṇo evamāhāro
evaṃsukhadukkhapaṭisaṃvedī evamāyupariyanto. So tato cuto
idhūpapanno ’ti.” Iti sākāraṃ sa-uddesaṃ anekavihitaṃ
pubbenivāsaṃ anussarati.
|
Này các Tỷ-kheo, ở đời này có Sa-môn
hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ
không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định, khi tâm
nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như một thành
kiếp hoại kiếp, hai thành kiếp hoại kiếp, ba thành kiếp hoại
kiếp, mười thành kiếp hoại kiếp; nhớ rằng: "Khi được sanh tại
chỗ ấy, tôi đă sống với tên như thế này, gịng họ như thế này,
giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, lạc thọ khổ thọ như
thế này... |
|
So
evamāha: ‘sassato attā ca loko ca vañjho kuṭaṭṭho
esikaṭṭhāyiṭṭhito. Teva sattā sandhāvanti saṃsaranti cavanti
upapajjanti atthitveva sassatisamaṃ. Taṃ kissa hetu? Ahaṃ hi
ātappamanvāya ―pe― tathārūpaṃ cetosamādhiṃ phusāmi
yathāsamāhite
citte anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarāmi,
seyyathīdaṃ:
ekampi ―pe― dasapi saṃvaṭṭavivaṭṭāni ‘amutrāsiṃ evannāmo ―pe―
idhūpapanno ’ti.”
Iti sākāraṃ sa-uddesaṃ anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ
anussarāmi. Iminā’pāhaṃ etaṃ jānāmi yathā sassato attā ca loko
ca vañjho kuṭaṭṭho esikaṭṭhāyiṭṭhito. Teva sattā sandhāvanti
saṃsaranti cavanti upapajjanti. Atthitveva sassatisaman ’ti.”
|
... c̣n những loại hữu t́nh kia
lưu chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường
trú". |
|
Idaṃ bhikkhave dutiyaṃ ṭhānaṃ yaṃ
āgamma yaṃ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā sassatavādā sassataṃ
attānañca lokañca paññāpenti. |
Này các Tỷ-kheo, đó là lập trường
thứ hai, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số những Sa-môn,
Bà-la-môn, chủ trương Thường trú luận và chấp rằng, bản ngă và
thế giới thường c̣n.
|
|
39. Tatiye ca
bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha sassatavādā sassataṃ
attānañca lokañca paññāpenti? |
33. Trường hợp thứ ba, những Sa-môn
hay Bà-la-môn, y chỉ ǵ, căn cứ ǵ, chủ trương Thường trú luận,
và cho rằng bản ngă và thế giới là thường c̣n?
|
|
TTPV tập 10, trang 26 |
|
|
Idha bhikkhave ekacco samaṇo vā
brāhmaṇo vā ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya
appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṃ cetosamādhiṃ
phusati yathāsamāhite citte anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarati,
seyyathīdaṃ: dasapi saṃvaṭṭavivaṭṭaṃ vīsatimpi saṃvaṭṭavivaṭṭāni
tiṃsampi saṃvaṭṭavivaṭṭāni cattārīsampi saṃvaṭṭavivaṭṭāni
amutrāsiṃ evannāmo evaṃgotto evaṃvaṇṇo evamāhāro
evaṃsukhadukkhapaṭisaṃvedī evamāyupariyanto. So tato cuto amutra
upapādiṃ.[1] Tatrāpāsiṃ evannāmo evaṅgotto evaṃvaṇṇo evamāhāro
evaṃsukhadukkhapaṭisaṃvedī evamāyupariyanto. So tato cuto
idhūpapanno ’ti.” Iti sākāraṃ sa-uddesaṃ anekavihitaṃ
pubbenivāsaṃ anussarati.
-----------------------
[1] udapādiṃ
- Sīmu. |
Này các Tỷ-kheo, ở đời này có Sa-môn
hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ
không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm
nhập định, vị ấy nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như mười thành
kiếp hoại kiếp, hai mươi thành kiếp hoại kiếp, ba mươi thành
kiếp hoại kiếp, bốn mươi thành kiếp hoại kiếp, năm mươi thành
kiếp hoại kiếp; nhớ rằng: "Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi đă sống
với tên như thế này, gịng họ như thế này, giai cấp như thế này,
lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ chỗ ấy,
chết đi, tôi lại được sanh đến chỗ kia. Từ chỗ ấy, chết đi, tôi
lại được sanh đến chỗ kia. Tại chỗ kia, tôi đă sống với tên như
thế này, gịng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như
thế này, lạc thọ khổ thọ như thế này, tuổi thọ như thế này. Từ
chỗ kia chết đi, tôi được sanh tại chỗ này". Như vậy người ấy
nhớ nhiều đời quá khứ với những đặc điểm và những chi tiết.
|
|
So evamāha: “Sassato attā ca loko
ca vañjho kūṭaṭṭho esikaṭṭhāyiṭṭhito. Teva sattā sandhāvanti
saṃsaranti cavanti upapajjanti atthitveva sassatisamaṃ. Taṃ
kissa hetu? Ahaṃ hi ātappamanvāya ―pe― tathārūpaṃ cetosamādhiṃ
phusāmi yathāsamāhite citte anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarāmi,
seyyathīdaṃ: dasapi saṃvaṭṭavivaṭṭāni ―pe― cattārīsampi
saṃvaṭṭavivaṭṭāni amutrāsiṃ evannāmo ―pe― idhūpapanno ’ti. Iti
sākāraṃ sa-uddesaṃ anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarāmi. Iminā
mahaṃ etaṃ jānāmi. Yathā sassato attā ca loko ca vañjho kūṭaṭṭho
esikaṭṭhāyiṭṭhito teva sattā sandhāvanti saṃsaranti cavanti
upapajjanti atthitveva sassatisaman ’ti.” |
Người ấy nói: "Bản ngă và thế
giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đảnh núi, như trụ đá;
c̣n những loại hữu t́nh kia th́ lưu chuyển luân hồi, chết đi
sanh lại, tuy vậy, chúng vẫn thường trú. Tại sao vậy? V́ rằng
tôi nhờ nhiệt tâm... nên tâm nhập định như vậy. Khi tâm nhập
định như vậy, tôi nhớ được nhiều đời sống quá khứ, như mười
thành kiếp, hoại kiếp... bốn mươi thành kiếp hoại kiếp". Nhớ
rằng: "Khi được sanh tại chỗ ấy, tôi sống với tên như thế này...
tôi được sanh tại chỗ này". Như vậy người ấy nhớ nhiều đời quá
khứ với những với những đặc điểm và những chi tiết. Người ấy nói:
"Bản ngă và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc như đảnh
núi, trụ đá... c̣n những loại hữu t́nh kia th́ lưu chuyển, luân
hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường trú".
|
|
Idaṃ bhikkhave tatiyaṃ ṭhānaṃ yaṃ
āgamma yaṃ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā sassatavādā sassataṃ
attānaṃ ca lokaṃ ca paññāpenti.
|
Này các Tỷ-kheo, đó là lập trường
thứ ba, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn,
chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngă và thế giới thường c̣n. |
|
40. Catutthe ca bhonto
samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha sassatavādā sassataṃ
attānañca lokañca paññāpenti? |
34. Trường hợp thứ tư, những Sa-môn,
Bà-la-môn y chỉ ǵ, căn cứ ǵ, chủ trương Thường trú luận, và
chấp bản ngă và thế giới thường c̣n?
|
|
Idha bhikkhave ekacco samaṇo vā
brāhmaṇo vā takkī hoti vīmaṃsī. So takkapariyāhataṃ
vīmaṃsānucaritaṃ sayampaṭibhānaṃ evamāha: ‘sassato attā ca loko
ca vañjho kūṭaṭṭho esikaṭṭhāyiṭṭhito. Teva sattā sandhāvanti
saṃsaranti cavanti upapajjanti atthitveva sassatisamanti. |
Này các Tỷ-kheo, ở đời có Sa-môn
hay Bà-la-môn, là nhà suy luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ
của suy luận, và sự tùy thuận theo thẩm sát, vị này tuyên bố như
thế này: "Bản ngă và thế giới là thường trú, bất sanh, vững chắc
như đảnh núi, như trụ đá, c̣n những loại hữu t́nh kia thời lưu
chuyển luân hồi, chết đi sanh lại, tuy vậy chúng vẫn thường c̣n".
|
|
TTPV tập 10, trang 28 |
|
|
Idaṃ bhikkhave catutthaṃ ṭhānaṃ
yaṃ āgamma yaṃ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā sassatavādā sassataṃ
attānañca lokañca paññāpenti. |
Này các Tỷ-kheo, đó là lập trường
thứ tư, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn,
chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngă và thế giới là thường
c̣n.
|
|
41. Imehi kho te bhikkhave
samaṇabrāhmaṇā sassatavādā sassataṃ attānañca lokañca paññāpenti
catūhi vatthūhi. Ye hi keci bhikkhave samaṇā vā brāhmaṇā vā
sassatavādā sassataṃ attānañca lokañca paññāpenti, sabbe te
imeheva catūhi vatthūhi etesaṃ vā aññatarena natthi ito bahiddhā. |
35. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn,
Bà-la-môn này, chủ trương Thường trú luận, chấp bản ngă và thế
giới là thường c̣n, với bốn luận chấp. Nếu có những vị Sa-môn,
Bà-la-môn nào chủ trương Thường trú luận, chấp rằng: "Bản ngă và
thế giới là thường c̣n", chúng sẽ chấp cả bốn luận chấp trên,
hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp
nào khác nữa.
|
|
42. Tayidaṃ bhikkhave tathāgato
pajānāti: ‘Ime kho diṭṭhiṭṭhānā evaṃgahitā evaṃparāmaṭṭhā
evaṃgatikā bhavissanti evaṃabhisamparāyā ’ti. Tañca tathāgato
pajānāti tato ca uttaritaraṃ pajānāti. Taṃ ca pajānanaṃ na
parāmasati. Aparāmasato cassa paccattaññeva nibbuti viditā.
Vedanānaṃ samudayañca atthagamañca assādañca ādīnavañca
nissaraṇañca yathābhūtaṃ viditvā anupādā vimutto bhikkhave
tathāgato. |
36. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ
tri như thế này: "Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ
như vậy, sẽ đưa đến những cơi thú như vậy, sẽ tác thành những
định mạng như vậy". Như Lai biết như vậy, Ngài lại biết hơn thế
nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri
ấy, nội tâm chứng được tịch tịnh. Ngài như thật biết sự tập khởi,
sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly
của chúng. Nhờ biết vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải
thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.
|
|
43. Ime kho te bhikkhave dhammā
gambhīrā duddasā duranubodhā santā paṇītā[1] atakkāvacarā
nipuṇā paṇḍitavedanīyā[2] ye tathāgato sayaṃ abhiññā sacchikatvā
pavedeti yehi tathāgatassa yathābhuccaṃ vaṇṇaṃ sammā vadamānā
vadeyyuṃ.
--------------------
[1] panītā - Ma.
[2]
vedaniyā
- Ma. |
37. Những chấp pháp ấy, này các
Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh,
mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lư suông, tế nhị, chỉ những
người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy, Như Lai đă
thắng tri, giác ngộ và tuyên thuyết; và chính những pháp ấy,
những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
|
|
Paṭhamakabhāṇavāraṃ. |
Tụng phẩm thứ hai.
|
|
44. Santi bhikkhave eke
samaṇabrāhmaṇā ekaccasassatikā ekacca-asassatikā ekaccaṃ
sassataṃ ekaccaṃ asassataṃ attānañca lokañca paññāpenti catūhi
vatthūhi. Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha
ekaccasassatikā ekacca-asassatikā ekaccaṃ sassataṃ ekaccaṃ
asassataṃ attānañca lokañca paññāpenti catūhi vatthūhi? |
1. Này các Tỷ-kheo, lại có những
Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần
Vô thường luận, chấp bản ngă và thế giới là thường c̣n đối với
một hạng hữu t́nh và vô thường đối với một hạng hữu t́nh khác,
với bốn luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, y chỉ ǵ, căn
cứ ǵ chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường
luận, chấp bản ngă và thế giới là thường c̣n đối với một hạng
hữu t́nh và vô thường đối với một hạng hữu t́nh khác, với bốn
luận chấp?
|
|
TTPV tập 10, trang 30 |
|
|
45. Hoti kho so bhikkhave samayo
yaṃ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṃ loko
saṃvaṭṭati. Saṃvaṭṭamāne loke yebhuyyena sattā
ābhassarasaṃvattanikā honti. Te tattha honti manomayā
pītibhakkhā sayampabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino ciraṃ
dīghamaddhānaṃ tiṭṭhanti. |
2. Này các Tỷ-kheo, có một thời
đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này
chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, các loại hữu t́nh
phần lớn sanh qua cơi Abhassara (Quang Âm thiên). Ở tại đấy,
những loại chúng sanh này do ư sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu
hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và
sống như vậy một thời gian khá dài.
|
|
Hoti kho so bhikkhave samayo yaṃ
kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṃ loko vivaṭṭati.
Vivaṭṭamāne loke suññaṃ brahmavimānaṃ pātubhavati. Athaññataro
satto āyukkhayā vā puññakkhayā vā ābhassarakāyā cavitvā suññaṃ
brahmavimānaṃ upapajjati. So tattha hoti manomayo pītibhakkho
sayampabho antalikkhacaro subhaṭṭhāyī ciraṃ dīghamaddhānaṃ
tiṭṭhati.
|
3. Này các Tỷ-kheo, có một thời
đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này
chuyển thành. Trong khi thế giới này chuyển thành, Phạm cung
được hiện ra, nhưng trống không. Lúc bấy giờ, một hữu t́nh, hoặc
thọ mạng đă tận, hay phước báo đă tận, mạng chung từ Quang Âm
thiên, sanh qua Phạm cung trống rỗng ấy. Vị ấy ở tại đấy, do ư
sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư
không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy trong một thời
gian khá dài.
|
|
Tassa tattha ekakassa dīgharattaṃ
nibbusitattā anabhirati paritassanā uppajjati: ‘aho vata aññe
’pi sattā itthattaṃ āgaccheyyun ’ti. Atha aññatare ’pi sattā
āyukkhayā vā puññakkhayā vā ābhassarakāyā cavitvā brahmavimānaṃ
upapajjanti tassa sattassa sahavyataṃ. Te ’pi tattha honti
manomayā pītibhakkhā sayampabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino
ciraṃ dīghamaddhānaṃ tiṭṭhanti. |
4. Vị này, tại chỗ ấy, sau khi
sống lâu một ḿnh như vậy, khởi ư chán nản, không hoan hỷ và có
kỳ vọng: "Mong sao có các loài hữu t́nh khác, cũng đến tại chỗ
này!" Lúc bấy giờ, các loài hữu t́nh khác, hoặc thọ mạng đă tận,
hay phước báo đă tận, bị mệnh chung và từ thân Quang Âm thiên,
sanh qua Phạm cung để làm bạn với vị hữu t́nh kia. Những loại
hữu t́nh ở đấy cũng do ư sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào
quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống
như vậy, trong một thời gian khá dài.
|
|
Tatra bhikkhave yo so satto
paṭhamaṃ upapanno tassa evaṃ hoti: ‘ahamasmi brahmā mahābrahmā
abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā
nimmātā seṭṭho sajitā[1] vasī pitā bhūtabhavyānaṃ. Mayā ime
sattā nimmitā. Taṃ kissa hetu? Mamaṃ hi pubbe etadahosi: aho
vata aññe ’pi sattā itthattaṃ āgaccheyyun ’ti. Iti mamañca[2]
manopaṇidhi. Ime ca sattā itthattaṃ āgatā ’ti. Ye ’pi te sattā
pacchā upapannā[3] tesampi evaṃ hoti: ayaṃ kho bhavaṃ brahmā
mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro
kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhavyānaṃ. Iminā
mayaṃ bhotā brahmuṇā nimmitā. Taṃ kissa hetu? Imaṃ hi mayaṃ
addasāma idha paṭhamaṃ upapannaṃ. Mayaṃ panamhā pacchā upapannā
’ti.
-------------------
[1] saṃjitā - PTS.
[2] mama ca - Ma.
[3] uppannā - Sīmu 1. |
5. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo,
vị hữu t́nh đầu tiên sanh qua nghĩ rằng: "Ta là Phạm thiên, Đại
Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Biến nhăn, Thượng tôn, Thượng
đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Đại tôn, Chúa tể mọi định mạng,
đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đă và sẽ sanh. Những loài hữu
t́nh ấy do chính ta sanh ra. Tại sao vậy? V́ chính do ta khởi
niệm: Mong sao các loài hữu t́nh khác cũng đến tại chỗ này -
Chính do sở nguyện của ta mà những loài hữu t́nh ấy đến tại chỗ
này". Các loài hữu t́nh đến sau cũng nghĩ như thế này: "Vị ấy là
Phạm thiên, Đại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhăn,
Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Đại tôn, Chúa
tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đă và sẽ
sanh. Chúng ta do vị Phạm thiên này hóa sanh. V́ sao vậy? V́ ta
đă thấy vị này sanh trước ở đây rồi. C̣n chúng ta th́ sanh sau."
|
|
TTPV tập 10, trang 32 |
|
|
46. Tatra bhikkhave yo so satto
paṭhamaṃ upapanno, so dīghāyukataro ca hoti vaṇṇavantataro ca
mahesakkhataro ca. Ye pana te sattā pacchā upapannā, te
appāyukatarā ca honti dubbaṇṇatarā ca appesakkhatarā ca. Ṭhānaṃ
kho panetaṃ bhikkhave vijjati yaṃ aññataro satto tamhā kāyā
cavitvā itthattaṃ āgacchati.
|
6. Này các Tỷ-kheo, vị hữu t́nh
sanh ra đầu tiên ấy sống được lâu hơn, sắc tướng tốt đẹp hơn và
được nhiều uy quyền hơn. C̣n các loài hữu t́nh sanh sau th́ sống
ngắn hơn, sắc tướng ít tốt đẹp hơn và được ít quyền hơn. Này các
Tỷ-kheo, sự t́nh này xảy ra. Một trong các loài hữu t́nh ấy, sau
khi từ bỏ thân kia lại thác sanh đến cơi này.
|
|
Itthattaṃ āgato samāno agārasmā
anagāriyaṃ pabbajati. Agārasmā anagāriyaṃ pabbajito samāno
ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya
sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṃ cetosamādhiṃ phusati
yathāsamāhite citte taṃ pubbenivāsaṃ anussarati, tato paraṃ
nānussarati. So evamāha: |
Khi đến cơi này, vị ấy xuất gia
từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh. Sau khi xuất gia từ bỏ gia
đ́nh, sống không gia đ́nh, vị ấy, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn,
nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm
nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ tới đời sống quá khứ ấy,
chớ không nhớ xa hơn đời sống ấy. Vị ấy nói rằng:
|
|
‘Yo kho so bhavaṃ brahmā
mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro
kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhavyānaṃ, yena mayaṃ
bhotā brahmuṇā nimmitā, so nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo
sassatisamaṃ tatheva ṭhassati. Ye pana mayaṃ ahumhā tena bhotā
brahmuṇā nimmitā, te mayaṃ aniccā addhuvā appāyukā cavanadhammā
itthattaṃ āgatā ’ti. |
"Vị kia là Phạm thiên, Đại Phạm
thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhăn, Thượng tôn, Thượng
đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Đại tôn, Chúa tể mọi định mạng,
đấng Tự Tại, Tổ phụ các chúng sanh đă và sẽ sanh. Chúng ta do vị
Phạm thiên ấy hóa sanh. Vị ấy là thường hằng, kiên cố, thường
trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy măi măi. C̣n chúng
ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh đến tại chỗ này. Chúng ta là vô
thường, không kiên cố, yểu thọ và chịu sự biến dịch"
|
|
Idaṃ bhikkhave paṭhamaṃ ṭhānaṃ
yaṃ āgamma yaṃ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā ekaccasassatikā
ekacca-asassatikā ekaccaṃ sassataṃ ekaccaṃ asassataṃ attānañca
lokañca paññāpenti. |
Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp
thứ nhất, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn,
Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô
thường luận, chấp bản ngă và thế giới là thường c̣n đối với một
hạng hữu t́nh và vô thường đối với một hạng hữu t́nh khác.
|
|
47. Dutiye ca bhonto
samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha ekaccasassatikā
ekacca-asassatikā ekaccaṃ sassataṃ ekaccaṃ asassataṃ attānañca
lokañca paññāpenti? |
7. Trường hợp thứ hai, lại có
những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ ǵ, căn cứ ǵ, chủ trương một
phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngă và
thế giới là thường c̣n đối với một hạng hữu t́nh và vô thường
đối với một hạng hữu t́nh khác?
|
|
TTPV tập 10, trang 34 |
|
|
Santi bhikkhave khiḍḍāpadosikā
nāma devā. Te ativelaṃ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannā vibharanti.
Tesaṃ ativelaṃ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannānaṃ viharataṃ sati
mussati. Satiyā sammosā te devā tamhā kāyā cavanti. |
Này các Tỷ-kheo, có những hạng
chư Thiên gọi là Khiddàpadosikà (bị nhiễm hoặc bởi dục lạc).
Những vị này sống lâu ngày, mê say trong hư tiếu dục lạc. V́
sống lâu ngày, mê say trong hư tiếu dục lạc, nên bị thất niệm.
Do thất niệm, các chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân thể chúng.
|
|
Ṭhānaṃ kho panetaṃ bhikkhave
vijjati yaṃ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṃ
āgacchati. Itthattaṃ āgato samāno agārasmā anagāriyaṃ pabbajati.
Agārasmā anagāriyaṃ pabbajito samāno ātappamanvāya
padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya
sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṃ cetosamādhiṃ phusati
yathāsamāhite citte taṃ pubbenivāsaṃ anussarati, tato paraṃ
nānussarati. |
8. Này các Tỷ-kheo, sự t́nh này
xảy ra. Một trong các loài hữu t́nh kia khi thác sanh từ bỏ thân
thể ấy, lại sanh đến chỗ này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất
gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh. Sau khi xuất gia, từ
bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh
tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên
tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống quá khứ
ấy, chớ không nhớ xa hơn đời sống ấy.
|
|
So evamāha: ye kho te bhonto devā
na khiḍḍāpadosikā, te na ativelaṃ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannā
viharanti. Tesaṃ na ativelaṃ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannānaṃ
viharataṃ sati na mussati. Satiyā asammosā te devā tamhā kāyā na
cavanti, niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā sassatisamaṃ
tatheva ṭhassati. Ye pana mayaṃ ahumha[1] khiḍḍāpadosikā, te
mayaṃ ativelaṃ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannā viharimha.[2]
Tesaṃ no ativelaṃ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannānaṃ viharataṃ
sati mussi. Satiyā sammosā evaṃ mayaṃ tamhā kāyā cutā aniccā
addhuvā appāyukā cavanadhammā itthattaṃ āgatā ’ti.
---------------------
[1] ahumhā - Ma.
[2] viharimhā - Ma.
|
9. Vị ấy nói rằng: "Những chư
Thiên không bị nhiễm hoặc bởi dục lạc, chúng sống lâu ngày không
mê say trong hư tiếu dục lạc. V́ sống lâu ngày không mê say
trong hư tiếu dục lạc, nên không bị thất niệm. Nhờ không thất
niệm, nên những chư Thiên ấy không thác sanh từ bỏ thân thể của
chúng, sống thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển
biến, thường trú như vậy măi măi. C̣n chúng ta đă bị nhiễm hoặc
bởi dục lạc, sống lâu ngày mê say trong hư tiếu dục lạc. V́
chúng ta sống lâu ngày mê say trong hư tiếu dục lạc, nên bị thất
niệm. Do thất niệm, chúng ta từ bỏ thân thể này, sống vô thường,
không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại
chỗ này". |
|
Idaṃ bhikkhave dutiyaṃ ṭhānaṃ yaṃ
āgamma yaṃ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā ekaccasassatikā
ekacca-asassatikā ekaccaṃ sassataṃ ekaccaṃ asassataṃ attānañca
lokañca paññāpenti. |
Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp
thứ hai, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn,
chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận,
chấp bản ngă và thế giới là thường c̣n đối với một hạng hữu t́nh,
và vô thường đối với một hạng hữu t́nh khác.
|
|
48. Tatiye ca bhonto
samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha ekaccasassatikā
ekacca-asassatikā ekaccaṃ sassataṃ ekaccaṃ asassataṃ attānañca
lokañca paññāpenti? |
10. Trường hợp thứ ba, lại có
những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ ǵ, căn cứ ǵ, chủ trương một
phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngă và
thế giới là thường c̣n với một hạng hữu t́nh, và vô thường đối
với một hạng hữu t́nh khác?
|
|
Santi bhikkhave manopadāsikā nāma
devā. Te ativelaṃ aññamaññaṃ upanijjhāyanti. Te ativelaṃ
aññamaññaṃ upanijjhāyantā aññamaññamhi cittāni padūsenti. Te
aññamaññamhi paduṭṭhacittā kilantakāyā kilantacittā. Te devā
tamhā kāyā cavanti. |
Này các Tỷ-kheo, có những hạng
chư Thiên gọi là Manopadosikà (bị nhiễm hoặc bởi tâm trí). Chúng
sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau. V́ sống lâu ngày
nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của chúng oán ghét lẫn
nhau. V́ tâm trí oán ghét lẫn nhau, nên thân chúng mệt mỏi, tâm
chúng mệt mỏi. Các hạng chư Thiên ấy thác sanh từ bỏ thân thể
này của chúng.
|
|
TTPV tập 10, trang 36 |
|
|
Ṭhānaṃ kho panetaṃ bhikkhave
vijjati yaṃ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṃ
āgacchati. Itthattaṃ āgato samāno agārasmā anagāriyaṃ pabbajati.
Agārasmā anagāriyaṃ pabbajito samāno ātappamanvāya
padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya
sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṃ cetosamādhiṃ phusati
yathāsamāhite citte taṃ pubbenivāsaṃ anussarati tato paraṃ
nānussarati. |
11. Này các Tỷ-kheo, sự t́nh này
xảy ra. Một trong các vị hữu t́nh kia, khi thác sanh từ bỏ thân
thể ấy, lại sanh đến cơi này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất
gia từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh. Sau khi xuất gia từ bỏ
gia đ́nh, sống không gia đ́nh, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn,
nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm
nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống quá khứ ấy,
nhưng không nhớ xa hơn đời sống ấy.
|
|
So evamāha: ye kho te bhonto devā
na manopadosikā, te na ativelaṃ aññamaññaṃ upanijjhāyanti. Te na
ativelaṃ aññamaññaṃ upanijjhāyantā aññamaññamhi appaduṭṭhacittā
akilantakāyā akilantacittā. Te devā tamhā kāyā na cavanti niccā
dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā sassatisamaṃ tatheva ṭhassanti.
Ye pana mayaṃ ahumha manopadosikā, te mayaṃ ativelaṃ aññamaññaṃ
upanijjhāyimha. Te mayaṃ ativelaṃ aññamaññaṃ upanijjhāyantā
aññamaññamhi[1] cittāni padūsimha. Te mayaṃ aññamaññamhi
paduṭṭhacittā kilantakāyā kilantacittā. Evaṃ tamhā[2] kāyā cutā
aniccā addhuvā appāyukā cavanadhammā itthattaṃ āgatā ’ti.
-------------------------------
[1] aññamaññaṃ - Sīmu. [2] evaṃ mayaṃ
tamhā - Ma. |
12. Vị ấy nói rằng: "Những vị chư
Thiên không bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, chúng sống lâu ngày không
nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau. V́ sống lâu ngày không nung nấu
bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của chúng không oán ghét nhau. V́
tâm trí chúng không oán ghét nhau, nên thân chúng không mệt mỏi,
tâm chúng không mệt mỏi. Những hàng chư Thiên ấy không thác sanh
từ bỏ thân thể của chúng, sống thường hằng kiên cố, thường trú,
không bị chuyển biến, thường trú như vậy măi măi". C̣n chúng ta
bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ
lẫn nhau, nên tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau. V́ tâm trí
chúng ta oán ghét lẫn nhau, nên thân mệt mỏi và tâm mệt mỏi.
Chúng ta thác sanh, từ bỏ thân này, sống vô thường không kiên cố,
yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này".
|
|
Idaṃ bhikkhave tatiyaṃ ṭhānaṃ yaṃ
āgamma yaṃ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā ekaccasassatikā
ekacca-asassatikā ekaccaṃ sassataṃ ekaccaṃ asassataṃ attānañca
lokañca paññāpenti. |
Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp
thứ ba, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn
chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận,
chấp bản ngă và thế giới là thường c̣n đối với một hạng hữu t́nh
và vô thường đối với một hạng hữu t́nh khác.
|
|
49. Catutthe ca bhonto
samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha ekaccasassatikā ekacca
asassatikā ekaccaṃ sassataṃ ekaccaṃ asassataṃ attatāṇañca
lokañca paññāpenti? |
13. Trường hợp thứ tư, lại có
những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ ǵ, căn cứ ǵ chủ trương một phần
Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngă và thế
giới là thường c̣n đối với một hạng hữu t́nh và vô thường đối
với một hạng hữu t́nh khác.
|
|
Idha bhikkhave ekacco samaṇo vā
brāhmaṇo vā takkī hoti vīmaṃsī. So takkapariyāhataṃ
vīmaṃsānucaritaṃ sayampaṭibhānaṃ evamāhaṃ: yaṃ kho idaṃ vuccati
cakkhunti ’pi sotanti ’pi ghāṇaṃ ’ti ’pi kāyo ’ti ’pi, ayaṃ attā
anicco addhuvo asassato vipariṇāmadhammo. Yaṃ ca kho idaṃ
vuccati cittanti vā mano ’ti vā viññāṇanti vā ayaṃ attā nicco
dhuvo sassato avipariṇāmadhammo sassatisamaṃ tatheva ṭhassatī ti.
|
Này các Tỷ-kheo, có Sa-môn, hay
Bà-la-môn là nhà suy luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ biện
bác của suy luận và sự tùy thuộc theo thẩm sát, vị này tuyên bố
như thế này: "Cái gọi là mắt, là tai, là mũi, là lưỡi, là thân,
cái bản ngă ấy vô thường, không kiên cố, không thường trú, bị
chuyển biến. Cái gọi là tâm, là ư, là thức, cái bản ngă ấy là
thường c̣n, bất biến, thường trú, không bị chuyển biến, thường
hằng như vậy măi măi".
|
|
Idaṃ bhikkhave catutthaṃ ṭhānaṃ
yaṃ āgamma yaṃ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā ekaccasassatikā
ekacca-asassatikā ekaccaṃ sassataṃ ekaccaṃ asassataṃ attānañca
lokañca paññāpenti. |
Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp
thứ tư, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn,
chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận,
chấp bản ngă và thế giới là thường c̣n đối với một hạng hữu t́nh,
và vô thường đối với một hạng hữu t́nh khác.
|
|
TTPV tập 10, trang 38 |
|
|
Ime hi kho te bhikkhave
samaṇabrāhmaṇā ekaccasassatikā ekacca-asassatikā ekaccaṃ
sassataṃ ekaccaṃ asassataṃ attānañca lokañca paññāpenti catūhi
vatthūhi.
Ye hi keci bhikkhave samaṇā vā brāhmaṇā vā ekaccasassatikā
ekacca-asassatikā ekaccaṃ sassataṃ ekaccaṃ asassataṃ attānañca
lokañca paññāpenti, sabbe te imeheva catūhi vatthūhi, etesaṃ vā
aññatarena. Natthi ito bahiddhā. |
14. Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn,
Bà-la-môn này chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô
thường luận, chấp bản ngă và thế giới là thường c̣n với bốn luận
chấp. Nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn chủ trương Thường trú
luận, chấp bản ngă và thế giới là thường c̣n, chúng sẽ chấp cả
bốn luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra
không có luận chấp nào khác nữa.
|
|
50. Tayidaṃ bhikkhave tathāgato
pajānāti: “Ime diṭṭhiṭṭhānā evaṃ gahitā evaṃ parāmaṭṭhā
evaṃgatikā bhavissanti evaṃ abhisamparāyā ”ti. Taṃ ca tathāgato
pajānāti. Tato ca uttaritaraṃ pajānāti. Taṃ ca pajānanaṃ na
parāmasati. Aparāmasato cassa paccattaṃyeva nibbuti viditā.
Vedanānaṃ samudayañca atthagamañca assādañca ādīnavañca
nissaraṇañca yathābhūtaṃ viditvā anupādā vimutto bhikkhave
tathāgato. |
15. Này các Tỷ-kheo, Như Lai biết
rằng: "Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy,
sẽ đưa đến những cơi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng
như vậy". Như Lai tuệ tri như vậy, Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa,
và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp sở tri ấy, nội tâm
được tịch tịnh. Ngài như thật biết sự tập khởi, sự diệt trừ của
các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ
biết vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn,
không có chấp thủ.
|
|
51. Ime kho te bhikkhave dhammā
gambhīrā duddasā duranubodhā santā paṇītā atakkāvacarā nipuṇā
paṇḍitavedanīyā, ye tathāgato sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedeti,
yehi tathāgatassa yathābhuccaṃ vaṇṇaṃ sammā vadamānā vadeyyuṃ.
|
Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo,
là những pháp sâu kín khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu,
vượt ngoài tầm của luận lư suông, tế nhị, chỉ những người có trí
mới có thể nhận biết. Những pháp ấy, những ai như thật chân
chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
|
|
52. Santi bhikkhave eke
samaṇabrāhmaṇā antānantikā antānantaṃ lokassa paññāpenti catūhi
vatthūhi. Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha
antānantikā antānantaṃ lokassa paññāpenti catūhi vatthūhi?
|
16. Này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn,
Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là Hữu
biên Vô biên với bốn luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này,
y chỉ ǵ, căn cứ ǵ, chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế
giới là hữu biên vô biên với bốn luận chấp?
|
|
Idha bhikkhave ekacco samaṇo vā
brāhmaṇo vā ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya
appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṃ cetosamādhiṃ
phusati yathāsamāhite citte antasaññī lokasmiṃ viharati. So
evamāha: “Antavā ayaṃ loko parivaṭumo. Taṃ kissa hetu? Ahaṃ hi
ātappamanvāya ―pe― tathārūpaṃ cetosamādhiṃ phusāmi yathāsamāhite
citte antasaññī lokasmiṃ viharāmi. Iminā mahaṃ etaṃ jānāmi:
yathā antavā ayaṃ loko parivaṭumo ”ti.
|
17. Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn
hay Bà-la-môn, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ
không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm
nhập định, vị ấy sống ở trong đời với tư tưởng thế giới là hữu
biên. Vị ấy nói rằng: "Thế giới này là hữu biên, có một đường
ṿng chung quanh. V́ sao vậy? V́ tôi, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn,
nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm
nhập định. Khi tâm nhập định, tôi sống với tư tưởng thế giới là
hữu biên. Do đó tôi biết rằng thế giới này là hữu biên, có một
đường ṿng chung quanh".
|
|
Idaṃ bhikkhave paṭhamaṃ ṭhānaṃ
yaṃ āgamma yaṃ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā antānantikā antānantaṃ
lokassa paññāpenti. |
Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp
thứ nhất, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn,
Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu
biên và vô biên.
|
|
TTPV tập 10, trang 40 |
|
|
53. Dutiye ca bhonto
samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha antānantikā antānantaṃ
lokassa paññāpenti? |
18. Trường hợp thứ hai, có những
Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ ǵ, căn cứ ǵ, chủ trương Hữu biên Vô
biên luận, chấp thế giới là hữu biên và vô biên?
|
|
Idhe bhikkhave ekacco samaṇo vā
brāhmaṇo vā ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya
appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṃ cetosamādhiṃ
phusati, yathāsamāhite citte anantasaññī lokasmiṃ viharati. So
evamāha: “Ananto ayaṃ loko apariyanto. Ye te samaṇabrāhmaṇā
evamāhaṃsu: antavā ayaṃ loko parivaṭumo ’ti, tesaṃ musā. Ananto
ayaṃ loko apariyanto. Taṃ kissa hetu? Ahaṃ hi ātappamanvāya ―pe―
anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṃ
cetosamādhiṃ phusāmi yathāsamāhite citte anantasaññī lokasmiṃ
viharāmi. Imināmahaṃ etaṃ jānāmi yathā ananto ayaṃ loko
apariyanto ’ti.” |
Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn,
Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không
phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập
định, vị ấy sống ở trong đời với tư tưởng thế giới là vô biên.
Vị ấy nói: "Thế giới này là vô biên, không có giới hạn". Những
vị Sa-môn, Bà-la-môn nào đă nói: "Thế giới này là hữu biên, có
một đường ṿng xung quanh", những vị ấy nói không đúng sự thật.
Thế giới này là vô biên, không có giới hạn. Tại sao vậy? V́ tôi
nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật,
nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, tôi
sống với tư tưởng thế giới là vô biên. Do đó tôi biết: "Thế giới
này là vô biên, không có giới hạn".
|
|
Idaṃ bhikkhave dutiyaṃ ṭhānaṃ yaṃ
āgamma yaṃ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā antānantikā antānantaṃ
lokassa paññāpenti. |
Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp
thứ hai, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, có một số Sa-môn,
Bà-la-môn chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu
biên vô biên.
|
|
54. Tatiye ca bhonto
samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha antānantikā antānantaṃ
lokassa paññāpenti? |
19. Trường hợp thứ ba, lại có
những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ ǵ, căn cứ ǵ, chủ trương Hữu
biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên?
|
|
Idha bhikkhave ekacco samaṇo vā
brāhmaṇo vā ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya
appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṃ cetosamādhiṃ
phusati, yathāsamāhite citte uddhamadho antasaññī lokasmiṃ
viharati tiriyaṃ anantasaññī. So evamāha: “Antavā ca ayaṃ loko
ananto ca. Ye te samaṇabrāhmaṇā evamāhaṃsu: ‘antavā ayaṃ loko
parivaṭumo ’ti, tesaṃ musā. Ye ’pi te samaṇabrāhmaṇā evamāhaṃsu:
‘ananto ayaṃ loko apariyanto ’ti, tesampi musā. Antavā ca ayaṃ
loko ananto ca. Taṃ kissa hetu? Ahaṃ hi ātappamanvāya ―pe―
tathārūpaṃ cetosamādhiṃ phusāmi yathāsamāhite citte uddhamadho
antasaññī lokasmiṃ viharāmi tiriyaṃ anantasaññī. Imināmahaṃ etaṃ
jānāmi: yathā antavā ca ayaṃ loko ananto” cāti.
|
Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn
hay Bà-la-môn, nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ
không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm
nhập định, vị ấy sống ở trong đời với tư tưởng thế giới là hữu
biên về phía trên, phía dưới và thế giới là Vô biên về phía bề
ngang. Vị ấy nói: "Thế giới này là hữu biên và vô biên". Những
Sa-môn, Bà-la-môn nào đă nói: "Thế giới này là hữu biên, có một
đường ṿng xung quanh, th́ những vị ấy nói không đúng sự thật".
Những Sa-môn, Bà-la-môn nào đă nói: "Thế giới này là vô biên
không có giới hạn th́ những vị ấy nói không đúng sự thật. Thế
giới này vừa là hữu biên, vừa là vô biên. Tại sao vậy? V́ rằng,
tôi nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật,
nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, tôi
sống ở trong đời với tư tưởng, thế giới là hữu biên về phía trên,
phía dưới, và thế giới là vô biên về phía bề ngang. Do vậy tôi
biết: "Thế giới này vừa là hữu biên vừa là vô biên".
|
|
Idaṃ bhikkhave tatiyaṃ ṭhānaṃ yaṃ
āgamma yaṃ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā antānantikā antānantaṃ
lokassa paññāpenti. |
Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp
thứ ba, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn
chủ trương Hữu biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô
biên.
|
|
55. Catutthe ca bhonto
samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha antānantikā antānantaṃ
lokassa paññāpenti? |
20. Trường hợp thứ tư, lại có
những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ ǵ, căn cứ ǵ, chủ trương Hữu
biên Vô biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên?
(c̣n tiếp)
|
|
<Trang Trước> |
<Trang
Kế> |
|