|
01.
BRĀMAJĀLASUTTAṂ
(tiếp theo)
|
|
01. BRAHMAJĀLASUTTAṂ
- Buddha
Jayanti Tripitaka Series - Volume VII |
1. KINH PHẠM VƠNG - HT. Thích
Minh Châu, Nguồn: Budsas 7.07 |
|
TTPV tập 10, trang 42 |
|
|
Idha bhikkhave ekacco samaṇo vā
brāhmaṇo vā takkī hoti vīmaṃsī. So takkapariyāhataṃ
vīmaṃsānucaritaṃ sayampaṭibhānaṃ evamāha: “Nevāyaṃ loko antavā
na panānanto. Ye te samaṇabrāhmaṇā evamāhaṃsu: ‘antavā ayaṃ loko
parivaṭumo ’ti, tesaṃ musā. Ye ’pi te samaṇabrāhmaṇā evamāhaṃsu:
‘ananto ayaṃ loko apariyanto ’ti, tesampi musā. Ye ’pi te
samaṇabrāhmaṇā evamāhaṃsu: ‘antavā ca ayaṃ loko ananto cā ’ti
tesampi musā. Nevāyaṃ loko antavā na panānanto ”ti.
|
Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn
hay Bà-la-môn là nhà suy luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ
biện bác của suy luận và sự tùy thuận theo thẩm sát, vị này
tuyên bố như sau: "Thế giới này không phải là hữu biên, cũng
không phải là vô biên. Những Sa-môn, Bà-la-môn nào đă nói: "Thế
giới này là hữu biên có giới hạn xung quanh", những vị ấy nói
không đúng sự thật. Lại những Sa-môn, Bà-la-môn nào đă nói: "Thế
giới này là vô biên không có giới hạn" những vị ấy cũng nói
không đúng sự thật. Lại những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào đă nói: "Thế
giới này vừa là hữu biên vừa là vô biên", những vị ấy cũng nói
không đúng sự thật. Thế giới này cũng không phải là hữu biên,
cũng không phải là vô biên.
|
|
Idaṃ bhikkhave catutthaṃ ṭhānaṃ
yaṃ āgamma yaṃ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā antānantikā antānantaṃ
lokassa paññāpenti.
|
|
|
56. Imehi kho te bhikkhave
samaṇabrāhmaṇā antānantikā antānantaṃ lokassa paññāpenti catūhi
vatthūhi. Ye hi keci bhikkhave samaṇā vā brāhmaṇā vā antānantikā
antānantaṃ lokassa paññāpenti, sabbe te imeheva catūhi vatthūhi,
etesaṃ vā aññatarena. Natthi ito bahiddhā. |
21. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn,
Bà-la-môn này chủ trương Hữu biên Vô biên luận với bốn luận chấp.
Nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương Hữu biên Vô
biên luận, chấp thế giới là hữu biên vô biên, chúng sẽ chấp cả
bốn luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra
không có luận chấp nào khác nữa.
|
|
57. Tayidaṃ bhikkhave tathāgato
pajānāti: “Ime diṭṭhiṭṭhānā evaṃ gahitā evaṃ parāmaṭṭhā
evaṃgatikā bhavissanti evaṃ abhisamparāyā ”ti. Tañca tathāgato
pajānāti, tato ca uttaritaraṃ pajānāti. Tañca pajānanaṃ na
parāmasati. Aparāmasato cassa paccattaññeva nibbuti viditā.
Vedanānaṃ samudayañca atthagamañca assādañca ādīnavañca
nissaraṇañca yathābhūtaṃ viditvā anupādā vimutto bhikkhave
tathāgato. |
22. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ
tri như thế này: "Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ
như vậy, sẽ đưa đến những cơi thú như vậy, sẽ tác thành những
định mạng như vậy". Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài lại tuệ tri
hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước
sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập
khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự
xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai
được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.
|
|
58. Ime kho te bhikkhave dhammā
gambhīrā duddasā duranubodhā santā paṇītā atakkāvacarā nipuṇā
paṇḍitavedanīyā ye tathāgato sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedeti,
ye hi tathāgatassa yathābhuccaṃ vaṇṇaṃ sammā vadamānā vadeyyuṃ. |
Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo,
là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu,
vượt ngoài tầm của luận lư suông, tế nhị, chỉ những người trí
mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như Lai tự chứng tri, giác
ngộ và truyền thuyết; và chính những pháp ấy những ai như thật
chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
|
|
TTPV tập 10, trang 44 |
|
|
59. Santi bhikkhave eke
samaṇabrāhmaṇā amarāvikkhepikā tattha tattha pañhaṃ puṭṭhā
samānā vācāvikkhepaṃ āpajjanti amarāvikkhepaṃ catūhi vatthūhi.
Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha amarāvikkhepikā
tattha tattha pañhaṃ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṃ āpajjanti
amarāvikkhepaṃ catūhi vatthūhi? |
23. Này các Tỷ-kheo, có một số
Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận. Khi bị hỏi vấn đề
này hay vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con
lươn với bốn luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, y chỉ ǵ,
căn cứ ǵ, chủ trương ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay
vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với
bốn luận chấp?
|
|
60. Idha bhikkhave ekacco samaṇo
vā brāhmaṇo vā idaṃ kusalanti yathābhūtaṃ nappajānāti. Idaṃ
akusalanti yathābhūtaṃ nappajānāti. Tassa evaṃ hoti: “Ahaṃ kho
idaṃ kusalanti yathābhūtaṃ nappajānāmi. Idaṃ akusalanti
yathābhūtaṃ nappajānāmi. Ahañceva kho pana idaṃ kusalanti
yathābhūtaṃ nappajānanto, idaṃ akusalanti yathābhūtaṃ
nappajānanto, idaṃ kusalanti vā vyākareyyaṃ, idaṃ akusalanti vā
vyākareyyaṃ, tattha me assa chando vā rāgo vā doso vā paṭigho vā.
Yattha me assa chando vā rāgo vā doso vā paṭigho vā, taṃ mamassa
musā. Yaṃ mamassa musā, so mamassa vighāto. Yo mamassa vighāto,
so mamassa antarāyo ”ti.
|
24. Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn
hay Bà-la-môn không như thật biết "Đây là thiện", không như thật
biết "Đây là bất thiện". Vị ấy nghĩ: Tôi không như thật biết: "Đây
là thiện", không như thật biết: "Đây là bất thiện" và nếu tôi
trả lời: "Đây là thiện" hoặc tôi trả lời: "Đây là bất thiện",
thời dục, tham, sân hoặc hận, khởi lên nơi tôi . Nếu dục, tham,
sân hoặc hận, khởi lên nơi tôi, như vậy tôi có thể bị sai lầm.
Nếu tôi sai lầm th́ tôi bị phiền muộn. Nếu tôi bị phiền muộn sẽ
thành một chướng ngại cho tôi - |
|
Iti so musāvādabhayā
musāvādaparijegucchā nevidaṃ kusalanti vyākaroti. Na panidaṃ
akusalanti vyākaroti. Tattha tattha pañhaṃ puṭṭho samāno
vācāvikkhepaṃ āpajjati amarāvikkhepaṃ: “Evampi me no. Tathā ’ti
’pi me no. Aññathā ’ti ’pi me no. No ’ti ’pi me no. No no ’ti
’pi me no ”ti. |
Như vậy, v́ sợ sai lầm, v́ chán
ghét sai lầm, nên vị ấy không trả lời: "Đây là thiện", cũng
không trả lời: "Đây là bất thiện". Khi hỏi đến vấn đề này hay
vấn đề khác, vị ấy dùng lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: "Tôi
không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là
khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói
là không không phải như thế".
|
|
Idaṃ bhikkhave paṭhamaṃ ṭhānaṃ
yaṃ āgamma yaṃ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā amarāvikkhepikā tattha
tattha pañhaṃ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṃ āpajjanti
amarāvikkhepaṃ. |
Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp
thứ nhất, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn,
Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay
vấn đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn.
|
|
61. Dutiye ca bhonto
samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha amarāvikkhepikā tattha
tattha pañhaṃ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṃ āpajjanti
amarāvikkhepaṃ?
|
25. Trường hợp thứ hai, lại có
những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ ǵ, căn cứ ǵ chủ trương Ngụy
biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời
ngụy biện trườn uốn như con lươn?
|
|
Idha bhikkhave ekacco samaṇo vā
brāhmaṇo vā idaṃ kusalanti yathābhūtaṃ nappajānāti. Idaṃ
akusalanti yathābhūtaṃ nappajānāti. Tassa evaṃ hoti: “Ahaṃ kho
idaṃ kusalanti yathābhūtaṃ nappajānāmi. Idaṃ akusalanti
yathābhūtaṃ nappajānāmi. Ahañceva kho pana idaṃ kusalanti
yathābhūtaṃ nappajānanto, idaṃ akusalanti yathābhūtaṃ
nappajānanto, idaṃ kusalanti vā vyākareyyaṃ, idaṃ akusalanti vā
vyākareyyaṃ, tattha me assa chando vā rāgo vā doso vā paṭigho vā.
Yattha me assa chando vā rāgo vā doso vā paṭigho vā. Taṃ mamassa
upādānaṃ. Yaṃ mamassa upādānaṃ, so mamassa vighāto. Yo mamassa
vighāto, so mamassa antarāyo ”ti.
|
Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn
hay Bà-la-môn, không như thật biết "Đây là thiện", không như
thật biết "Đây là bất thiện". Vị ấy nghĩ: Tôi không như thật
biết: "Đây là thiện", không như thật biết: "Đây là bất thiện".
V́ tôi không như thật biết: "Đây là thiện", không như thật biết
"Đây là bất thiện". Và nếu tôi trả lời: "Đây là thiện" hoặc tôi
trả lời: "Đây là bất thiện", thời dục, tham, sân hoặc hận, khởi
lên nơi tôi. Nếu dục, tham, sân hoặc hận khởi lên nơi tôi, như
vậy tôi có thể chấp thủ. Nếu tôi chấp thủ, th́ tôi bị phiền muộn.
Nếu tôi bị phiền muộn, thời thành một chướng ngại cho tôi. |
|
TTPV tập 10, trang 46 |
|
|
Iti so upādānabhayā
upādānaparijegucchā nevidaṃ kusalanti vyākaroti. Na panidaṃ
akusalanti vyākaroti. Tattha tattha pañhaṃ puṭṭho samāno
vācāvikkhepaṃ āpajjati amarāvikkhepaṃ: “Evampi me no. Tathā ’ti
’pi me no. Aññathā ’ti ’pi me no. No ’ti ’pi me no. No no ’ti
’pi me no ”ti. |
Như vậy, v́ sợ chấp thủ, v́ chán
ghét chấp thủ, nên vị ấy không trả lời: "Đây là thiện", cũng
không trả lời: "Đây là bất thiện". Khi bị hỏi đến vấn đề này hay
vấn đề khác, vị ấy dùng lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: "Tôi
không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là
khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói
là không không phải như thế".
|
|
Idaṃ bhikkhave dutiyaṃ ṭhānaṃ yaṃ
āgamma yaṃ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā amarāvikkhepikā tattha
tattha pañhaṃ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṃ āpajjanti
amarāvikkhepaṃ. |
Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp
thứ hai, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn
chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi đến vấn đề này hay vấn đề
khác, dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn.
|
|
62. Tatiye ca bhonto
samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha amarāvikkhepikā tattha
tattha pañhaṃ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṃ āpajjanti
amarāvikkhepaṃ? |
26. Trường hợp thứ ba, lại có
những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ ǵ, căn cứ ǵ chủ trương ngụy
biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những lời
ngụy biện trườn uốn như con lươn?
|
|
Idha bhikkhave ekacco samaṇo vā
brāhmaṇo vā idaṃ kusalanti yathābhūtaṃ nappajānāti. Idaṃ
akusalanti yathābhūtaṃ nappajānāti. Tassa evaṃ hoti: “Ahaṃ kho
idaṃ kusalanti yathābhūtaṃ nappajānāmi. Idaṃ akusalanti
yathābhūtaṃ nappajānāmi. Ahañceva kho pana idaṃ kusalanti
yathābhūtaṃ nappajānanto, idaṃ akusalanti yathābhūtaṃ
nappajānanto, idaṃ kusalanti vā vyākareyyaṃ, idaṃ akusalanti vā
vyākareyyaṃ, santi hi kho pana samaṇabrāhmaṇā paṇḍitā nipuṇā
kataparappavādā vālavedhirūpā vobhindantā maññe caranti
paññāgatena diṭṭhigatāni, te maṃ tattha samanuyuñjeyyuṃ
samanugāheyyuṃ samanubhāseyyuṃ. Ye maṃ tattha samanuyuñjeyyuṃ
samanugāheyyuṃ samanubhāseyyuṃ, tesāhaṃ na sampāyeyyaṃ. Yesāhaṃ
na sampāyeyyaṃ, so mamassa vighāto. Yo mamassa vighāto, so
mamassa antarāyo ”ti.
|
Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn
hay Bà-la-môn không như thật biết "Đây là thiện", không như thật
biết "Đây là bất thiện". Vị ấy nghĩ: Tôi không như thật biết: "Đây
là thiện", không như thật biết: "Đây là bất thiện". V́ tôi không
như thật biết "Đây là thiện", không như thật biết: "Đây là bất
thiện" và nếu tôi trả lời: "Đây là thiện" hoặc trả lời: "Đây là
bất thiện", có những Sa-môn, Bà-la-môn, bác học, tế nhị, nghị
luận biện tài, biện bác như chia chẻ sợi tóc, những vị này đi
chỗ này chỗ kia, như muốn đả phá các tà kiến với trí tuệ của
chúng, chúng có thể đọ tài, chất vấn và cật nạn tôi. Nếu chúng
đọ tài, chất vấn, cật nạn tôi, tôi có thể không giải đáp được
cho chúng. Nếu tôi không giải đáp được cho chúng, th́ tôi bị
phiền muộn. Nếu tôi bị phiền muộn thời thành một chướng ngại cho
tôi
|
|
Iti so anuyogabhayā
anuyogaparijegucchā nevidaṃ kusalanti vyākaroti. Na panidaṃ
akusalanti vyākaroti. Tattha tattha pañhaṃ puṭṭho samāno
vācāvikkhepaṃ āpajjati amarāvikkhepaṃ: “Evampi me no. Tathā ’ti
’pi me no. Aññathā ’ti ’pi me no. No ’ti ’pi me no. No no ’ti
’pi me no ”ti. |
- Như vậy, v́ sợ bị thử thách, v́
chán ghét thử thách, nên vị ấy không trả lời: "Đây là thiện",
cũng không trả lời. "Đây là bất thiện". Khi bị hỏi đến vấn đề
này hay vấn đề khác, vị ấy dùng lời ngụy biện trườn uốn như con
lươn: "Tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi
không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như thế.
Tôi không nói là không không phải như thế".
|
|
Idaṃ bhikkhave tatiyaṃ ṭhānaṃ yaṃ
āgamma yaṃ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā amarāvikkhepikā tattha
tattha pañhaṃ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṃ āpajjanti
amarāvikkhepaṃ. |
- Này các Tỷ-kheo, đó là trường
hợp thứ ba, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, chủ
trương ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác
dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn.
|
|
TTPV tập 10, trang 48 |
|
|
63. Catutthe ca bhonto
samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha amarāvikkhepikā tattha
tattha pañhaṃ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṃ āpajjanti
amarāvikkhepaṃ? |
27.
Trường hợp thứ tư, lại có những Sa-môn, Bà-la-môn, y chỉ ǵ, căn
cứ ǵ chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn
đề khác dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn?
|
|
Idha bhikkhave ekacco samaṇo vā
brāhmaṇo vā mando hoti momuho. So mandattā momuhattā tattha
tattha pañhaṃ puṭṭho samāno vācāvikkhepaṃ āpajjati
amarāvikkhepaṃ: “Atthi paro loko ’ti iti ce maṃ pucchasi, atthi
paro loko ’ti iti ce me assa, atthi paro loko ’ti iti te naṃ
vyākareyyaṃ. Evampi me no. Tathā ’ti ’pi me no. Aññathā ’ti ’pi
me no. No ’ti ’pi me no. No no ’ti ’pi me no. Natthi paro loko
’ti? ―pe― Atthi ca natthi ca paro loko? ―pe― Atthi sattā
opapātikā? ―pe― Atthi ca natthi ca sattā opapātikā? ―pe―
Nevatthi na natthi sattā opapātikā? ―pe― Atthi sukaṭadukkaṭānaṃ
kammānaṃ phalaṃ vipāko? ―pe― Natthi sukaṭadukkaṭānaṃ kammānaṃ
phalaṃ vipāko? ―pe― Atthi ca natthi ca sukaṭadukkaṭānaṃ kammānaṃ
phalaṃ vipāko? ―pe― Nevatthi na natthi sukaṭadukkaṭānaṃ kammānaṃ
phalaṃ vipāko? ―pe― Hoti tathāgato parammaraṇā? ―pe― Na hoti
tathāgato parammaraṇā? ―pe― Hoti ca na hoti ca tathāgato
parammaraṇā? ―pe― Neva hoti na na hoti tathāgato parammaraṇā ti?
iti ce maṃ pucchasi, neva hoti na na hoti tathāgato parammaraṇā
ti? iti ce me assa, neva hoti na na hoti tathāgato parammaraṇā
ti? iti te naṃ vyākareyyaṃ. Evampi me no. Tathā ’ti ’pi me no.
Aññathā ’ti ’pi me no. No ’ti ’pi me no. No no ‘ti ’pi me no
”ti.
|
Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn,
Bà-la-môn đần độn ngu si. Vị này, v́ đần độn ngu si, khi bị hỏi
vấn đề nay hay vấn đề khác, liền dùng những lời ngụy biện trườn
uốn như con lươn: "Anh hỏi tôi có một thế giới khác hay không?"
Nếu tôi nghĩ: "Có một thế giới khác", tôi có thể trả lời với anh:
"Có một thế giới khác". Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi
không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không
nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như
thế. Nếu anh hỏi tôi: "Không có một thế giới khác phải không?"
Nếu tôi nghĩ: "Không có một thế giới khác", tôi có thể trả lời
với anh: "Không có một thế giới khác". Nhưng tôi không nói là
như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế.
Tôi không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không
không phải như thế. Nếu anh hỏi tôi "Không có một thế giới khác
phải không?" (... như trên... ) "Cũng có và cũng không có một
thế giới khác?" "Cũng không có và cũng không không có một thế
giới khác?", "Có loại hữu t́nh hóa sanh?", "Không có loại hữu
t́nh hóa sanh?" "Cũng có và cũng không có loại hữu t́nh hóa sanh?"
"Cũng không có và cũng không không có loại hữu t́nh hóa sanh?",
"Có kết quả dị thục của các nghiệp thiện và ác?", "Không có kết
quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?", "Cũng có và cũng
không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?", "Cũng
không có và cũng không không có kết quả dị thục của những nghiệp
thiện và ác?", "Như Lai có tồn tại sau khi chết?", "Như Lai
không có tồn tại sau khi chết?", "Như Lai có và không có tồn tại
sau khi chết?", "Như Lai không có và cũng không không có tồn tại
sau khi chết?". Anh hỏi tôi như vậy. Nếu tôi nghĩ : "Như Lai
không có và cũng không không có tồn tại sau khi chết". Tôi có
thể trả lời : "Như Lai không có và cũng không không có tồn tại
sau khi chết". Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không nói là
như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không
phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế.
|
|
Idaṃ bhikkhave catutthaṃ ṭhānaṃ
yaṃ āgamma yaṃ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā amarāvikkhepikā tattha
tattha puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṃ āpajjanti amarāvikkhepaṃ.
|
Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp
thứ tư, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn
chủ trương Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác
dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn.
|
|
64. Imehi kho te bhikkhave
samaṇabrāhmaṇā amarāvikkhepikā tattha tattha pañhaṃ puṭṭhā
samānā vācāvikkhepaṃ āpajjanti amarāvikkhepaṃ catūhi vatthūhi.
Ye hi keci bhikkhave samaṇā vā brāhmaṇā vā amarāvikkhepikā
tattha tattha pañhaṃ puṭṭhā samānā vācāvikkhepaṃ āpajjanti,
amarāvikkhepaṃ, sabbe te imeheva catūhi vatthūhi, etesaṃ vā
aññatarena. Natthi ito bahiddhā. |
28. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn,
Bà-la-môn chủ trương Ngụy biện luận. Khi bị hỏi vấn đề này hay
vấn đề khác, dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn với
bốn luận chấp. Nếu có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương
Ngụy biện luận, khi bị hỏi vấn đề này hay vấn đề khác dùng những
lời ngụy biện trườn uốn như con lươn, chúng sẽ chấp cả bốn luận
chấp trên hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có
luận chấp nào khác nữa.
|
|
TTPV tập 10, trang 50 |
|
|
65. Tayidaṃ bhikkhave tathāgato
pajānāti: “Ime diṭṭhiṭṭhānā evaṃ gahitā evaṃ parāmaṭṭhā
evaṃgatikā bhavissanti evaṃabhisamparāyā ”ti. Tañca tathāgato
pajānāti. Tato ca uttaritaraṃ pajānāti. Tañca pajānanaṃ na
parāmasati. Aparāmasato cassa paccattaṃ yeva nibbuti viditā.
Vedanānaṃ samudayañca atthagamañca assādañca ādīnavañca
nissaraṇañca yathābhūtaṃ viditvā anupādā vimutto bhikkhave
tathāgato. |
29.
Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này : "Những sở kiến ấy,
chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến cơi thú như vậy,
sẽ tác thành những định mạng như vậy". Như Lai tuệ tri như vậy.
Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa. Và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ
không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như
thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt,
những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này
các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp
thủ.
|
|
Ime kho te bhikkhave dhammā
gambhīrā duddasā duranubodhā santā paṇītā atakkāvacarā nipuṇā
paṇḍitavedanīyā ye tathāgato sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedeti,
yehi tathāgatassa yathābhuccaṃ vaṇṇaṃ sammā vadamānā vadeyyuṃ.
|
Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy,
khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lư suông,
tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp
ấy Như Lai đă tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết. Và chính
những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới
nói đến.
|
|
66. Santi bhikkhave eke
samaṇabrāhmaṇā adhiccasamuppannikā adhiccasamuppannaṃ attānañca
lokañca paññāpenti dvīhi vatthūhi. Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā
kimāgamma kimārabbha adhiccasamuppannikā adhiccasamuppannaṃ
attānañca lokañca paññāpenti dvīhi vatthūhi? |
30.
Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô nhân
luận, chấp bản ngă và thế giới do vô nhân sanh với hai luận chấp.
Và những Sa-môn, Bà-la-môn ấy, y chỉ ǵ, căn cứ ǵ, chủ trương
Vô nhân luận, chấp bản ngă và thế giới do vô nhân sanh?
|
|
Santi bhikkhave asaññasattā nāma
devā. Saññuppādā ca pana te devā tamhā kāyā cavanti. Ṭhānaṃ kho
panetaṃ bhikkhave vijjati yaṃ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā
itthattaṃ āgacchati. Itthattaṃ āgato samāno agārasmā anagāriyaṃ
pabbajati. Agārasmā anagāriyaṃ pabbajito samāno ātappamanvāya
padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya
sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṃ cetosamādhiṃ phusati,
yathāsamāhite citte saññuppādaṃ anussarati tato paraṃ
nānussarati. So evamāha: “Adhiccasamuppanno attā ca loko ca. Taṃ
kissa hetu? Ahaṃ hi pubbe nāhosiṃ. So’mhi etarahi ahutvā
santattāya[1] pariṇato ”ti.
----------------------------
[1]
sattattāya - katthaci. |
31. Này các Tỷ-kheo, có những chư
Thiên gọi là Vô tưởng hữu t́nh. Khi một tưởng niệm khởi lên,
thời chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân chư Thiên của ḿnh. Này
các Tỷ-kheo, sự t́nh này xẩy ra. Một trong loài hữu t́nh ấy, khi
thác sanh từ bỏ thân chư Thiên ấy của ḿnh, lại sanh đến cơi này.
Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không
gia đ́nh. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh,
vị ấy nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng
dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Vị ấy nhớ đến khi
tưởng niệm phát sanh, chớ không nhớ xa hơn nữa. Vị ấy nói : "Bản
ngă và thế giới do vô nhân sanh. Tại sao vậy? V́ rằng tôi trước
kia không có, nay tôi có. Từ nơi trạng thái không có, tôi trở
thành loài hữu t́nh".
|
|
Idaṃ bhikkhave paṭhamaṃ ṭhānaṃ
yaṃ āgamma yaṃ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā adhiccasamuppannikā
adhiccasamuppannaṃ attānañca lokañca paññāpenti. |
Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp
thứ nhất, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn,
Bà-la-môn chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngă và thế giới do
vô nhân sanh.
|
|
TTPV tập 10, trang 52 |
|
|
67. Dutiye ca bhonto
samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha adhiccasamuppannikā
adhiccasamuppannaṃ attānañca lokañca paññāpenti? |
32. Trường hợp thứ hai, những Sa-môn,
Bà-la-môn, y chỉ ǵ, căn cứ ǵ, chủ trương Vô nhân luận, chấp
bản ngă và thế giới do vô nhân sanh?
|
|
Idha bhikkhave ekacco samaṇo vā
brāhmaṇo vā takkī hoti vīmaṃsī. So takkapariyāhataṃ
vīmaṃsānucaritaṃ sayampaṭibhānaṃ evamāha: “Adhiccasamuppanno
attā ca loko cā ”ti. |
Này các Tỷ-kheo, ở đây có Sa-môn
hay Bà-la-môn là nhà biện luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ
biện bác của suy luận và sự tùy thuận theo thẩm sát, vị ấy tuyên
bố : "Bản ngă và thế giới vô nhân sanh".
|
|
Idaṃ bhikkhave dutiyaṃ ṭhānaṃ yaṃ
āgamma yaṃ ārabbha eke samaṇabrāhmaṇā adhiccasamuppannikā
adhiccasamuppannaṃ attānañca lokañca paññāpenti. |
Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp
thứ hai, y chỉ như vậy, căn cứ như vậy, một số Sa-môn, Bà-la-môn
chủ trương Vô nhân luận, chấp bản ngă và thế giới do vô nhân
sanh.
|
|
68. Imehi kho te bhikkhave
samaṇabrāhmaṇā adhiccasamuppannikā adhiccasamuppannaṃ attānañca
lokañca paññāpenti dvīhi vatthūhi.
Ye hi keci bhikkhave samaṇā vā brāhmaṇā vā adhiccasamuppannikā
adhiccasamuppannaṃ attānañca lokañca paññāpenti, sabbe te
imeheva dvīhi vatthūhi, etesaṃ vā aññatarena. Natthi ito
bahiddhā. |
33.
Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương Vô nhân luận,
chấp bản ngă và thế giới do vô nhân sanh với hai luận chấp. Nếu
có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào chủ trương Vô nhân luận, chấp
bản ngă và thế giới do vô nhân sanh, chúng sẽ chấp cả hai luận
chấp trên hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có
luận chấp nào khác nữa.
|
|
69. Tayidaṃ bhikkhave tathāgato
pajānāti: ―pe― yehi tathāgatassa yathābhuccaṃ vaṇṇaṃ sammā
vadamānā vadeyyuṃ.
|
34. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ
tri như thế này : "Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp
thủ như vậy, sẽ đưa đến cơi thú như vậy, sẽ tác thành những định
mạng như vậy". Như Lai tuệ tri như vậy, Ngài lại tuệ tri hơn thế
nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri
ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi,
sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly
của chúng. Nhờ tuệ tri như vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được
giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ. Những pháp ấy, này các
Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh,
mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lư suông, tế nhị, chỉ những
người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy Như Lai đă tự
chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết. Và chính những pháp ấy
những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
|
|
70. Imehi kho te bhikkhave
samaṇabrāhmaṇā pubbantakappikā pubbantānudiṭṭhino pubbantaṃ
ārabbha anekavihitāni adhivuttipadāni abhivadanti aṭṭhārasahi
vatthūhi. Ye hi keci bhikkhave samaṇā vā brāhmaṇā vā
pubbantakappikā pubbantānudiṭṭhino pubbantaṃ ārabbha
anekavihitāni adhivuttipadāni abhivadanti, sabbe te imeheva
aṭṭhārasahi vatthūhi, etesaṃ vā aññatarena. Natthi ito bahiddhā. |
35. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn,
Bà-la-môn luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ tối
sơ, y cứ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều ư kiến sai khác với
mười tám luận chấp trên. Này các Tỷ-kheo, nếu có những Sa-môn
hoặc Bà-la-môn luận bàn về quá khứ tối sơ, chấp kiến về quá khứ
tối sơ, y cứ về quá khứ tối sơ, đề xướng nhiều ư kiến sai khác,
chúng sẽ chấp cả mười tám luận chấp trên hay một trong những
luận chấp trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.
|
|
71. Tayidaṃ bhikkhave tathāgato
pajānāti: “Ime diṭṭhiṭṭhānā evaṃ gahitā evaṃ parāmaṭṭhā
evaṃgatikā bhavissanti evaṃabhisamparāyā ”ti. Tañca tathāgato
pajānāti. Tato ca uttaritaraṃ pajānāti. Tañca pajānanaṃ na
parāmasati. Aparāmasato cassa paccattaññeva[1]
nibbuti viditā.
Vedanānaṃ samudayañca atthagamañca assādañca ādīnavañca
nissaraṇañca yathābhūtaṃ viditvā anupādā vimutto bhikkhave
tathāgato.
-------------------------
[1]
paccattaṃ yeva - katthaci. |
36. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ
tri như thế này : "Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp
thủ như vậy, sẽ đưa đến cơi thú như vậy, sẽ tác thành những định
mạng như vậy". Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài lại tuệ tri hơn thế
nữa. Và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri
ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi,
sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly
của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải
thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.
|
|
TTPV tập 10, trang 54 |
|
|
Ime kho te bhikkhave dhammā
gambhīrā duddasā duranubodhā santā paṇītā atakkāvacarā nipuṇā
paṇḍitavedanīyā ye tathāgato sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedeti,
yehi tathāgatassa yathābhuccaṃ vaṇṇaṃ sammā vadamānā vadeyyuṃ.
|
Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy,
khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lư suông,
tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp
ấy Như Lai đă tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết. Và chính
những pháp ấy, những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới
nói đến.
|
|
72. Santi bhikkhave eke
samaṇabrāhmaṇā aparantakappikā aparantānudiṭṭhino aparantaṃ
ārabbha anekavihitāni adhivuttipadāni abhivadanti
catucattārīsāya vatthūhi. Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma
kimārabbha aparantakappikā aparantānudiṭṭhino aparantaṃ ārabbha
anekavihitāni adhivuttipadāni abhivadanti catucattārīsāya
vatthūhi? |
37.
Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn luận bàn về tương
lai, chấp kiến về tương lai, y cứ về tương lai, đề xướng nhiều ư
kiến sai khác với bốn mươi bốn luận chấp. Và những vị Sa-môn,
Bà-la-môn này, y chỉ ǵ, căn cứ ǵ, luận bàn về tương lai, chấp
kiến về tương lai, y cứ về tương lai đề xướng nhiều ư kiến sai
khác với bốn mươi bốn luận chấp?
|
|
73. Santi bhikkhave eke
samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā saññīvādā uddhamāghātanā saññiṃ
attānaṃ paññāpenti soḷasahi vatthūhi. Te ca bhonto
samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha uddhamāghātanikā saññīvādā
uddhamāghātanā saññiṃ attānaṃ paññāpenti soḷasahi vatthūhi?
|
38.
Này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương hữu tưởng
sau khi chết, chấp bản ngă có tưởng sau khi chết với mười sáu
luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ ǵ, căn cứ ǵ,
chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, với mười sáu luận chấp?
|
|
Rūpī attā hoti arogo parammaraṇā
saññī ’ti naṃ paññāpenti. Arūpī attā hoti arogo parammaraṇā
saññī ’ti naṃ paññāpenti. Rūpī ca arūpī ca attā hoti ―pe― Neva
rūpī na rūpī attā hoti ―pe― Antavā attā hoti ―pe― Anantavā attā
hoti ―pe― Antavā ca anantavā ca attā hoti ―pe― Nevantavā[1]
nānantavā ca attā hoti ―pe― Ekattasaññī attā hoti ―pe―
Nānattasaññī attā hoti ―pe― Parittasaññī attā hoti ―pe―
Appamāṇasaññī attā hoti ―pe― Ekantasukhī attā hoti ―pe―
Ekantadukkhī attā hoti ―pe― Sukhadukkhī attā hoti ―pe―
Adukkhamasukhī attā hoti arogo parammaraṇā saññī ’ti naṃ
paññāpenti.
------------------------
[1] nevantavā ca - katthaci. |
Những vị này chủ trương : "Bản
ngă có sắc, không có bệnh, sau khi chết có tưởng". Chúng chủ
trương : "Bản ngă có sắc và cũng không có sắc ...", "Bản ngă
cũng không có sắc và cũng không không có sắc ...", "Bản ngă là
hữu biên...", "Bản ngă là vô biên ...", "Bản ngă là hữu biên và
vô biên", "Bản ngă cũng không hữu biên và cũng không vô biên
...", "Bản ngă là nhất tưởng ...", "Bản ngă là dị tưởng ...". "Bản
ngă là thiểu tưởng ...", "Bản ngă là vô lượng tưởng ...", "Bản
ngă là thuần lạc ...", "Bản ngă là thuần khổ ...", "Bản ngă là
khổ lạc". Chúng chủ trương : "Bản ngă là không khổ không lạc,
không có bệnh, sau khi chết có tưởng".
|
|
TTPV tập 10, trang 56 |
|
|
74. Imehi kho te bhikkhave
samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā saññīvādā uddhamāghātanā saññiṃ
attānaṃ paññāpenti soḷasahi vatthūhi. |
39. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn,
Bà-la-môn này chủ trương hữu tưởng sau khi chết, chấp bản ngă có
tưởng sau khi chết với mười sáu luận chấp.
|
|
Ye hi keci bhikkhave samaṇā vā
brāhmaṇā vā uddhamāghātanikā saññīvādā uddhamāghātanā saññiṃ
attānaṃ paññāpenti sabbe te imeheva soḷasahi vatthūhi, etesaṃ vā
aññatarena. Natthi ito bahiddhā. |
Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay
Bà-la-môn này chủ trương Hữu tưởng luận sau khi chết, chúng sẽ
chấp cả mười sáu luận chấp trên, hay một trong những luận chấp
trên, ngoài ra không có luận chấp nào khác nữa.
|
|
75. Tayidaṃ bhikkhave tathāgato
pajānāti “Ime diṭṭhiṭṭhānā evaṃ gahitā evaṃ parāmaṭṭhā
evaṃgatikā bhavissanti evaṃabhisamparāyā ”ti. Tañca tathāgato
pajānāti tato ca uttaritaraṃ pajānāti. Tañca pajānanaṃ na
parāmasati. Aparāmasato cassa paccattaññeva nibbuti viditā.
Vedanānaṃ samudayañca atthagamañca assādañca ādīnavañca
nissaraṇañca yathābhūtaṃ viditvā anupādā vimutto bhikkhave
tathāgato. |
40. Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ
tri như thế này : "Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, sẽ đưa
đến cơi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy". Như
Lai tuệ tri như vậy, Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không
chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sơ tri ấy, nội tâm được
tịch tịnh. Ngài như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của
các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ
tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn,
không có chấp thủ.
|
|
76. Ime kho te bhikkhave dhammā
gambhīrā duddasā duranubodhā santā paṇītā atakkāvacarā nipuṇā
paṇḍitavedanīyā, ye tathāgato sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedeti,
yehi tathāgatassa yathābhuccaṃ vaṇṇaṃ sammā vadamānā vadeyyuṃ.
|
Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo,
là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu,
vượt ngoài tầm của luận lư suông, tế nhị, chỉ những người có trí
mới có thể phân biệt. Những pháp ấy Như Lai đă tự chứng tri,
giác ngộ và truyền thuyết. Và chính những pháp ấy, những ai như
thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
|
|
Dutiyabhāṇavāraṃ.
|
Tụng phẩm thứ ba.
|
|
77. Santi bhikkhave eke
samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā asaññīvādā uddhamāghātanā
asaññiṃ attānaṃ paññāpenti aṭṭhahi vatthūhi. Te ca bhonto
samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha uddhamāghātanikā asaññīvādā
uddhamāghātanā asaññiṃ attānaṃ paññāpenti aṭṭhahi vatthūhi?
|
1. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn,
Bà-la-môn, chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngă
không có tưởng sau khi chết với tám luận chấp. Và những Sa-môn,
Bà-la-môn này, y chỉ ǵ, căn cứ ǵ, chủ trương Vô tưởng luận sau
khi chết, chấp bản ngă không có tưởng sau khi chết với tám luận
chấp?
|
|
78. ‘Rūpī attā hoti arogo
parammaraṇā asaññī ’ti naṃ paññāpenti. ‘Arūpī attā hoti ―pe―
‘Rūpī ca arūpī ca attā hoti ―pe― ‘Neva rūpi nārūpī attā hoti ―pe―
‘Antavā attā hoti ―pe― ‘Anantavā attā hoti ―pe― ‘Antavā ca
anantavā ca attā hoti ―pe― ‘Nevantavā nānantavā attā hoti arogo
parammaraṇā asaññī ’ti naṃ paññāpenti. |
2. Những vị này chủ trương : "Bản
ngă có sắc, không có bệnh, sau khi chết không có tưởng", "Bản
ngă không có sắc ...", "Bản ngă có sắc và cũng không có sắc
...", "Bản ngă không có sắc và cũng không không có sắc ...", "Là
hữu biên ...", "Là vô biên ...", "Là hữu biên và vô biên ...".
Các vị này chấp bản ngă là phi hữu biên và phi vô biên, không có
bệnh, sau khi chết không có tưởng.
|
|
TTPV tập 10, trang 58 |
|
|
79. Imehi kho te bhikkhave
samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā asaññīvādā uddhamāghātanā
asaññiṃ attānaṃ paññāpenti aṭṭhahi vatthūhi. Ye hi keci
bhikkhave samaṇā vā brāhmaṇā vā uddhamāghātanikā asaññīvādā
uddhamāghātanā asaññiṃ attānaṃ paññāpenti, sabbe te imeheva
aṭṭhahi vatthūhi, etesaṃ vā aññatarena. Natthi ito bahiddhā.
|
3.
Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn này chủ trương Vô tưởng
luận sau khi chết, chấp bản ngă không có tưởng sau khi chết với
tám luận chấp. - Này các Tỷ-kheo, nếu có những Sa-môn hay
Bà-la-môn nào chủ trương Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản
ngă không có tưởng sau khi chết, chúng sẽ chấp cả tám luận chấp
trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra không có luận
chấp nào khác nữa. |
|
80. Tayidaṃ bhikkhave tathāgato
pajānāti: ―pe― yehi tathāgatassa yathābhuccaṃ vaṇṇaṃ sammā
vadamānā vadeyyuṃ. |
4.
Này các Tỷ-kheo. Như Lai tuệ tri như thế này : "Những sở kiến ấy,
chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến những cơi thú
như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy". Như Lai tuệ tri
như vậy. Ngài lại tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri
ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài
như thật tuệ tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt,
những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này
các Tỷ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp
thủ.
Những pháp ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy,
khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lư suông,
tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp
ấy Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết; và chính
những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới
nói đến
|
|
81. Santi bhikkhave eke
samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā nevasaññīnāsaññīvādā
uddhamāghātanā nevasaññīnāsaññiṃ attānaṃ paññāpenti aṭṭhahi
vatthūhi. Te ca bhonto samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha
uddhamāghātanikā nevasaññīnāsaññīvādā uddhamāghātanā
nevasaññīnāsaññiṃ attānaṃ paññāpenti aṭṭhahi vatthūhi? |
5. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn,
Bà-la-môn chủ trương Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng luận sau khi
chết, chấp bản ngă phi hữu tưởng phi vô tưởng với tám luận chấp.
Và những Sa-môn, Bà-la-môn này, y chỉ ǵ, căn cứ ǵ, chủ trương
Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng luận sau khi chết, chấp bản ngă phi
hữu tưởng phi vô tưởng với tám luận chấp?
|
|
82. ‘Rūpī attā hoti arogo
parammaraṇā nevasaññī nāsaññī ’ti naṃ paññāpenti. ‘Arūpī attā
hoti arogo parammaraṇā nevasaññī nāsaññī ’ti naṃ paññāpenti.
‘Rūpī ca arūpī ca attā hoti arogo parammaraṇā nevasaññī nāsaññī
’ti naṃ paññāpenti. ‘Nevarūpī nārūpī attā hoti arogo parammaraṇā
nevasaññī nāsaññī ’ti naṃ paññāpenti. ‘Antavā attā hoti arogo
parammaraṇā nevasaññī nāsaññī ’ti naṃ paññāpenti. ‘Anantavā attā
hoti arogo parammaraṇā nevasaññī nāsaññī ’ti naṃ paññāpenti.
‘Antavā ca anantavā ca attā hoti arogo parammaraṇā nevasaññī
nāsaññī ’ti naṃ paññāpenti. ‘Nevantavā nānantavā attā hoti arogo
parammaraṇā nevasaññī nāsaññī ’ti naṃ paññāpenti.
|
6.
Những vị này chấp: "Bản ngă có sắc, không có bệnh, sau khi chết
phi hữu tưởng phi vô tưởng... ", "Bản ngă là vô sắc... ", "Bản
ngă có sắc và cũng không có sắc... ", "Bản ngă là phi hữu sắc và
cũng phi vô sắc... ", "Bản ngă là hữu biên... ", "Bản ngă là vô
biên... ", "Bản ngă là hữu biên và vô biên... ". |
|
83. Imehi kho te bhikkhave
samaṇabrāhmaṇā uddhamāghātanikā nevasaññīnāsaññīvādā
uddhamāghātanā nevasaññīnāsaññiṃ attānaṃ paññāpenti aṭṭhahi
vatthūhi. Ye hi keci bhikkhave samaṇā vā brāhmaṇā vā
uddhamāghātanikā nevasaññīnāsaññīvādā uddhamāghātanā
nevasaññīnāsaññiṃ attānaṃ paññāpenti, sabbe te imeheva aṭṭhahi
vatthūhi, etesaṃ vā aññatarena. Natthi ito bahiddhā.
|
7.
Những vị này chấp rằng. Bản ngă là phi hữu biên và cũng phi vô
biên, không có bệnh, sau khi chết phi hữu tưởng phi vô tưởng,
với tám luận chấp. Này các Tỷ-kheo, nếu có Sa-môn hay Bà-la-môn
nào, chủ trương phi hữu tưởng phi vô tưởng, chúng sẽ chấp cả tám
luận chấp trên, hay một trong những luận chấp trên, ngoài ra
không có luận chấp nào khác nữa. |
|
84. Tayidaṃ bhikkhave tathāgato
pajānāti: ―pe― yehi tathāgatassa yathābhuccaṃ vaṇṇaṃ sammā
vadamānā vadeyyuṃ. |
8.
Này các Tỷ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: "Những sở kiến ấy,
chấp trước như vậy, sẽ đưa đến những cơi thú như vậy, sẽ tác
thành những định mạng như vậy". Như Lai tuệ tri như vậy. Ngài
tuệ tri hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không
chấp trước sở tri ấy, nội tâm được tịch tịnh. Ngài như thật tuệ
tri sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy
hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ tuệ tri vậy, này các Tỷ-kheo,
Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ. Những pháp
ấy, này các Tỷ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng,
tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lư suông, tế nhị,
chỉ những người có trí mới có thể nhận biết. Những pháp ấy Như
Lai tự chứng tri, giác ngộ và truyền thuyết; và chính những pháp
ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
|
|
TTPV tập 10, trang 60 |
|
|
85. Santi bhikkhave eke
samaṇabrāhmaṇā ucchedavādā sato sattassa ucchedaṃ vināsaṃ
vibhavaṃ paññāpenti sattahi vatthūhi. Te ca bhonto
samaṇabrāhmaṇā kimāgamma kimārabbha ucchedavādā sato sattassa
ucchedaṃ vināsaṃ vibhavaṃ paññāpenti sattahi vatthūhi? |
9.
Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương Đoạn
diệt luận, chấp trước sự đoạn diệt, sự tiêu thất, sự hủy hoại
của loài hữu t́nh với bảy luận chấp. Và những Sa-môn, Bà-la-môn
này, y chỉ ǵ, căn cứ ǵ, chấp trước sự đoạn diệt, sự tiêu thất,
sự hủy hoại của loài hữu t́nh với bảy luận chấp?
|
|
86. Idha bhikkhave ekacco samaṇo
vā brāhmaṇo vā evaṃvādī hoti evaṃdiṭṭhī: ‘Yato kho bho ayaṃ attā
rūpī cātummahābhūtiko mātāpettikasambhavo kāyassa bhedā
ucchijjati vinassati na hoti parammaraṇā. Ettāvatā kho bho ayaṃ
attā sammā samucchinno hotī ’ti. Ittheke sato sattassa ucchedaṃ
vināsaṃ vibhavaṃ paññāpenti. |
10.
Này các Tỷ-kheo, có Sa-môn hoặc Bà-la-môn chủ trương lư thuyết
và ư kiến: "V́ bản ngă này có sắc, do bốn đại hợp thành, do cha
mẹ sanh ra, khi thân hoại bị hủy nát tiêu diệt, sau khi chết
không c̣n nữa, nên bản ngă này như thế hoàn toàn đoạn diệt". Như
vậy một số người chủ trương sự đoạn diệt, sự tiêu thất và sự hủy
hoại của loài hữu t́nh.
|
|
87. Tamañño evamāha: ‘Atthi kho
bho eso attā yaṃ tvaṃ vadesi neso natthīti vadāmi. No ca kho bho
ayaṃ attā ettāvatā sammā samucchinto hoti. Atthi kho bho añño
attā dibbo rūpī kāmāvacaro kabaliṅkārā hārabhakkho, taṃ tvaṃ na
jānāsi na passasi. Tamahaṃ jānāmi passāmi. So kho bho attā yato
kāyassa bhedā ucchijjati vinassati na hoti parammaraṇā. Ettāvatā
kho bho ayaṃ attā sammā samucchinno hotī ’ti. Ittheke sato
sattassa ucchedaṃ vināsaṃ vibhavaṃ paññāpenti. |
11.
Một vị khác lại nói: "Này ông, thật có bản ngă như ông nói. Tôi
không nói bản ngă ấy không có, nhưng bản ngă ấy như thế không bị
hoàn toàn đoạn diệt. Lại c̣n một bản ngă khác có thiên tánh, có
sắc, thuộc dục giới, ăn các đồ ăn đoàn thực. Bản ngă ấy ông
không biết, ông không thấy. Bản ngă ấy tôi biết, tôi thấy. Bản
ngă ấy khi thân hoại, bị hủy nát tiêu diệt, sau khi chết không
c̣n nữa, nên bản ngă ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt". Như vậy có
một số người chủ trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của
loài hữu t́nh.
|
|
88. Tamañño evamāha: ‘Atthi kho
bho eso attā yaṃ tvaṃ vadesi. Na so natthīti vadāmi. No ca kho
bho ayaṃ attā ettāvatā sammā samucchinno hoti. Atthi kho bho
añño attā dibbo rūpī manomayo sabbaṅgapaccaṅgī ahīnindriyo. Taṃ
tvaṃ na jānāsi na passasi. Tamahaṃ jānāmi passāmi. So kho bho
attā yato kāyassa bhedā ucchijjati vinassati na hoti parammaraṇā.
Ettāvatā kho bho ayaṃ attā sammā samucchinno hotī ’ti. Ittheke
sato sattassa ucchedaṃ vināsaṃ vibhavaṃ paññāpenti. |
12.
Một vị khác lại nói: "Này ông, thật có bản ngă ấy như ông nói.
Tôi không nói bản ngă ấy không có. Nhưng bản ngă ấy như thế
không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại c̣n một bản ngă khác có thiên
tánh, có sắc, do ư tạo thành, mọi chi tiết tay chân lớn nhỏ đều
đầy đủ, không khuyết một căn nào. Bản ngă ấy ông không biết, ông
không thấy. Bản ngă ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngă ấy khi thân
hoại bị hủy nát, tiêu diệt, sau khi chết không c̣n nữa, nên bản
ngă ấy như thế hoàn toàn đoạn diệt". Như vậy có một số người chủ
trương sự đoạn diệt, tiêu thất và hủy hoại của loài hữu t́nh.
|
|
89. Tamañño evamāha: ‘Atthi kho
bho eso attā yaṃ tvaṃ vadesi. Neso natthīti vadāmi. No ca kho
bho ayaṃ attā ettāvatā sammā samucchinno hoti. Atthi kho bho
añño attā sabbaso rūpasaññānaṃ samatikkamā paṭighasaññānaṃ
atthagamā nānāttasaññānaṃ amanasikārā ananto ākāsoti
ākāsānañcāyatanūpago. Taṃ tvaṃ na jānāsi na passasi. Tamahaṃ
jānāmi passāmi. So kho bho attā yato kāyassa bhedā ucchijjati
vinassati na hoti parammaraṇā. Ettāvatā kho ayaṃ attā sammā
samucchinno hotī ’ti. Ittheke sato sattassa ucchedaṃ vināsaṃ
vibhavaṃ paññāpenti. |
13.
Một vị khác lại nói: "Này ông, thật có bản ngă ấy như ông nói.
Tôi không nói bản ngă ấy không có. Nhưng bản ngă ấy như thế
không bị hoàn toàn đoạn diệt. Lại c̣n một bản ngă khác vượt
ngoài tất cả sắc tưởng, diệt trừ các tưởng chống đối, không ức
niệm các dị tưởng, nhận hiểu hư không là vô biên. Đạt đến không
vô biên xứ. Bản ngă ấy ông không biết, ông không thấy. Bản ngă
ấy tôi biết, tôi thấy. Bản ngă ấy khi thân hoại, bị hủy nát tiêu
diệt, sau khi chết không c̣n nữa, nên bản ngă ấy như thế hoàn
toàn đoạn diệt". Như vậy có một số người chủ trương sự đoạn diệt,
tiêu thất và hủy hoại của loài hữu t́nh.
(c̣n tiếp)
|
| <Trang Trước> |
<Trang Kế> |
|